Đề Tài: Tình hình xuất khẩu gỗ của Việt Nam năm 2011 - Pdf 11

Họ và tên: Bùi Thị Vân Lớp:Kinh tế Ngoại Thương K11A
 
Bài Tập Lớn
Môn Kinh Tế Ngoại Thương
Đề Tài: Tình hình xuất khẩu gỗ của Việt Nam năm 2011
Mục Lục
Chương I: Tổng Quan Tình Hình Xuất Khẩu Gỗ Việt Nam năm 2011.
1. Tình hình chung.
2. Các yếu tố ảnh hưởng.
3. Cơ chế quản lí và chính sách ngoại thương.
Chương II: Thực Trạng Xuất Khẩu Gỗ Của Việt Nam năm 2011.
I. Tình hình xuất khẩu gỗ trong Quí I năm 2011.
1. Thị trường chính xuất khẩu.
2. Kim ngạch trong quí.
3. Hiệu quả.
II. Tình hình xuất khẩu gỗ trong Quí II năm 2011.
1. Thị trường chính xuất khẩu.
2. Kim ngạch trong quí.
3. Hiệu quả.
III. Tình hình xuất khẩu gỗ trong Quí III năm 2011.
1. Thị trường chính xuất khẩu.
1
2. Kim ngạch trong quí.
3. Hiệu quả.
IV. Tình hình xuất khẩu gỗ trong Quí IV năm 2011.
1. Thị trường chính xuất khẩu.
2. Kim ngạch trong quí.
3. Hiệu quả.
Chương III: Đánh Giá Và Đề Xuất Giải Pháp.
1. Thành tựu.
2. Hạn chế.

Theo số liệu thống kê từ Hải Quan Việt Nam, kim ngạch xuất khẩu tháng 11 năm
2011 đạt 350 triệu USD, đưa kim ngạch xuất khẩu 11 tháng năm 2011 đạt 3,5 tỷ USD,
tăng 15% so với cùng kỳ năm trước.Trong 38 thị trường có số liệu thống kê, kim
ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam tại nhiều thị trường có xu hướng
3
giảm hơn so với cùng kỳ 11 tháng năm 2010. Giảm mạnh phải kể đến các thị trường
như Thái Lan (-48,56%), Hungari(-29,89%), Ucraina(-23,38%).
Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc vẫn tiếp tục là ba thị trường có kim ngạch xuất khẩu
cao tính đến hết tháng 11 năm 2011,song Nga, Ấn Độ là hai quốc gia có tỷ lệ tăng
trưởng cao hơn 100% so với cùng kỳ 11 tháng năm 2010,cụ thể lần lượt là 136,7% và
120,53%.
Để đẩy mạnh xuất khẩu gỗ, doanh nghiệp Việt Nam cần thường xuyên thay đổi mẫu
mã, tìm hiểu nhu cầu thị trường thường xuyên để có thể cập nhật nhu cầu doanh
nghiệp và xuất khẩu đúng cái người tiêu dùng cần.
Đối với thị trường trong nước, năm 2011 là năm khó khăn cho các doanh nghiệp đạt
chỉ tiêu xuất khẩu là 4 tỷ USD do chi phí đầu vào quá cao.
2. Các yếu tố ảnh hưởng.
• Điều kiện tự nhiên và nguồn nguyên liệu gỗ.
• Vị trí địa lý:
Việt Nam có vị trí trí địa lý rất thuận tiện trong lưu thông hàng hóa với các nước trong
khu vực cũng như trên thế giới cả bằng đường bộ, đường hàng không và đặc biệt bằng
đường biển. Với bờ biển chạy dài suốt chiều dọc đất nước, có nhiều hải cảng lớn phân
bố ở cả ba miền, như: cảng Hải Phòng, cảng Đà Nẵng, cảng Quy Nhơn (Bình Định),
cảng Sài Gòn (TP. Hồ Chí Minh)… là điều kiện thuận cho xuất nhập khẩu hàng hóa
nói chung, nguyên liệu gỗ và sản phẩm gỗ nói riêng.
• Khả năng đáp ứng nguồn nguyên liệu liệu gỗ.
4
Mặc dù có tiềm năng về nguyên liệu gỗ nhưng hiện tại và khoảng 10 năm tiếp theo,
Việt Nam vẫn phải tiếp tục nhập khẩu nguyên liệu gỗ phục vụ chế biến.
• Bối cảnh kinh tế - xã hội.

dồi dào nhưng lại yếu về chất lượng. Lao động ở Việt Nam được đánh giá là khéo
léo, thông minh, sáng tạo, tiếp thu nhanh những kỹ thuật và công nghệ hiện đại
được chuyển giao từ bên ngoài vào, nhưng thiếu tính chuyên nghiệp.
3. Cơ chế quản lí và chính sách ngoại thương.
• Nhà nước có thể tạo cơ chế cho các doanh nghiệp đầu tư trồng rừng. Chính phủ
đầu tư giải pháp KH-CN để nghiên cứu, tuyển chọn các giống cây cho năng
suất cao, chất lượng tốt, có đặc tính phù hợp với sản xuất công nghiệp, đáp ứng
nhu cầu sử dụng nguyên liệu trong nước và xuất khẩu.
• Các doanh nghiệp cần tìm mọi giải pháp nhằm giảm chi phí sản xuất, hạ giá
thành gồm giảm chi phí điện, nước, xăng dầu, chi phí hành chính, và nhất là
giảm mức tiêu hao nguyên liệu hơn 1 m3 sản phẩm. Ðẩy mạnh việc thâm nhập
các thị trường theo hiệp định khu vực mậu dịch tự do (FTA) để tận dụng các ưu
đãi về thuế và mở cửa thị trường. Tìm những cơ hội mới tại các thị trường đang
6
gặp khó khăn về thiên tai hoặc thị hiếu của người tiêu dùng thay đổi từ các loại
sản phẩm cao cấp xuống loại trung bình. Các DN cũng nỗ lực giảm chi phí bán
hàng (quảng cáo, tiếp thị, bao bì) hiện đang chiếm tới 10 đến 13% giá thành sản
phẩm.
• Để phát triển ổn định,lâu dài và bền vững thì các doanh nghiệp sản xuất gỗ nên
chú trọng phát triển thị trường ở trong nước. Doanh nghiệp nên liên kết lại để
xây dựng chuỗi phân phối, hoặc hình thành các công ty thương mại lớn có năng
lực nắm bắt được thị hiếu, thị trường, sức tiêu thụ rồi đặt hàng lại các DN sản
xuất với số lượng lớn.
• Hướng tới giảm dần nguồn gỗ nhập khẩu.
• Nhà nước cũng cần kiểm soát một cách chặt chẽ các nguồn gỗ.
• Tận dụng tối đa nguồn nguyên liệu trong nước.
• Cần giảm nhập khẩu và tăng chất lượng gỗ.
Chương II: Thực Trạng Xuất Khẩu Gỗ Của Việt Nam năm 2011.
I. Tình hình xuất khẩu gỗ trong Quí I năm 2011.
1. Thị trường chính xuất khẩu.

Tinh thần chung của những đạo luật này đòi hỏi doanh nghiệp phải có chuỗi hành
trình truy xét nguồn gốc nguyên liệu gỗ từ khâu khai thác, vận chuyển, chế biến đến
xuất khẩu. Hiện, Mỹ đã áp dụng đạo luật Lacey, còn châu Âu cũng sẽ áp dụng Flegt
vào tháng 3/2013.
Sản phẩm gỗ của Việt Nam tuy được xuất khẩu nhiều, song theo Cục Chế biến
thương mại nông- lâm- thủy sản và nghề muối, 80% nguyên liệu phải nhập khẩu, thị
trường trong nước chỉ đáp ứng 20% nhu cầu, chiếm khoảng 1 tỷ USD/năm.
Theo Hiệp hội gỗ Việt Nam, doanh nghiệp sản xuất và chế biến gỗ hàng năm vẫn phải
nhập nguyên liệu từ khoảng 600 nguồn khác nhau của 26 quốc gia, vùng lãnh thổ,
trong đó, có cả các quốc gia được đánh giá rủi ro cao về vi phạm những điều khoản
của Lacey hiện tại và Flegt sau này. Việc kiểm soát nguồn gốc từ 600 đầu mối này
thực sự là bài toán khó.
 Và đây là kết quả xuất khẩu gỗ của Việt Nam trong quí I/2011:
Thống kê thị trường xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ quí I/2011
ĐVT: USD

Thị
trường

KNXK
T3/2011

KNXK
3T/2011

% tăng
giảm so
với
T2/2011


Đan Mạch 2.671.059 5.614.173 184,92 -0,06 -6,49
Xingapo 2.534.695 5.114.814 628,79 667,11 420,20
Malaixia 2.381.787 5.256.971 169,56 61,08 33,79
10
Tây Ban
Nha
2.369.180 8.267.524 31,10 -17,94 0,13
Thổ Nhĩ
Kỳ
1.786.140 3.664.545 420,31 191,54 75,41
Hy Lạp 1.305.740 3.365.488 244,50 7,08 5,09
Ba Lan 1.001.330 2.921.945 26,61 -34,87 -35,15
Nauy 910.447 2.555.583 84,04 53,04 23,51
Tiểu
Vương
quốc A rập
Thống nhất
802.877 1.683.203 -63,38 34,78 0,48
Phần Lan 783.308 2.998.553 17,84 -39,58 -26,10
Bồ Đào
Nha
441.689 1.029.117 200,28 16,27 5,29
Áo 433.463 1.684.149 88,87 13,89 13,59
Nga 413.684 1.621.118 18,56 99,81204,53
Thuỵ Sỹ 321.292 1.660.937 20,07 101,35 54,91
TháiLan 304.088 640.099 102,65 -75,94 -64,20
Nam Phi 205.731 492.374 171,74 3,26 -18,73
A rập Xêut 200.044 464.382 88,58 -32,02 -54,39
Ucraina 128.260 231.312 41,12 -15,77 -10,77
11

Kim ngạch xuất khẩu ghế khung gỗ của Việt Nam trong tháng 5/2011 đạt 35,9 triệu
USD, giảm 24,7% so với tháng trước. Như vậy đây là tháng thứ 2 liên tiếp kim ngạch
xuất khẩu ghế khung gỗ của Việt Nam giảm mạnhKim ngạch xuất khẩu các mặt hàng
lâm sản chính và đồ gỗ của Việt Nam trong tháng 6 ước đạt 350 triệu USD đưa tổng
kim ngạch xuất khẩu 6 tháng đầu năm ước xấp xỉ 1,9 tỉ USD, tăng 16,8% so với cùng
kỳ năm trước. Trong đó, gỗ và sản phẩm gỗ ước đạt xấp xỉ 1,8 tỉ USD, tăng 18%; sản
phẩm mây tre, cói thảm ước đạt 99 triệu USD giảm nhẹ so với cùng kỳ năm trước.
Như vậy so với tốc độ tăng trưởng của quý trước, tốc độ tăng trưởng của quý này đã
cải thiện hơn đáng kể.
3.Kết quả.
Theo số liệu thống kê 6 tháng đầu năm 2011, diện tích rừng trồng mới tập trung của
cả nước đạt 53,8 nghìn ha, bằng 68,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: trồng mới
rừng phòng hộ, đặc dụng đạt 2,9 nghìn ha, bằng 21,1% so với cùng kỳ, trồng mới
rừng sản xuất đạt 50,9 nghìn ha, bằng 78,6% so với cùng kỳ năm trước.
Và đây là giá trị xuất nhập khẩu gỗ và sản phẩm gỗ trong 5 tháng đầu năm 2011
(nguồn: CIS)

13
Tên nước Xuất khẩu Tên nước Nhập khẩu

Giá trị
(1000USD) Thị phần (%)
Giá trị
(1000USD) Thị phần (%)
Hoa Kỳ 505.048 34,45Lào 129.483 26,71
Trung Quốc222.806 15,2Trung Quốc 57.110 11,78
Nhật Bản 205.781 14,04Hoa Kỳ 54.480 11,24
Hàn Quốc 84.837 5,79Malaysia 36.488 7,53
Anh 76.725 5,23Thái Lan 26.303 5,43
Đức 51.743 3,53Niuzilan 21.474 4,43

Năm 2010, kim ngạch xuất khẩu gỗ đạt 3,4 tỷ USD. Kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản
phẩm gỗ 9 tháng đầu năm 2011 đạt 2,8 tỷ USD, tăng 16,3% so với 9 tháng năm trước.
15
Giá trị gỗ và sản phẩm từ gỗ nhập khẩu tháng 9 ước đạt 135 triệu USD, đưa tổng kim
ngạch nhập khẩu 9 tháng đầu năm lên xấp xỉ 1 tỷ USD, tăng 22,6% so cùng kỳ năm
trước.
3.Kết quả.
Theo Tổng cục Thống kê, sản lượng gỗ khai thác 9 tháng đạt 3066 nghìn m3, tăng
11,9%. Khai thác lâm sản chín tháng đạt khá, đặc biệt là khai thác gỗ do các địa
phương tập trung khai thác trên diện tích rừng trồng sản xuất đến tuổi cho thu hoạch.
Một số tỉnh có sản lượng gỗ khai thác tăng cao là: Thừa Thiên - Huế 149,8 nghìn m3,
tăng 259,9% so với cùng kỳ năm trước; Quảng Ninh 190 nghìn m3, tăng 181,5%;
Đồng Nai 88,3 nghìn m3, tăng 51,8%; Quảng Ngãi 171 nghìn m3, tăng 10,3%; Tuyên
Quang 162,2 nghìn m3, tăng 8%. Sản xuất lâm nghiệp trong chín tháng năm nay bị
ảnh hưởng bởi thời tiết rét đậm kéo dài tại thời điểm đầu năm ở các tỉnh phía Bắc và
khô hạn tại khu vực miền Trung nên tiến độ trồng rừng chậm so với năm trước. Diện
tích rừng trồng mới tập trung cả nước chín tháng ước tính đạt 151,5 nghìn ha, bằng
92,4% cùng kỳ năm 2010.
Thị trường xuất khẩu gỗ và sản phẩm tháng 9, 9 tháng năm 2011
ĐVT: USD
Thị
trường
KNXK
T9/2011
KNXK
9T/2011
KNXK
9T/2010
%
tăng

Italia 1.618.444 24.521.027 25.391.950 -3,48 -10,67 -3,43
Bỉ 2.051.999 24.469.244 22.780.518 -11,32 30,31 7,41
ẤnĐộ 4.986.514 22.901.296 10.369.444 99,17 534,94 120,85
Xingapo 2.980.595 17.506.626 7.450.671 10,10 594,63 134,97
Thuỵ Điển 877.183 16.227.534 16.738.732 -24,06 -29,02 -3,05
17
Tây Ban
Nha
843.117 13.469.944 14.240.377 -35,29 -10,13 -5,41
Đan Mạch 831.035 10.561.764 11.287.755 82,52 -8,88 -6,43
Niuzilan 1.467.687 9.223.841 -15,25 * *
Tiểu
Vương
quốc A rập
Thống nhất
652.330 6.812.093 5.385.783 -30,99 3,79 26,48
Nauy 574.149 6.132.699 3.998.856 91,92 81,52 53,36
Thổ Nhĩ
Kỳ
283.727 5.658.077 5.179.770 -5,71 36,28 9,23
Ba Lan 597.406 5.436.440 6.782.398 -8,42 -6,71 -19,84
Phần Lan 197.599 4.317.323 5.840.007 32,03 -4,57 -26,07
Áo 571.864 4.210.524 4.060.599 39,54 -4,71 3,69
Hy Lạp 108.225 4.066.472 4.812.150 126,54 105,53 -15,50
A rập Xêut 619.770 3.760.094 3.180.487 -23,35 152,86 18,22
Nga 310.976 3.574.815 1.482.465 16,72 109,74 141,14
TháiLan 458.313 2.532.963 5.532.168 -10,85 196,87 -54,21
Thuỵ Sỹ 23.193 2.491.181 1.468.028 -50,41 * 69,70
Nam Phi 436.833 2.369.117 2.085.218 23,30 -7,37 13,61
Bồ Đào 1.995.804 2.391.185 * * -16,53

gây ra một cuộc suy thoái mới cho châu Âu sẽ khiến nhu cầu cho các sản phẩm công
nghiệp rừng sẽ đi xuống do sự suy yếu của tăng trưởng kinh tế.
Tuy vậy nhưng ngành gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam trong quí này đang gặt hái
những thắng lợi lớn về giá trị kim ngạch.
Theo số liệu thống kê từ Hải Quan Việt Nam, kim ngạch xuất khẩu tháng 11 năm
2011 đạt 350 triệu USD, đưa kim ngạch xuất khẩu 11 tháng năm 2011 đạt 3,5 tỷ USD,
tăng 15% so với cùng kỳ năm trước.Trong 38 thị trường có số liệu thống kê, kim
ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam tại nhiều thị trường có xu hướng
giảm hơn so với cùng kỳ 11 tháng năm 2010. Giảm mạnh phải kể đến các thị trường
như Thái Lan (-48,56%), Hungari(-29,89%), Ucraina(-23,38%).
Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc vẫn tiếp tục là ba thị trường có kim ngạch xuất khẩu
cao tính đến hết tháng 11 năm 2011,song Nga, Ấn Độ là hai quốc gia có tỷ lệ tăng
trưởng cao hơn 100% so với cùng kỳ 11 tháng năm 2010,cụ thể lần lượt là 136,7% và
120,53%.
Theo số liệu thống kê của Trung tâm Tin học và Thống kê, kim ngạch xuất khẩu các
sản phẩm gỗ và gỗ tháng 12 đạt 355 triệu USD, đưa tổng giá trị xuất khẩu của cả
20
năm2011 đạt 3,9 tỷ USD, tăng so với cùng kỳ là 13,4%. Phần lớn các thị trường đều
tăng trưởng khá về kim ngạch. Trong đó, ba thị trường lớn nhất là Hoa Kỳ, Nhật Bản,
và Trung Quốc.
4. Kết quả.
Kim ngạch cả năm của gỗ Việt Nam đã đạt tới mức 4 tỷ USD, tức vượt xa thành tích
năm 2010 - khi lần đầu tiên Việt Nam đạt mức kim ngạch xuất khẩu gỗ 3,4 tỷ USD,
vươn lên đứng đầu khu vực Đông Nam Á và thứ 10 thế giới.
Chương III: Đánh Giá Và Đề Xuất Giải Pháp.
1. Thành tựu.
- Tính đến 2011 đồ gỗ Việt Nam đã xuất khẩu sang tới hơn 120 quốc gia, vùng
lãnh thổ, thị trường xuất khẩu gỗ lớn nhất Việt Nam là Mỹ, chiếm khoảng 40%,
thị trường châu Âu khoảng 27%, Nhật Bản khoảng 12-15%. Giúp đồ gỗ Việt
Nam phát triển và bành trướng ra thị trường nước ngoài.

2012, doanh nghiệp gỗ còn phải gánh thêm đạo luật FLEGT của EU có hiệu lực,
cũng yêu cầu các lô đồ gỗ nhập vào EU phải minh bạch, rõ ràng về nguồn gốc gỗ
nguyên liệu mới cho nhập khẩu.
- Nguồn nhân lực cho công nghiệp chế biến gỗ còn yếu. Lao động có trình độ đại
học còn ít, chỉ đạt dưới 10%.
-Kết quả khảo sát cho thấy, 100 % dây chuyền sản xuất của các doanh nghiệp được
khảo sát là bán tự động. Khoảng 30 % trong số đó trình độ công nghệ đạt tiên tiến,
còn lại 70% có trình độ công nghệ ở mức trung bình.
22
-Bên cạnh đó, mẫu mã hành hóa còn đơn điệu, thường sản xuất theo mẫu đặt hàng
của khách hàng; công nghệ sản xuất chế biến còn hạn chế, phần lớn làm bằng thủ
công. Ngoài ra, còn thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý Nhà nước
với các doanh nghiệp; thiếu sự liên kết, hợp tác giữa các doanh nghiệp với nhau để
cùng bảo vệ quyền lợi cho nhau và nâng cao tính cạnh tranh của sản phẩm Việt
Nam trên thị trường quốc tế
 Tất cả những mặt hạn chế này đã ảnh hưởng và làm chậm hoạt động xuất khẩu
gỗ ở nước ta.Cần có những giải pháp thíc hợp để khắc phục.
3. Tác động của việc gia nhập WTO.
Khi gia nhập vào WTO thì tất cả các hoạt động ngoại thương của nước ta có những
chuyển biến rõ rệt.Nó tạo ra cơ hội cho các ngành kinh tế của đất nước phát triển,giúp
bành trướng ra thị trường nước ngoài nhưng nó cũng mang lại không ít khó khăn,nó
tạo ra sức ép cạnh tranh lớn đối với tất các ngành hàng nói chung và ngành gỗ nói
riêng.
Sau 2 năm gia nhập WTO, nền kinh tế Việt Nam đã có sự thay đổi sâu sắc và toàn
diện, trong đó ngành chế biến gỗ và thủ công mỹ nghệ đạt được nhiều thành tựu đáng
kể, kim ngạch xuất khẩu của ngành đã không ngừng tăng lên, trở thành một trong
những ngành hàng đạt kim ngạch xuất khẩu cao nhất của cả nước. Kim ngạch xuất
khẩu đồ gỗ năm 2007 đạt 2,5 tỷ USD và năm 2008 dự kiến đạt 3 tỷ USD. Sản phẩm
gỗ và thủ công mỹ nghệ của Việt Nam đã dần khẳng định được thưong hiệu và vươn
lên đứng thứ 4 trong khối các nước ASEAN, có mặt trên thị trường tại 162 quốc gia

Một là, tập trung trồng rừng theo phương thức thâm canh để tự túc nguồn nguyên liệu
gỗ vào năm 2020, đồng thời đẩy mạnh công nghệ chế biến ván nhân tạo từ gỗ rừng
trồng để giảm 50% nhập khẩu ván nhân tạo vào năm 2010.
Hai là, tạo điều kiện thuận lợi nhất để nhập khẩu và cung ứng nguyên liệu gỗ cho
ngành công nghiệp chế biến xuất khẩu sản phẩm gỗ đáp ứng số lượng, chất lượng và
thời gian với giá cả cạnh tranh. Chính phủ cần ký kết với Chính phủ các nước có
nguồn nguyên liệu gỗ dồi dào các thỏa thuận về cung cấp gỗ dài hạn cho Việt Nam
Ba là, tập trung mọi nguồn lực của Nhà nước, doanh nghiệp và các tổ chức khác để
xây dựng các trung tâm đào tạo nghề cho ngành công nghiệp chế biến xuất khẩu đồ
gỗ nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của ngành.
Bốn là, thực hiện triệt để cải cách hành chính trong việc nhập khẩu gỗ nguyên liệu và
xuất khẩu sản phẩm gỗ.
Năm là, tăng cường đầu tư máy móc thiết bị, công nghệ tiên tiến để nâng cao năng
suất lao động và chất lượng sản phẩm.
Sáu là, nâng cao chất lượng và tính chuyên nghiệp trong công tác xúc tiến thương
mại, xây dựng thương hiệu gỗ Việt Nam
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status