Tài liệu Đề tài "Đẩy mạnh xuất khẩu gạo của Việt Nam theo quan điểm Marketing-mix" - Pdf 86

Đẩy mạnh xuất khẩu gạo của Việt
Nam theo quan điểm Marketing-mix
gạo của Việt Nam, đề tài đưa ra giải pháp dưới góc độ vĩ mô và theo quan
điểm Marketing-mix nhằm thúc đẩy việc xuất khẩu gạo, phù hợp với tiến
trình phát triển kinh tế của nước ta.

3. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng những kiến thức đã tích luỹ trong suốt quá trình học tập
với những quan sát, thu thập trong thực tế, kết hợp giữa việc tổng hợp sách
báo, tài liệu với việc đi sâu vào phân tích thực tiễn, tham khảo ý kiến nhằm
tìm ra hướng đi hợp lý nhất.

4. Mục đích, nội dung nghiên cứu
Trên cơ sở tập trung phân tích, đánh giá thực trạng sản xuất và xuất
khẩu của mặt hàng gạo, khoá luận đưa ra một số định huớng phát triển cho 5
giai đoạn tiếp theo, đồng thời tìm một số giải pháp về Marketing nhằm củng
cố, đẩy mạnh và phát triển mặt hàng xuất khẩu chủ lực này. Để đạt được
mục đích trên, về mặt lý luận, khoá luận đã tổng hợp, thống nhất, đúc kết và
phát triển những vấn đề đã và đang được nghiên cứu, đồng thời xem xét trên
cơ sở thực tiễn hoạt động xuất khẩu gạo của Việt Nam theo quan điểm của
Marketing để tìm ra hướng đi đúng đắn trong thời gian tới.
Tên đề tài:
Đẩy mạnh xuất khẩu gạo của Việt Nam theo quan điểm
Marketing-mix
• Chương 1: Tổng quan về gạo xuất khẩu trên thế giới và tại Việt
Nam.
• Chương 2: Thực trạng xuất khẩu gạo Việt Nam theo quan điểm
Marketing-mix.
• Chương 3: Chiến lược đẩy mạnh xuất khẩu gạo.

thì gạo và lúa mì là hai loại thực phẩm chiếm vị trí quan trọng trong khẩu
phần ăn hàng ngày của con người. Theo thống kê của Tổ chức Lương thực
và Nông nghiệp Liên hợp quốc (FAO), sản xuất lúa gạo và lúa mì đạt mức
tương đương nhau. Nhìn chung, sản lượng lúa gạo có thể duy trì sự sống cho
hơn 53% tổng số dân trên thế giới. Qua đó cho thấy tầm quan trọng của gạo
đối với vấn đề an ninh lương thực của loài người, đặc biệt khi đặt trong bối
cảnh biến động của yếu tố nhân khẩu học.
1.1.1.1. Vấn đề sản xuất gạo trên thế giới
Ngành sản xuất lúa gạo bị phụ thuộc vào các điều kiện tự nhiên như
đất, nước, khí hậu... Sau nhiều năm liên tục tăng trưởng, vào năm 1995, sản
xuất gạo trên thế giới giảm nhẹ với diện tích sản xuất khoảng 146 nghìn ha,
sản lượng thóc toàn thế giới đạt 553 triệu tấn, tương đương khoảng 360 triệu
tấn gạo. Những thành công trong sản xuất gạo là kết quả đạt được do cuộc
Cách mạng xanh đem lại cùng với việc áp dụng các tiến bộ khoa học và đổi
mới chiến lược kinh tế xã hội của Chính phủ các nước sản xuất gạo chủ yếu.
Theo số liệu của Vụ Xuất nhập khẩu - Bộ Thương mại, dự đoán diện
tích sản xuất lúa toàn thế giới năm 2001 là 151,9 nghìn ha. Năng suất lúa
năm 2000 đạt 3,92 tấn/ ha, gấp 1,6 lần so với năng suất lúa năm 1974 là 2,45 7
tấn/ha. Đây là một tiến bộ vượt bậc, nhờ sử dụng những thành tựu công nghệ
hiện đại vào sản xuất, đồng thời áp dụng những loại giống lúa mới cho năng
suất cao. Năm 2000 cũng là năm kỉ lục về năng suất và sản lượng lúa toàn
cầu là 607,4 triệu tấn so với 333,8 triệu tấn năm 1974, tăng 1,8 lần. Qua đó
cho ta thấy sản lượng lúa tăng chủ yếu do năng suất tăng, là kết quả đáng
khích lệ cho sản xuất lúa toàn thế giới, đảm bảo tốt nhu cầu về lương thực
nói chung và lúa gạo nói riêng của loài người.
Bảng 1.1. Tình hình sản xuất gạo của thế giới (1998-2001)
Đơn vị tính: 1000 tấn

theo đầu người thì không tăng.
Trên thế giới, châu Á là khu vực tiêu thụ gạo nhiều nhất với 362,1 triệu
tấn, tức 90% so với lượng tiêu dùng toàn cầu vào năm 2001 (403 triệu tấn).
Điều này được giải thích bằng tập quán coi gạo là lương thực chính yếu ở
châu Á, nơi tập trung trên 60% dân số toàn thế giới. Tuy nhiên, trong những
năm gần, dân số các nước này tăng mạnh trong khi diện tích trồng lúa giảm
đáng kể do quá trình đô thị và công nghiệp hoá. Thêm vào nữa, các thiên tai
như lụt, bão, hạn hán... thường hay xảy ra nên các nước này cũng phải nhập
khẩu gạo phục vụ cho nhu cầu trong nước. Các châu lục khác tiêu thụ 10%
số lượng gạo còn lại. Tại châu Mỹ, châu Âu và khu vực Trung Đông, tiêu
thụ gạo đã tăng đáng kể trong những năm gần đây. Cụ thể năm 2000, Bắc
Mỹ tiêu thụ 4,1 triệu tấn, Mỹ Latinh 14,3 triệu tấn, EU 2 triệu tấn. Dự đoán
năm 2001, các khu vực này lần lượt tiêu thụ 4,7 triệu tấn, 14,7 triệu tấn và
2,1 triệu tấn. Qua đó, có thể thấy rằng lượng gạo tiêu thụ phân bố không
đồng đều và phụ thuộc nhiều vào các nước châu Á.

Bảng 1.2. Tình hình tiêu thụ gạo của thế giới (1998-2001)
Đơn vị tính: 1000 tấn
Nhập khẩu 1998 1999 2000 2001(ước)
Bắc Mỹ 4,108 4,439 4,718 4,747
Mỹ Latinh 13,778 14,085 14,272 14,661
EU 2,012 2,066 2,131 2,079
Tây Âu còn lại 48,000 50,000 53,000 55,000
Liên Xô cũ 1,130 1,119 1,136 1,311
Đông Âu 344,000 382,000 360,000 386,000
Trung Đông 5,779 6,159 6,499 6,435
Bắc Phi 2,982 2,984 3,097 3,177
Châu Phi còn lại 10,412 10,973 11,563 12,155
Nam Á 104,835 110,412 113,711 114,989
Châu Á còn lại 234,508 236,025 241,852 238,692

chung sẽ tăng theo xu hướng của nền kinh tế. Gạo chất lượng kém ngày càng
được chuyển sang dùng trong công nghiệp hoặc cho những người có thu
nhập thấp. Một trong những chiến lược của Trung Quốc là phát triển ngành
chăn nuôi và gạo vụ sớm sẽ là thức ăn tốt cho gia cầm vì chất lượng phù hợp
và giá thành rẻ.
Theo số liệu của Bộ Thương mại, năm 2000 Trung Quốc tiêu thụ 137,3
triệu tấn gạo chiếm 34% tổng lượng gạo tiêu thụ toàn cầu. Ước tính năm
2001 lượng tiêu thụ là 134,3 triệu tấn. Con số này nói chung không thay đổi
nhiều so với các năm trước. Với dự kiến nhu cầu tiêu thụ sẽ đạt được 220
triệu tấn gạo vào năm 2010 và 260 triệu tấn vào năm 2030, Trung Quốc đặt
mục tiêu phát triển các giống lúa mới, năng suất cao để đạt trung bình 8
tấn/ha so với 6,5 tấn/ha hiện nay.
* Ấn Độ 10
Là nước đông dân thứ hai trên thế giới, Ấn Độ cũng là nước sản xuất
gạo lớn thứ hai trên thế giới. Năm 1994, sản lượng lúa của Ấn Độ đạt mức
tăng kỷ lục (2,8%) so với các nước khác. Ấn Độ là nước đứng đầu trên thế
giới về diện tích trồng lúa và đang chiếm hơn 22% tổng sản lượng lúa gạo
toàn cầu. Sản lượng gạo của Ấn Độ niên vụ 1999/2000 đạt 88,55 triệu tấn so
với 406,57 triệu tấn của thế giới và dự đoán niên vụ 2000/2001 đạt 87,30
triệu tấn so với 396 triệu tấn của thế giới. Cuối năm 2000, Chính phủ Ấn Độ
có kế hoạch giải toả 3 triệu tấn gạo dự trữ để lấy chỗ chứa gạo mới, gây sức
ép tới thị trường gạo thế giới. Bên cạnh đó, Ấn Độ là một trong những nước
đi đầu trong cuộc Cách mạng xanh, chủ yếu về giống lúa. Hiện nay, Bộ
Thương mại Ấn Độ thông báo sẽ tiến hành thử nghiệm ADN để bảo đảm sự
thuần chủng cho giống gạo mới, khuyến khích sản xuất và xuất khẩu các loại
gạo cao cấp.
Về tiêu thụ, Ấn Độ cũng là quốc gia tiêu thụ gạo lớn thứ hai trên thế

58%Dân số
9%
22%
33%
36%
Indonªxia
Ên §é
Trung Quèc
Kh¸c

Tiêu thụ gạo

1.1.2. Cơ cấu của thị trường gạo thế giới
1.1.2.1. Đặc điểm và triển vọng của thị trường gạo thế giới
* Đặc điểm của thị trường gạo thế giới
- Gạo là loại lương thực chủ yếu để nuôi sống hơn 50% dân số toàn
cầu, tập trung nhiều nhất ở châu Á. Chính vì vậy, thị trường gạo thế giới
mang đặc tính nhạy bén vì mỗi khi có sự biến động về nhu cầu ở những
nước tiêu thụ gạo chính như Trung Quốc, Ấn Độ, Inđônêxia, Bănglađét,
Pakistan... thì cung cầu và giá gạo trên thị trường thế giới lại thay đổi. Việc
Chính phủ Ấn Độ có kế hoạch giải toả 3 triệu tấn gạo vào cuối năm 2001 là
một ví dụ để gây sức ép với thị trường gạo thế giới. Cuối tháng 3/2000,
Inđônêxia đã quyết định ngừng nhập khẩu gạo chính ngạch cũng tạo những
biến động không nhỏ tới giá gạo nói chung. Tuy nhiên, độ nhạy cảm của thị
trường gạo còn phải phụ thuộc vào lượng dự trữ toàn cầu và của từng nước
cũng như tỷ giá giữa gạo và loại lương thực thay thế gạo như lúa mỳ, ngô...
- Gạo không những được buôn bán đơn thuần như một hàng hoá giữa

cơ chế chính sách. Xuất khẩu gạo từ châu Âu và châu Mỹ có xu hướng giảm
do việc thắt chặt các quy định của thương mại thế giới làm hạn chế chính
sách trợ giá xuất khẩu.
Xu hướng trong những năm tới sẽ có nhiều nước tham gia vào xuất
khẩu lúa gạo, tạo sự sôi động và cạnh tranh gay gắt trên thị trường lúa gạo
thế giới, đặc biệt ở châu Á, do chính sách của nhiều nước cho phép khu vực
tư nhân tham gia vào xuất nhập khẩu gạo. Ngoài ra, trong những năm tới,
giao dịch các loại gạo có chất lượng cao có xu hướng tăng mạnh trong khi
giao dịch gạo phẩm cấp thấp sẽ giảm dần.
Gạo một mặt là hàng hoá thiết yếu đối với đời sống và sản xuất, mặt
khác là hàng hoá nhạy cảm và xuất khẩu có tính chiến lược ở một số nước,
có xu hướng cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt giữa các nước tham gia
xuất khẩu. Các nước xuất khẩu luôn luôn tăng sản lượng lúa gạo không chỉ
để thoả mãn cho nhu cầu tăng dân số mà còn nhằm mang lại nguồn ngoại tệ
đáng kể. Vì vậy, trong tình hình hiện nay, các nước đều đẩy mạnh các hoạt
động xuất khẩu để giảm hao phí và hư hao, đầu tư chiều sâu để tăng nhanh
năng suất và sản lượng. Để tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường, các
nước trang bị ngày càng tốt hơn từ việc chọn giống, thu hoạch, bảo quản, 13
chế biến, vận tải, bao gói và điều kiện giao hàng thích hợp với đòi hỏi của
thị trường thế giới.
1.1.2.2. Tình hình nhập khẩu gạo
* Tình hình chung
Nhập khẩu gạo của thế giới nhìn chung có xu hướng tăng lên nhưng
không ổn định trong những năm gần đây, tuỳ thuộc vào sản lượng lương
thực trong năm và khả năng thanh toán của những nước nhập khẩu. Đa số
các nước xuất khẩu gạo đạt sản lượng cao kỷ lục đã làm giảm mạnh giá gạo
trên thị trường thế giới.

Châu Đại
Dương
288 608 670 706
Nguồn: Vụ Xuất nhập khẩu–Bộ Thương mại
Châu Á luôn là khu vực nhập khẩu gạo nhiều nhất với khoảng hơn 55%
lượng gạo nhập khẩu toàn thế giới nhằm đáp ứng đủ nhu cầu tiêu thụ tại các
nước này. Châu Phi chiếm tỷ trọng hơn 20% lượng gạo nhập khẩu và có
chiều hướng tăng lên trong thời gian qua tuy mức tăng không lớn. Trên thực
tế các nước nghèo ở châu lục này tiêu dùng gạo khá nhiều nhưng khả năng
tài chính lại bị hạn chế rất đáng kể. Do vậy, ở các nước này tuy thiếu gạo
nhưng khả năng nhập khẩu có hạn. Châu Mỹ cũng có khối lượng nhập khẩu
chiếm khoảng 20% với nhu cầu ổn định và có xu hướng tăng lên.
Nhập khẩu gạo trên thế giới cũng biến động theo nhóm nước. Tuỳ theo
mức độ thường xuyên, các nước chia theo hai nhóm: nhóm nước nhập khẩu
gạo thường xuyên và không thường xuyên. Nhóm thứ nhất bao gồm các
nước luôn có nhu cầu nhập khẩu gạo do mất cân đối giữa sản xuất và tiêu
dùng, sản xuất không đáp ứng đủ nhu cầu về gạo. Nhóm nước này bao gồm
Malaixia (hàng năm cần nhập khoảng 400 ngàn tấn), Canađa (180 ngàn tấn),
Angiêri (250 ngàn tấn)... Nhóm thứ hai bao gồm những nước sản xuất gạo
nhưng không thường xuyên cung cấp đủ cho tập quán tiêu dùng trong nước.
Lượng gạo nhập khẩu ở các nước này không đều qua các năm. Tiêu biểu cho
nhóm này là Inđônêxia, Trung Quốc, Nhật Bản...
* Một số nước nhập gạo chủ yếu trên thế giới
1) Inđônêxia
Hiện nay, nước nhập khẩu gạo lớn nhất thế giới là Inđônêxia. Dù đã sản
xuất một lượng gạo không nhỏ cho tiêu dùng nhưng Inđônêxia vẫn phải
nhập khẩu nhằm đáp ứng nhu cầu trong nước, đảm bảo an ninh lương thực.
Đặc biệt vào năm 1995, nhập khẩu gạo của nước này tăng vọt lên tới 3,2
triệu tấn do chính sách dự trữ gạo của Nhà nước và tốc độ tăng nhanh của
dân số. Đến năm 1998, Inđônêxia tiếp tục nhập gạo với sản lượng 6,1 triệu

hướng tăng trong thời gian qua. Cụ thể năm 1989, lượng nhập khẩu của
Braxin là 0,5 triệu tấn, năm 1998 tăng lên 1,2 triệu tấn. Năm 1999, nước này
tiếp tục là nước nhập khẩu gạo lớn trên thế giới với mức nhập khoảng 1 triệu
tấn. Năm 2000, sản lượng nhập khẩu giảm xuống còn 0,7 triệu tấn và sẽ tiếp
tục giảm trong năm 2001.
1.1.2.3. Tình hình xuất khẩu gạo trên thế giới những năm qua
* Tình hình chung
Theo số liệu của Vụ Xuất nhập khẩu - Bộ Thương mại, tổng lượng gạo
xuất khẩu của thế giới trong những năm gần đây tăng và tăng khá. Nếu như
năm 1975, thế giới xuất khẩu chỉ có 7,7 triệu tấn gạo thì năm 1989 số lượng
gạo xuất khẩu đạt 13,9 triệu tấn, mức cao nhất so với các năm trước đó. Tuy
nhiên, trong hai năm tiếp theo, số lượng gạo xuất khẩu giảm xuống còn 11,6
triệu tấn và 12,1 triệu tấn. Đến năm 1998, số lượng gạo xuất khẩu tăng cao
nhất là 27,7 triệu tấn. Trong 3 năm qua, sản lượng gạo xuất khẩu có xu 16
hướng giảm xuống: năm 1999 là 24,9 triệu tấn, năm 2000 là 22,9 triệu tấn và
dự báo năm 2001 là 22,2 triệu tấn. Nhìn chung, mức tăng trưởng chưa thật
ổn định, có năm giảm so với năm trước và chưa thực sự phản ánh khả năng
dư thừa của những nước xuất khẩu và sự biến động không ngừng tình hình
cung cầu của thị trường gạo trên thế giới. Số lượng xuất khẩu gạo của thế
giới tăng lên nhờ những cải biến về mặt kỹ thuật, giống lúa và các chính
sách mới của các nước xuất khẩu gạo làm cho lượng gạo có xu hướng tăng
lên trong những năm gần đây.
Xuất khẩu gạo thế giới tập trung ở một số nước đang phát triển, chiếm
75% đến 80% tổng số lượng xuất khẩu. Là châu lục sản xuất và tiêu thụ gạo
nhiều nhất, với tiềm năng, điều kiện thời tiết thuận lợi cho việc trồng lúa,
châu Á vẫn luôn là khu vực xuất khẩu nhiều nhất. Bình quân hàng năm, châu
Á cung cấp khoảng 70% lượng gạo xuất khẩu cho thị trường thế giới, đồng

gạo Thái Lan có nhiều loại, đặc biệt là các loại gạo đặc sản được ưa chuộng
ở khắp nơi và được xuất đi nhiều nước. Thái Lan cũng là đối thủ cạnh tranh
mạnh nhất của Mỹ trên thị trường loại gạo hạt dài và chất lượng cao, đồng
thời cũng cung cấp cho cung gạo của thế giới gần 1/3 tổng lượng gạo chất
lượng thấp. Thị phần của Thái Lan nhìn chung tương đối ổn định. Giá bán
thường cao hơn so với các nước xuất khẩu gạo khác như Việt Nam hay
Pakistan. Giá chuẩn quốc tế cũng thường căn cứ vào giá gạo của Thái Lan
(FOB Băngcốc).
2) Trung Quốc
Không chỉ là một nước sản xuất, tiêu dùng, nhập khẩu gạo lớn trên thế
giới, Trung Quốc cũng là nước xuất khẩu gạo lớn trên thế giới. Trung Quốc
nhập khẩu gạo chất lượng cao song xuất khẩu gạo có chất lượng bình thường
hoặc thấp. Năm 2000, mặc dù có hạn hán, quốc gia này đã vươn lên thứ ba
trong số các nước xuất khẩu gạo với số lượng là 2,95 triệu tấn, chỉ sau Thái
Lan và Việt Nam, tăng 9% so với năm 1999 (2,7 triệu tấn) nhưng giảm so
với mức 3,7 triệu tấn năm 1998. Vị trí này không ổn định trong các năm do
sự biến động thất thường giữa cung cầu gạo của nước này. Dự kiến năm
2001, Trung Quốc sẽ tiếp tục giảm số lượng xuất khẩu xuống còn 1,8 triệu
tấn. Tuy nhiên, với ưu thế giá gạo rẻ và chất lượng ngày một được cải thiện,
gạo Trung Quốc đã có chỗ đứng trên thị trường thế giới, đặc biệt là tại châu
Phi và Nhật Bản.
3) Mỹ
Năm 2000, số lượng xuất khẩu gạo của Mỹ đạt 2,76 triệu tấn, đứng thứ
tư trong số các nước xuất khẩu gạo. Tuy nhiên, những năm trước đây, Mỹ
vẫn đứng thứ hai trên thế giới sau Thái Lan mặc dù chỉ chiếm khoảng 1,5%
tổng số lượng lúa toàn cầu và xếp thứ 11 về sản xuất gạo.
Là nước xuất khẩu gạo truyền thống với thị trường rộng lớn trên khắp
các châu lục, chất lượng gạo của Mỹ nổi tiếng là cao (loại A), đứng đầu thế
giới và có sức cạnh tranh ưu việt hơn hẳn các loại gạo khác, kể cả của Thái
Lan. Trong những năm đầu thập niên 90, Mỹ cung cấp khoảng 20% thị phần

dự đoán trong năm 2001 sẽ là 2,25 tấn, chiếm hơn 10% tổng lượng gạo xuất
khẩu toàn thế giới.
5) Ấn Độ
Ấn Độ là một quốc gia luôn ở trong tình trạng thiếu lương thực. Từ
trước đến nay, Ấn Độ phải nhập khẩu một lượng gạo lớn chất lượng thấp
nhưng đồng thời cũng xuất khẩu gạo Basmati, một loại gạo đặc sản, sang các
thị trường châu Á và châu Phi, đặc biệt là thị trường Trung Đông. Những
năm gần đây, số lượng gạo xuất khẩu của Ấn Độ không ổn định do gặp
nhiều thiên tai. Hoạt động xuất khẩu gạo của Ấn Độ đang có khó khăn vì
Bănglađét, thị trường tiêu thụ gạo phẩm cấp thấp chủ yếu của Ấn Độ, bắt
đầu thực hiện thả nổi việc đấu thầu mua gạo từ tháng 1/2000 với điều kiện 19
thanh toán nghiêm ngặt. Cụ thể là số lượng gạo xuất khẩu của Ấn Độ từ 4,5
triệu tấn năm 1998, chiếm 16,2% tổng lượng gạo xuất khẩu toàn thế giới,
năm 1999 còn 2,4 triệu tấn, năm 2000 chỉ còn 1,3 triệu tấn.
Hiện nay, Bộ Thương mại Ấn Độ thông báo sẽ tiến hành thử nghiệm
AND để đảm bảo sự thuần chủng cho giống gạo Basmati Ấn Độ và sẽ
khuyến khích xuất khẩu gạo cao cấp này. Bên cạnh đó, Ấn Độ cho phép
Tổng công ty lương thực quyết định giá xuất khẩu song không được thấp
hơn giá bán cho người dân Ấn Độ sống dưới mức nghèo khổ. Các nhà xuất
khẩu Ấn Độ cho rằng gạo Ấn Độ có cơ hội thâm nhập vào các thị trường
nước ngoài nếu như giá thấp như giá các xuất xứ khác. Bộ Thương mại Ấn
Độ cũng đã xem xét kế hoạch xoá bỏ hạn chế xuất khẩu đối với các sản
phẩm như gạo, lúa mì, đường và hành. Gạo xay xát hiện đang được tự do
xuất khẩu, mặc dù các tư nhân muốn xuất khẩu vẫn buộc phải đăng ký hợp
đồng với Cơ quan phát triển nông nghiệp và xuất khẩu thực phẩm chế biến.
Hiện tại, Ấn Độ đang thu hút các nhà nhập khẩu gạo như Nam Phi, Nigiêria,
Arập-Xêút. Mục tiêu của Ấn Độ trong những năm tới là giảm bớt chi phí của

chưa kể đến xuất khẩu tiểu ngạch sang các nước láng giềng như Trung
Quốc, Lào, Campuchia. Như vậy, gạo đã chiếm tới khoảng 16% tổng kim
ngạch xuất khẩu của cả nước, một tỷ lệ không nhỏ đối với riêng một mặt
hàng trong rất nhiều mặt hàng xuất khẩu khác.
Xuất phát từ vai trò quan trọng của gạo đối với quá trình CNH-HĐH
đất nước, Đảng và Nhà nước ta đã chú trọng hơn tới tăng cường áp dụng
công nghệ tiên tiến vào sản xuất, đặc biệt chú ý tới những giống lúa có chất
lượng và cho năng suất cao, đồng thời đẩy mạnh hơn nữa xuất khẩu gạo
nhằm đem lại nguồn vốn lớn phục vụ công cuộc đổi mới đất nước.
1.2.1.2. Xuất khẩu góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và thúc đẩy
sản xuất phát triển
Khi Việt Nam đẩy mạnh xuất khẩu gạo đồng nghĩa với việc tăng cường
sản xuất theo quy mô vùng. Hiện nay, ở nước ta đã và đang hình thành
những vùng lúa tập trung chuyên sản xuất gạo xuất khẩu bao gồm cả hai khu
vực chủ yếu là đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng. Mỗi
vùng phù hợp với những loại giống lúa khác nhau. Như vậy, cơ cấu nông
nghiệp sẽ thay đổi phát huy theo lợi thế của từng vùng.
Khi đẩy mạnh xuất khẩu gạo, cơ cấu ngành nghề cũng sẽ thay đổi.
Hàng loạt các nghề phụ liên quan đến sản xuất và chế biến gạo như xay sát,
bảo quản, đánh bóng... cũng phát triển theo. Đây là điều kiện thuận lợi đối
với nền kinh tế dư thừa lao động như nước ta, giảm đáng kể tỷ lệ thất nghiệp
trong nông thôn và góp phần cải thiện đời sống nhân dân.
Trong những năm gần đây, sản lượng lúa thu hoạch tăng cao. Xuất
khẩu gạo tạo điều kiện mở rộng tiêu thụ sản phẩm, tránh ứ đọng, tồn kho.
Khi khâu tiêu thụ được giải quyết sẽ tạo tâm lý an tâm, khuyến khích nông
dân tăng cường, đẩy mạnh sản xuất, nâng cao năng suất lao động. Như vậy,
xuất khẩu đã tác động ngược trở lại đối với sản xuất, là một tiền đề cho sản 21

Xuất khẩu gạo tạo sự phân công lao động hợp lý trên phạm vi toàn thế
giới. Dựa vào lợi thế so sánh tương đối đối với các loại gạo Việt Nam,
chúng ta cần biết sản xuất loại gạo nào đạt hiệu quả cao nhất và có khả năng
bán với số lượng lớn, giá cao. Tham gia vào thị trường bên ngoài rộng lớn,
chúng ta hiểu rõ hơn về nhu cầu người tiêu dùng và khả năng cung cấp của 22
các nước xuất khẩu khác để điều chỉnh định hướng xuất khẩu cho phù hợp
với hoàn cảnh, điều kiện cụ thể của nước ta.
1.2.2. Tình hình xuất khẩu gạo của Việt Nam trong những năm qua
1.2.2.1. Tình hình chung
Nếu nhìn lại giai đoạn trước đổi mới, khi cả nước ta lâm vào cảnh thiếu
đói triền miên, các gia đình luôn phải tích trữ lương thực, trộn lẫn các loại
gạo, sắn, khoai... trong mỗi bữa ăn thì mới thấy được thành công to lớn của
ngành lương thực nước ta trong suốt thời gian qua. Dưới cơ chế tập trung
bao cấp, sản xuất nông nghiệp nước ta mang nặng tính tự cấp tự túc, sản
xuất không đủ tiêu dùng, thiếu lương thực trở thành vấn đề quan tâm hàng
đầu của Đảng và Nhà nước. Từ khi thực hiện đổi mới sau nghị quyết 10 của
Bộ Chính trị về đổi mới kinh tế nông nghiệp đến nghị quyết 6 của Ban chấp
hành Trung ương khoá VI, cùng với việc ban hành một loạt các chính sách
kinh tế mới, nông nghiệp nước ta đã có nhiều khởi sắc. Cơ chế của nền nông
nghiệp từ tự cung tự cấp chuyển sang sản xuất hàng hoá theo hướng CNH-
HĐH đã thu được nhiều kết quả đáng khích lệ, đặc biệt là trong xuất khẩu
gạo.
Năm 1989 là năm đánh dấu bước ngoặt trong lịch sử xuất khẩu gạo của
nước ta, khi Việt Nam đứng ở vị trí thứ 3, sau Thái Lan và Mỹ, trong số
những nước xuất khẩu gạo trên thị trường thế giới. Số lượng gạo xuất khẩu
tăng dần từ 1,327 triệu tấn vào năm 1989 lên tới 1,478 triệu tấn năm 1990,
giảm nhẹ vào năm 1991 với 1 triệu tấn do những biến động từ thị trường

(USD/MT)
1989 1.372 100 310.249 226,1
1990 1.478 106 275.390 186,3
1991 1.016 -462 229.857 226,2
1992 1.954 938 405.132 207,3
1993 1.649 -305 335.651 203,5
1994 1.962 313 420.861 214,5
1995 2.025 63 538.838 266,1
1996 3.047 1022 868.417 285,0
1997 3.682 635 891.342 242,1
1998 3.793 111 1.005.484 265,1
1999 4.559 766 1.007.847 221,0
2000 3.470 -1089 667.000 192,2
2001 3.700
(*)
226
Tổng 30.227 6.990.345
(**)

(*): Dự kiến; (**): Chưa kể số dự kiến xuất khẩu năm
2001
Nguồn: Vụ xuất nhập khẩu – Bộ Thương mại

Kim ngạch xuất khẩu gạo biến động theo các năm, phụ thuộc vào hai
yếu tố giá cả và số lượng xuất khẩu. Năm 1999 là năm Việt Nam đạt kim
ngạch xuất khẩu cao nhất cũng là năm số lượng gạo xuất lớn nhất, tuy giá
gạo Việt Nam trên thị trường thế giới không cao (221 USD/MT).
Về thị trường, khách hàng thường xuyên của gạo Việt Nam phần lớn là
các nước đang phát triển. Một số nước châu Âu mua gạo Việt Nam để
chuyển sang các nước châu Phi dưới hình thức viện trợ nhân đạo. Các nước

mạng lưới lưu thông phân phối gạo rộng khắp cả nước, cung cấp nguồn
nguyên liệu dồi dào cho các ngành lương thực, thực phẩm.
1.2.2.2. Những tồn tại trong xuất khẩu gạo của nước ta
Ngoài những thành công đáng khích lệ, xuất khẩu gạo Việt Nam còn
tồn tại những yếu kém mà chúng ta cần xem xét, qua đó đề ra các biện pháp
cần khắc phục. Cụ thể là:
- Sức cạnh tranh trên thị trường thế giới của gạo Việt Nam vẫn còn
kém. Có nhiều nguyên nhân để giải thích song cần nhấn mạnh đến chất
lượng gạo thấp (qua khâu sản xuất và chế biến), cơ sở hạ tầng giao thông 25
cần thiết theo yêu cầu đã cũ kỹ, lạc hậu. Đây là điểm yếu cần khắc phục
ngay của gạo Việt Nam.
- Xuất khẩu gạo của Viêt Nam nhìn chung chưa ổn định. Vì thời gian
Việt Nam tham gia xuất khẩu còn chưa lâu so với các nước khác nên không
có được những bạn hàng truyền thống. Hơn nữa, chính sách bạn hàng của ta
còn nhiều bất cập, khó giữ được lòng tin ở khách hàng. Các đối thủ cạnh
tranh của Việt Nam có chất lượng gạo tốt hơn song về giá cả, gạo Việt Nam
thường rẻ hơn dù trong thời gian gần đây đã có những dấu hiệu đáng mừng
trong giá gạo của Việt Nam trên thị trường thế giới. Chính vì thế, chúng ta
nên tập trung chủ yếu vào một số thị trường nhất định như thị trường các
nước đang phát triển để tìm kiếm nhanh chóng hợp đồng.
- Xuất khẩu gạo Việt Nam phần lớn phải tiến hành qua khâu trung gian,
rất ít khi nhà xuất khẩu trực tiếp tham gia đấu thầu giành hợp đồng ở các
nước nhập khẩu lớn nên chưa có được những hợp đồng quy mô lớn, giao
hàng với giá cả ổn định, dài hạn mà chủ yếu là hợp đồng ngắn hạn, từng
chuyến, theo mùa, giá cả bấp bênh và xác suất rủi ro khá cao.
- Hiện tượng cạnh tranh không bình đẳng giữa các doanh nghiệp trong
nước do tranh mua, tranh bán dẫn đến đội giá mua lên cao, trình độ nắm bắt

Marketing-mix
Theo Kotler, Marketing-mix là tập hợp những công cụ Marketing được
sử dụng để theo đuổi những mục tiêu Marketing của mình trên thị trường
mục tiêu. Marketing-mix bao gồm bốn yếu tố chính: chiến lược sản phẩm,
chiến lược giá cả, chiến lược phân phối và chiến lược xúc tiến và hỗ trợ kinh
doanh. Meredith G.G (1991), trang 9 có nói rõ về 4 yếu tố này như sau:
Bảng 2.1. Các thành phần của Marketing-mix
Sản phẩm Phân phối Xúc tiến Giá cả
Chủng loại Vị trí các đại lý Quảng cáo Giá cơ sở
Chất lượng Loại đại lý Tiêu thụ cá nhân Điều kiện tín dụng
Nhãn hiệu Kho chứa hàng Bán trực tiếp Điều kiện chuyển giao
Bao bì
Sử dụng bởi nhà
bán buôn
Xúc tiến bán hàng Bảo hành
Dịch vụ
Sử dụng bởi nhà
bán lẻ
Công cộng Chiết giá và bớt giá
Giao hàng Đại lý độc quyền Quan hệ với công chúng Chiết khấu 27
* Chiến lược sản phẩm
Chiến lược sản phẩm luôn được coi là quan trọng nhất trong chiến lược
Marketing. Dưới góc độ kinh tế vĩ mô, chiến lược này bao gồm các nhiệm
vụ như phát triển sản xuất, kiểm tra chất lượng, định vị sản phẩm nhằm đáp
ứng hai mục tiêu chính: thứ nhất, mục tiêu đáp ứng nhu cầu thị trường và
tăng số lượng sản phẩm bán ra; thứ hai, mục tiêu cân bằng hoạt động xuất
khẩu ra nước ngoài và sự ổn định của thị trường trong nước nhằm đảm bảo

Trích đoạn Đỏnh giỏ hoạt động xuất khẩu gạo của Việt Nam theo mụ hỡnh SWOT S Đ iểm mạnh .O Cơ hội và T Thỏch thức Định hướng và mục tiờu xuất khẩu gạo
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status