Đẩy mạnh xuất khẩu gạo của Việt Nam theo quan điểm Marketing-mix - Pdf 10

LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Qua 15 năm thực hiện công cuộc đổi mới, nền kinh tế nước ta đã có
những thay đổi tích cực, làm thay đổi đến mọi khía cạnh của đời sống xã
hội. Chúng ta đã đạt được một số thành tựu đáng kể trong Ngoại thương, đặc
biệt trong xuất khẩu gạo. Những con số báo cáo hàng năm là kết quả thật
đáng tự hào của ngành nông nghiệp nước ta, thể hiện quyết tâm của nhân
dân và đường lối chỉ đạo đúng đắn của Đảng và Nhà nước. Vị thế của Việt
Nam đã được nâng lên, sánh vai cùng các nước xuất khẩu gạo lớn trên thế
giới.
Tuy nhiên, do những yếu tố chủ quan và khách quan, thực tiễn tại Việt
Nam trong thời gian qua cho thấy, hoạt động xuất khẩu gạo ở nước ta vẫn
còn nhiều bất cập, tồn tại nhiều vấn đề bức xúc trước những biến động thất
thường của tình hình chính trị và thị trường thế giới như định hướng, tổ chức
quản lý, tìm đầu ra cho sản phẩm, nâng cao giá và khả năng cạnh tranh... Kết
quả là, tuy khối lượng và kim ngạch xuất khẩu có tăng nhưng nhìn chung
tiềm năng vẫn chưa được khai thác một cách tối ưu, mang lại hiệu quả cao
nhất.
Trong tình hình đó, nghiên cứu Marketing để tìm ra các giải pháp nhằm
nâng cao hoạt động xuất khẩu gạo là một đòi hỏi cấp thiết và đáng quan tâm
nhằm đẩy mạnh hơn nữa sản xuất và xuất khẩu gạo của Việt Nam.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài đi sâu vào phân tích đặc điểm, tình hình xuất khẩu gạo củaViệt
Nam hiện nay theo quan điểm Marketing-mix đồng thời nêu lên các điểm
mạnh, điểm yếu theo mô hình SWOT. Qua thực tiễn hoạt động xuất khẩu
gạo của Việt Nam, đề tài đưa ra giải pháp dưới góc độ vĩ mô và theo quan
điểm Marketing-mix nhằm thúc đẩy việc xuất khẩu gạo, phù hợp với tiến
trình phát triển kinh tế của nước ta.
3. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng những kiến thức đã tích luỹ trong suốt quá trình học tập
với những quan sát, thu thập trong thực tế, kết hợp giữa việc tổng hợp sách

1.1. Tổng quan về thị trường gạo thế giới
Vấn đề tập trung của đề tài này là hoạt động xuất khẩu gạo của Việt
Nam ra thị trường thế giới. Xét theo quan điểm Marketing là có tính hướng
ngoại. Để đẩy mạnh xuất khẩu, Việt Nam phải luôn hướng ra môi trường
kinh doanh và lấy thị trường làm cơ sở định hướng. Thị trường ở đây được
hiểu là tập hợp những nhà nhập khẩu gạo hiện tại và tiềm năng. Mặt khác,
nhu cầu của thị trường gạo lại chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố bên ngoài.
Chính vì vậy, các nhà xuất khẩu gạo Việt Nam không chỉ tập trung vào các
nhà nhập khẩu gạo mà còn phải hướng vào các đối thủ khác để đánh giá kịp
thời khả năng cạnh tranh của họ. Nghiên cứu thị trường gạo quốc tế, nghiên
cứu các nước xuất, nhập khẩu gạo chủ yếu trên thị trường là một đòi hỏi cấp
thiết để ứng dụng vào tình hình cụ thể của Việt Nam, nhằm nâng cao năng
lực cạnh tranh của gạo xuất khẩu nước ta trên thị trường thế giới.
1.1.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến cung cầu gạo thế giới
Trong số các loại lương thực bao gồm gạo, lúa mì, ngô, kê, lúa mạch...
thì gạo và lúa mì là hai loại thực phẩm chiếm vị trí quan trọng trong khẩu
phần ăn hàng ngày của con người. Theo thống kê của Tổ chức Lương thực
và Nông nghiệp Liên hợp quốc (FAO), sản xuất lúa gạo và lúa mì đạt mức
tương đương nhau. Nhìn chung, sản lượng lúa gạo có thể duy trì sự sống cho
hơn 53% tổng số dân trên thế giới. Qua đó cho thấy tầm quan trọng của gạo
đối với vấn đề an ninh lương thực của loài người, đặc biệt khi đặt trong bối
cảnh biến động của yếu tố nhân khẩu học.
1.1.1.1. Vấn đề sản xuất gạo trên thế giới
Ngành sản xuất lúa gạo bị phụ thuộc vào các điều kiện tự nhiên như
đất, nước, khí hậu... Sau nhiều năm liên tục tăng trưởng, vào năm 1995, sản
xuất gạo trên thế giới giảm nhẹ với diện tích sản xuất khoảng 146 nghìn ha,
sản lượng thóc toàn thế giới đạt 553 triệu tấn, tương đương khoảng 360 triệu
tấn gạo. Những thành công trong sản xuất gạo là kết quả đạt được do cuộc
Cách mạng xanh đem lại cùng với việc áp dụng các tiến bộ khoa học và đổi
mới chiến lược kinh tế xã hội của Chính phủ các nước sản xuất gạo chủ yếu.

đó châu Á chiếm tới 90% tổng lượng sản xuất, 50% lượng nhập khẩu và
72% lượng xuất khẩu.
Mức tiêu thụ gạo toàn cầu hiện nay luôn phụ thuộc vào tình hình canh
tác và khả năng cung cấp của các nước sản xuất lúa gạo. Trên quy mô toàn
thế giới, lượng gạo tiêu dùng tăng đáng kể từ 222,4 triệu tấn năm 1974 lên
398,6 triệu tấn năm 2000, tăng 180% và dự đoán năm 2001 là 400,8 triệu
tấn. Để đảm bảo tiêu thụ ổn định cần đạt mức sản xuất hàng năm gấp 1,5 đến
2 lần mức tăng dân số. Như vậy, mức tiêu thụ gạo luôn bị khống chế bởi khả
7
năng sản xuất và phụ thuộc vào số dân toàn cầu nên nhìn chung nếu tính
theo đầu người thì không tăng.
Trên thế giới, châu Á là khu vực tiêu thụ gạo nhiều nhất với 362,1 triệu
tấn, tức 90% so với lượng tiêu dùng toàn cầu vào năm 2001 (403 triệu tấn).
Điều này được giải thích bằng tập quán coi gạo là lương thực chính yếu ở
châu Á, nơi tập trung trên 60% dân số toàn thế giới. Tuy nhiên, trong những
năm gần, dân số các nước này tăng mạnh trong khi diện tích trồng lúa giảm
đáng kể do quá trình đô thị và công nghiệp hoá. Thêm vào nữa, các thiên tai
như lụt, bão, hạn hán... thường hay xảy ra nên các nước này cũng phải nhập
khẩu gạo phục vụ cho nhu cầu trong nước. Các châu lục khác tiêu thụ 10%
số lượng gạo còn lại. Tại châu Mỹ, châu Âu và khu vực Trung Đông, tiêu
thụ gạo đã tăng đáng kể trong những năm gần đây. Cụ thể năm 2000, Bắc
Mỹ tiêu thụ 4,1 triệu tấn, Mỹ Latinh 14,3 triệu tấn, EU 2 triệu tấn. Dự đoán
năm 2001, các khu vực này lần lượt tiêu thụ 4,7 triệu tấn, 14,7 triệu tấn và
2,1 triệu tấn. Qua đó, có thể thấy rằng lượng gạo tiêu thụ phân bố không
đồng đều và phụ thuộc nhiều vào các nước châu Á.
Bảng 1.2. Tình hình tiêu thụ gạo của thế giới (1998-2001)
Đơn vị tính: 1000 tấn
Nhập khẩu 1998 1999 2000 2001(ước)
Bắc Mỹ 4,108 4,439 4,718 4,747
Mỹ Latinh 13,778 14,085 14,272 14,661

thụ gạo trung bình tính theo đầu người vẫn bình ổn (96 kg/người/năm) mặc
dù tổng tiêu thụ tăng do dân số tăng. Nhu cầu về chất lượng cũng ngày càng
tăng. Gạo chất lượng cao như Japonica được trồng chủ yếu ở miền Bắc đã
ngày càng trở nên phổ biến hơn. Tiêu thụ gạo nói riêng và lương thực nói
chung sẽ tăng theo xu hướng của nền kinh tế. Gạo chất lượng kém ngày
càng được chuyển sang dùng trong công nghiệp hoặc cho những người có
thu nhập thấp. Một trong những chiến lược của Trung Quốc là phát triển
ngành chăn nuôi và gạo vụ sớm sẽ là thức ăn tốt cho gia cầm vì chất lượng
phù hợp và giá thành rẻ.
Theo số liệu của Bộ Thương mại, năm 2000 Trung Quốc tiêu thụ 137,3
triệu tấn gạo chiếm 34% tổng lượng gạo tiêu thụ toàn cầu. Ước tính năm
2001 lượng tiêu thụ là 134,3 triệu tấn. Con số này nói chung không thay đổi
nhiều so với các năm trước. Với dự kiến nhu cầu tiêu thụ sẽ đạt được 220
triệu tấn gạo vào năm 2010 và 260 triệu tấn vào năm 2030, Trung Quốc đặt
mục tiêu phát triển các giống lúa mới, năng suất cao để đạt trung bình 8 tấn/
ha so với 6,5 tấn/ha hiện nay.
* Ấn Độ
9
Là nước đông dân thứ hai trên thế giới, Ấn Độ cũng là nước sản xuất
gạo lớn thứ hai trên thế giới. Năm 1994, sản lượng lúa của Ấn Độ đạt mức
tăng kỷ lục (2,8%) so với các nước khác. Ấn Độ là nước đứng đầu trên thế
giới về diện tích trồng lúa và đang chiếm hơn 22% tổng sản lượng lúa gạo
toàn cầu. Sản lượng gạo của Ấn Độ niên vụ 1999/2000 đạt 88,55 triệu tấn so
với 406,57 triệu tấn của thế giới và dự đoán niên vụ 2000/2001 đạt 87,30
triệu tấn so với 396 triệu tấn của thế giới. Cuối năm 2000, Chính phủ Ấn Độ
có kế hoạch giải toả 3 triệu tấn gạo dự trữ để lấy chỗ chứa gạo mới, gây sức
ép tới thị trường gạo thế giới. Bên cạnh đó, Ấn Độ là một trong những nước
đi đầu trong cuộc Cách mạng xanh, chủ yếu về giống lúa. Hiện nay, Bộ
Thương mại Ấn Độ thông báo sẽ tiến hành thử nghiệm ADN để bảo đảm sự
thuần chủng cho giống gạo mới, khuyến khích sản xuất và xuất khẩu các loại

36%
Indonªxia
Ên §é
Trung Quèc
Kh¸c
Tiêu thụ gạo
1.1.2. Cơ cấu của thị trường gạo thế giới
1.1.2.1. Đặc điểm và triển vọng của thị trường gạo thế giới
* Đặc điểm của thị trường gạo thế giới
- Gạo là loại lương thực chủ yếu để nuôi sống hơn 50% dân số toàn
cầu, tập trung nhiều nhất ở châu Á. Chính vì vậy, thị trường gạo thế giới
mang đặc tính nhạy bén vì mỗi khi có sự biến động về nhu cầu ở những
nước tiêu thụ gạo chính như Trung Quốc, Ấn Độ, Inđônêxia, Bănglađét,
Pakistan... thì cung cầu và giá gạo trên thị trường thế giới lại thay đổi. Việc
Chính phủ Ấn Độ có kế hoạch giải toả 3 triệu tấn gạo vào cuối năm 2001 là
một ví dụ để gây sức ép với thị trường gạo thế giới. Cuối tháng 3/2000,
Inđônêxia đã quyết định ngừng nhập khẩu gạo chính ngạch cũng tạo những
biến động không nhỏ tới giá gạo nói chung. Tuy nhiên, độ nhạy cảm của thị
trường gạo còn phải phụ thuộc vào lượng dự trữ toàn cầu và của từng nước
cũng như tỷ giá giữa gạo và loại lương thực thay thế gạo như lúa mỳ, ngô...
- Gạo không những được buôn bán đơn thuần như một hàng hoá giữa
các nước khác nhau mà còn là một trong những mặt hàng chiến lược thực
hiện chính sách đối ngoại của các Chính phủ thông qua hình thức viện trợ.
Mỹ là nước đã sử dụng hình thức này như một chiến lược ngoại giao nhằm
tăng cường sự phụ thuộc của các nước khác vào nước mình trong các quan
hệ kinh tế quốc tế. Tương tự như vậy, EU thường nhập khẩu gạo để cung
cấp miễn phí cho các nước châu Phi để đổi lại các điều kiện khác về kinh tế.
11
- Trên thế giới có rất nhiều loại gạo mậu dịch phân loại theo các cách
khác nhau. Sự phong phú về chủng loại tạo nên sự đa dạng cho thị trường

đáng kể. Vì vậy, trong tình hình hiện nay, các nước đều đẩy mạnh các hoạt
động xuất khẩu để giảm hao phí và hư hao, đầu tư chiều sâu để tăng nhanh
năng suất và sản lượng. Để tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường, các
nước trang bị ngày càng tốt hơn từ việc chọn giống, thu hoạch, bảo quản,
12
chế biến, vận tải, bao gói và điều kiện giao hàng thích hợp với đòi hỏi của
thị trường thế giới.
1.1.2.2. Tình hình nhập khẩu gạo
* Tình hình chung
Nhập khẩu gạo của thế giới nhìn chung có xu hướng tăng lên nhưng
không ổn định trong những năm gần đây, tuỳ thuộc vào sản lượng lương
thực trong năm và khả năng thanh toán của những nước nhập khẩu. Đa số
các nước xuất khẩu gạo đạt sản lượng cao kỷ lục đã làm giảm mạnh giá gạo
trên thị trường thế giới.
Lượng nhập khẩu gạo của toàn thế giới cũng như từng nước thường
xuyên biến động và mang tính thời vụ rõ rệt. Vì sản xuất gạo phụ thuộc vào
điều kiện thiên nhiên, tỷ lệ dự trữ, tồn kho lương thực nên thường bất ổn.
Năm mất mùa, các nước thường cần gấp, nên nhập khẩu nhiều nhưng năm
khác lại giảm sản lượng nhập đáng kể. Khi giá gạo tăng cao, các nước có thể
chuyển sang nhập khẩu hàng thay thế cho gạo như lúa mì hoặc các ngũ cốc
khác, gây biến động không nhỏ cho sản lượng nhập khẩu gạo của toàn thế
giới.
Trong hơn 10 năm qua, sản lượng nhập khẩu tăng do nhu cầu tăng, đặc
biệt là năm 1998 lên tới 27,67 triệu tấn. Những năm sau đó có giảm nhẹ vì
được mùa ở các nước nhập khẩu. Ước tính toàn năm 2001, thế giới nhập
khẩu 22,30 triệu tấn gạo.
Bảng 1.3. Tình hình nhập khẩu gạo của thế giới (1998-2001)
Đơn vị: 1000 tấn
Nhập khẩu 1998 1999 2000 2001(ước)
Bắc Mỹ 840 4.439 4.718 4.744

nhưng không thường xuyên cung cấp đủ cho tập quán tiêu dùng trong nước.
Lượng gạo nhập khẩu ở các nước này không đều qua các năm. Tiêu biểu cho
nhóm này là Inđônêxia, Trung Quốc, Nhật Bản...
* Một số nước nhập gạo chủ yếu trên thế giới
1) Inđônêxia
Hiện nay, nước nhập khẩu gạo lớn nhất thế giới là Inđônêxia. Dù đã sản
xuất một lượng gạo không nhỏ cho tiêu dùng nhưng Inđônêxia vẫn phải
nhập khẩu nhằm đáp ứng nhu cầu trong nước, đảm bảo an ninh lương thực.
Đặc biệt vào năm 1995, nhập khẩu gạo của nước này tăng vọt lên tới 3,2
triệu tấn do chính sách dự trữ gạo của Nhà nước và tốc độ tăng nhanh của
dân số. Đến năm 1998, Inđônêxia tiếp tục nhập gạo với sản lượng 6,1 triệu
tấn cho tiêu dùng sau mất mùa. Năm 2000, Chính phủ Inđônêxia tăng thuế
nhập khẩu từ 0% lên 35% và cho phép tư nhân tự do nhập khẩu gạo nhưng
cấm các loại gạo chất lượng thấp. Tổng số lượng nhập khẩu năm 2000 giảm
xuống là 1,3 triệu tấn, bằng 1/3 so với năm 1999 (3,9 triệu tấn). Năm 2001,
dự đoán nước này cũng chỉ nhập khẩu khoảng hơn một triệu tấn gạo.
2) Iran
14
Trong nhiều năm qua, Iran thường xuyên nhập khẩu gạo với số lượng
khá ổn định, đứng thứ hai trên thế giới, chỉ sau Inđônêxia. Năm 1999, Iran
nhập 1,0 triệu tấn, năm 2000 tăng lên 1,1 triệu tấn và ước tính năm 2001 sẽ
lại giảm xuống mức 1,0 triệu tấn. Các số liệu trên đã cho thấy mức nhập
khẩu tương đối cố định của đất nước này. Với số dân 70 triệu, dự đoán trong
tương lai, Iran vẫn là nước nhập khẩu gạo lớn và có khả năng thanh toán
cao. Nhà cung cấp gạo chủ yếu của Iran là Thái Lan, Việt Nam, Pakistan.
3) Trung Quốc
Là nước sản xuất gạo lớn nhất thế giới nhưng Trung Quốc vẫn phải
nhập khẩu nhằm đảm bảo nhu cầu trong nước. Năm 2000, Trung Quốc nhập
khẩu 238.598 tấn gạo, tăng 42% so với năm 1999, trong đó hầu hết là gạo có
chất lượng cao của Thái Lan. Nhập khẩu tăng do sản lượng gạo Trung Quốc

lên trong những năm gần đây.
Xuất khẩu gạo thế giới tập trung ở một số nước đang phát triển, chiếm
75% đến 80% tổng số lượng xuất khẩu. Là châu lục sản xuất và tiêu thụ gạo
nhiều nhất, với tiềm năng, điều kiện thời tiết thuận lợi cho việc trồng lúa,
châu Á vẫn luôn là khu vực xuất khẩu nhiều nhất. Bình quân hàng năm, châu
Á cung cấp khoảng 70% lượng gạo xuất khẩu cho thị trường thế giới, đồng
thời còn là nơi tập trung hầu hết các nước có thế mạnh về gạo như Thái Lan,
Việt Nam, Ấn Độ, Trung Quốc....
* Các nước xuất khẩu gạo chính trên thế giới
1) Thái Lan
Tuy Thái Lan không phải là nước sản xuất gạo lớn trên thế giới nhưng
lại là nước có số lượng gạo xuất khẩu nhiều và ổn định nhất, đồng thời có
tốc độ tăng trưởng cao, gần 10%/năm. Từ năm 1977 đến nay, cụ thể vào
năm 1998 Thái Lan xuất khẩu 6,4 triệu tấn, năm 1999 đạt con số kỉ lục là 6,7
triệu tấn (25% lượng xuất khẩu toàn thế giới), năm 2000 số lượng xuất khẩu
đạt hơn 6,5 triệu tấn, giảm nhẹ so với năm trước do ảnh hưởng của lũ lụt và
bão nhiệt đới tại miền Đông Bắc. Trong tình hình giá cả quốc tế biến động
mà trong nước lại bội thu, Chính phủ Thái Lan đã thực hiện chương trình
can thiệp để ổn định giá gạo trong nước, giúp nông dân duy trì phát triển
trồng lúa. Các tổ chức quốc doanh Thái Lan đã mua gạo lưu kho và thực
hiện chính sách cho nông dân vay tín dụng dài hạn với lãi suất thấp. Chính
phủ Thái Lan đã thực hiện kế hoạch để phát triển ngành gạo, đặc biệt tập
trung vào thị trường gạo Jasmine, loại gạo đặc sản và là thế mạnh của Thái
Lan.
Năm 2001, dự kiến tổng xuất khẩu của Thái Lan đạt 6,7 triệu tấn.
Chiến lược xuất khẩu gạo Thái Lan gồm 3 điểm chính. Đối với sản xuất,
Thái Lan tiến hành nghiên cứu để giảm thất thoát trong quá trình thu hoạch.
Đối với thương mại và thị trường, Thái Lan áp dụng triệt để Marketing-mix,
tập trung tuyên truyền dùng gạo Hương nhài, xúc tiến bảo vệ và tăng chất
16

Là nước xuất khẩu gạo truyền thống với thị trường rộng lớn trên khắp
các châu lục, chất lượng gạo của Mỹ nổi tiếng là cao (loại A), đứng đầu thế
giới và có sức cạnh tranh ưu việt hơn hẳn các loại gạo khác, kể cả của Thái
Lan. Trong những năm đầu thập niên 90, Mỹ cung cấp khoảng 20% thị phần
gạo thế giới mà chủ yếu là các nước Mỹ Latinh (Mêhicô và Braxin). Xuất
khẩu gạo của Mỹ có được thành công nhờ vào hai lợi thế:
17
+ Thứ nhất, sự phát triển vượt bậc về công nghệ sản xuất, chế biến đến
bảo quản. Mỹ có hệ thống lưu kho dự trữ lớn nên gạo xuất khẩu luôn được
đảm bảo về mặt chất lượng, đáp ứng được những yêu cầu khắt khe nhất của
các nước nhập khẩu. Mỹ có thể xuất khẩu gạo ở các giai đoạn khác nhau của
quá trình chế biến, ở mọi chất lượng khác nhau cũng như đáp ứng mọi hình
thức bao gói hay chuyên chở.
+ Thứ hai, sức mạnh kinh tế, chính trị và các mối quan hệ với bạn hàng.
Gạo xuất khẩu của Mỹ được coi là “nông phẩm chính trị” và nằm trong cơ
chế bảo hộ của Nhà Trắng với nhiều chính sách như chính sách trợ cấp thu
nhập, chính sách trợ giá xuất khẩu hay cấp tín dụng xuất khẩu... Chính phủ
Mỹ thực hiện chính sách can thiệp mạnh vào giá gạo, cả trong nước và xuất
khẩu. Mỹ đã sử dụng gạo như một vũ khí để thực hiện mục tiêu đối ngoại
của mình trong các quan hệ kinh tế như việc gây áp lực đối với mở cửa thị
trường gạo của Nhật Bản và liên minh châu Âu.
Năm 2001, do những biến cố suy thoái kinh tế, đặc biệt vụ khủng bố
ngày 11 tháng 9 và cạnh tranh mạnh mẽ trên thị trường thế giới, dự đoán số
lượng xuất khẩu của Mỹ sẽ giảm xuống còn 2,6 triệu tấn và sẽ gặp khá nhiều
khó khăn trong xuất khẩu mặt hàng này.
4) Pakistan
Là quốc gia nằm trong khu vực Nam Á, với số dân gần 150 triệu người,
Pakistan có truyền thống xuất khẩu gạo từ nhiều thập kỷ nay, với lượng gạo
trung bình trong thời gian gần đây là 2 triệu tấn. Xuất khẩu gạo của nước
này tương đối ổn định với các loại gạo chất lượng trung bình và khá. Những

Chính phủ, khuyến khích xuất khẩu và bảo đảm an toàn lương thực, đặc biệt
là cố gắng xuất khẩu 3 triệu tấn gạo vào niên vụ 2000/2001.
1.2. Tình hình xuất khẩu gạo của Việt Nam
1.2.1. Vị trí chiến lược của xuất khẩu gạo trong nền kinh tế quốc dân
Việt Nam là một nước đông dân, trong đó gạo là lương thực chính và
khó có thể thay thế. Qua đó cho thấy tầm quan trọng của sản xuất gạo đối
với nền kinh tế quốc dân. Bên cạnh đó, khi đất nước đã có thể đảm bảo an
ninh lương thực, xuất khẩu gạo trong điều kiện kinh tế hiện nay có ý nghĩa
quyết định đối với quá trình hội nhập của nước ta và được thể hiện trên
nhiều khía cạnh, mà chủ yếu là:
1.2.1.1. Xuất khẩu gạo tăng thu ngoại tệ, tích luỹ vốn cho quá trình Công
nghiệp hoá- Hiện đại hoá (CNH-HĐH) đất nước
Quá trình CNH-HĐH đất nước được xác định tiến hành lâu dài và theo
những bước đi thích hợp. Để tiến hành thành công quá trình này, cần huy
động tối đa mọi nguồn lực của quốc gia, trong đó vốn là một yếu tố vô cùng
quan trọng. Có vốn mới có thể xây dựng cơ sở hạ tầng, nhập khẩu máy móc
thiết bị tiên tiến, hiện đại, đầu tư vào đào tạo nguồn nhân lực... Vốn thường
được huy động từ nhiều nguồn khác nhau: đầu tư nước ngoài, du lịch, vay
vốn trong dân, xuất khẩu... trong đó vốn thu được từ hoạt động xuất khẩu có
19
tác động lớn đến hoạt động nhập khẩu, qua đó đẩy mạnh tiến trình CNH-
HĐH đất nước.
Trong tổng kim ngạch xuất khẩu của nước ta những năm gần đây, kim
ngạch từ xuất khẩu gạo chiếm một tỷ trọng khá lớn. Gạo đã trở thành một
mặt hàng chủ lực của nông sản Việt Nam trên trường quốc tế. Thực tế cho
thấy xuất khẩu gạo từ lâu đã mang lại một nguồn vốn không nhỏ cho nước
ta. Theo số liệu mới nhất của Bộ Thương mại, trong suốt 11 năm từ 1989
đến 2000, tổng kim ngạch mà xuất khẩu gạo mang lại đạt gần 7 tỷ USD,
chưa kể đến xuất khẩu tiểu ngạch sang các nước láng giềng như Trung
Quốc, Lào, Campuchia. Như vậy, gạo đã chiếm tới khoảng 16% tổng kim

là khó khăn đối với mặt hàng gạo của Việt Nam vì chất lượng của ta còn
kém hơn so với các nước xuất khẩu khác, đặc biệt là Thái Lan. Tuy nhiên,
để đảm bảo sự tồn tại của gạo Việt Nam trên thị trường, các doanh nghiệp
buộc phải tổ chức, xem xét lại khâu sản xuất, hình thành một cơ cấu sản xuất
thích hợp, hạ giá thành sản phẩm đồng thời nâng cao chất lượng. Các kênh
phân phối cũng phải tổ chức lại một cách hợp lý, giảm thiểu chi phí nhằm
mang lại lợi nhuận tối đa.
1.2.1.3. Xuất khẩu gạo tác động tích cực đối với việc giải quyết công ăn việc
làm và cải thiện đời sống của nhân dân
Như trên đã phân tích, khi xuất khẩu gạo được đẩy mạnh sẽ kéo theo
những ngành nghề khác hỗ trợ cho sản xuất như các hoạt động thương mại,
dịch vụ bao gồm các công đoạn tổ chức thu mua thóc từ nông dân, tạo đầu
vào cho xuất khẩu. Các hoạt động này nếu được được tiến hành tốt, có sự chỉ
đạo đúng đắn sẽ tạo ra sự khai thông đầu ra cho sản phẩm thóc của nhân dân
ở thời vụ thu hoạch, kích thích nông dân canh tác, nâng cao năng suất. Từ đó
tác động trở lại đối với sản xuất và xuất khẩu. Như vậy, không chỉ sản xuất
gạo xuất khẩu có thể giải quyết việc làm, tạo thu nhập ổn định cho nhiều lao
động mà những ngành nghề khác có liên quan cũng góp phần giảm tỉ lệ thất
nghiệp của nước ta.
Xuất khẩu gạo tạo một thị trường trong nước ít biến động, cân bằng
được cung cầu, không còn lượng hàng dư thừa và tồn kho trong nước, giá
gạo nội địa sẽ ổn định và cao hơn tạo thêm thu nhập cho người nông dân.
Khi xuất khẩu gạo thu được thêm ngoại tệ một phần để nhập khẩu các mặt
hàng tiêu dùng mà trong nước không sản xuất được. Điều đó góp phần cải
thiện đáng kể đời sống nhân dân, khuyến khích họ tăng cường sản xuất gạo
xuất khẩu nhiều hơn nữa.
Xuất khẩu gạo tạo sự phân công lao động hợp lý trên phạm vi toàn thế
giới. Dựa vào lợi thế so sánh tương đối đối với các loại gạo Việt Nam,
chúng ta cần biết sản xuất loại gạo nào đạt hiệu quả cao nhất và có khả năng
bán với số lượng lớn, giá cao. Tham gia vào thị trường bên ngoài rộng lớn,

năm 1996 với số lượng hơn 3 triệu tấn, vượt qua Mỹ và chỉ xếp sau Thái
Lan, Ấn Độ. Kết quả này thực đáng ghi nhận vì vào năm này, Việt Nam phải
đối đầu với một loạt các thiên tai như bão nhiệt đới, lũ lụt... Các năm tiếp
theo, lượng gạo xuất khẩu vẫn tăng đều mà đỉnh cao là năm 1999 với 4,559
triệu tấn, thu về kim ngạch hơn 1 tỷ USD. Đến năm 2000, do những biến
động trên thị trường thế giới, lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam giảm
xuống, chỉ còn 3,47 triệu tấn, kim ngạch thu về đạt 667 triệu USD. Năm
2001, kinh tế thế giới tiếp tục có nhiều khó khăn nên dự đoán Việt Nam chỉ
22
xuất khẩu 3,470 triệu tấn. Số liệu về xuất khẩu gạo giai đoạn 1989-2001
được thể hiện cụ thể trong bảng sau:
Bảng 1.4. Kết quả xuất khẩu (1989-2001)
Năm Số lượng
% thay đổi so
với năm trước
Trị giá
(USD/ MT)
Giá bình quân
(USD/MT)
1989 1.372 100 310.249 226,1
1990 1.478 106 275.390 186,3
1991 1.016 -462 229.857 226,2
1992 1.954 938 405.132 207,3
1993 1.649 -305 335.651 203,5
1994 1.962 313 420.861 214,5
1995 2.025 63 538.838 266,1
1996 3.047 1022 868.417 285,0
1997 3.682 635 891.342 242,1
1998 3.793 111 1.005.484 265,1
1999 4.559 766 1.007.847 221,0

chính sách mới đúng đắn, sự năng động của nông dân cùng với những nỗ lực
của các nhà xuất khẩu, các nhà xay xát, chế biến và cả những thuận lợi, may
mắn do hoàn cảnh khách quan. Nhưng yếu tố chủ yếu nhất vẫn là cơ chế,
chính sách đã được hoàn thiện trong nhiều năm và sẽ liên tục được phát huy
trong những năm tới.
Nhìn chung trong thời gian qua, hoạt động xuất khẩu gạo đã có những
đóng góp rất quan trọng vào công cuộc phát triển chung của nền kinh tế.
Xuất khẩu gạo bước đầu có những thành công nhất định, chứng tỏ đường lối
đúng đắn của Đảng ta khi thực hiện chính sách mở cửa, đẩy mạnh tiến trình
hoà nhập của Việt Nam trên thị trường thế giới. Xuất khẩu gạo đã mang lại
hiệu quả kinh tế xã hội to lớn như đã phân tích là tạo nguồn thu ngoại tệ,
kích thích sản xuất lúa phát triển, góp phần đảm bảo an toàn lương thực
quốc gia, tạo việc làm ổn định cho lao động trong khu vực nông nghiệp và
mạng lưới lưu thông phân phối gạo rộng khắp cả nước, cung cấp nguồn
nguyên liệu dồi dào cho các ngành lương thực, thực phẩm.
1.2.2.2. Những tồn tại trong xuất khẩu gạo của nước ta
Ngoài những thành công đáng khích lệ, xuất khẩu gạo Việt Nam còn
tồn tại những yếu kém mà chúng ta cần xem xét, qua đó đề ra các biện pháp
cần khắc phục. Cụ thể là:
- Sức cạnh tranh trên thị trường thế giới của gạo Việt Nam vẫn còn
kém. Có nhiều nguyên nhân để giải thích song cần nhấn mạnh đến chất
lượng gạo thấp (qua khâu sản xuất và chế biến), cơ sở hạ tầng giao thông
24
cần thiết theo yêu cầu đã cũ kỹ, lạc hậu. Đây là điểm yếu cần khắc phục
ngay của gạo Việt Nam.
- Xuất khẩu gạo của Viêt Nam nhìn chung chưa ổn định. Vì thời gian
Việt Nam tham gia xuất khẩu còn chưa lâu so với các nước khác nên không
có được những bạn hàng truyền thống. Hơn nữa, chính sách bạn hàng của ta
còn nhiều bất cập, khó giữ được lòng tin ở khách hàng. Các đối thủ cạnh
tranh của Việt Nam có chất lượng gạo tốt hơn song về giá cả, gạo Việt Nam

vi của tập hợp người tiêu dùng đáng quan tâm theo chiều hướng thuận lợi
cho việc thực hiện các mục tiêu của cơ quan, tổ chức đó”.
Dưới góc độ kinh tế vĩ mô, ngoài việc cân bằng cán cân thương mại,
những mục tiêu này bao gồm:
- Thứ nhất, sự ổn định vững chắc của kinh tế đất nước.
- Thứ hai, sự phân bố thu nhập đồng đều giữa người sản xuất, nhà xuất
khẩu.
2.1.2. Khái niệm về Marketing-mix và các thành phần cơ bản của
Marketing-mix
Theo Kotler, Marketing-mix là tập hợp những công cụ Marketing được
sử dụng để theo đuổi những mục tiêu Marketing của mình trên thị trường
mục tiêu. Marketing-mix bao gồm bốn yếu tố chính: chiến lược sản phẩm,
chiến lược giá cả, chiến lược phân phối và chiến lược xúc tiến và hỗ trợ kinh
doanh. Meredith G.G (1991), trang 9 có nói rõ về 4 yếu tố này như sau:
Bảng 2.1. Các thành phần của Marketing-mix
Sản phẩm Phân phối Xúc tiến Giá cả
Chủng loại Vị trí các đại lý Quảng cáo Giá cơ sở
Chất lượng Loại đại lý Tiêu thụ cá nhân Điều kiện tín dụng
Nhãn hiệu Kho chứa hàng Bán trực tiếp Điều kiện chuyển giao
Bao bì
Sử dụng bởi nhà
bán buôn
Xúc tiến bán hàng Bảo hành
Dịch vụ
Sử dụng bởi nhà
bán lẻ
Công cộng Chiết giá và bớt giá
Giao hàng Đại lý độc quyền Quan hệ với công chúng Chiết khấu
26
* Chiến lược sản phẩm

27
MM
P
1P
2

P
4
P
3
Đỉnh chóp của Marketing-mix toả ra 4 trục chính xuống các điểm của
4P là MM-P
1
, MM-P
2
, MM-P
3
, MM-P
4
. Như vậy, đỉnh chóp MM đã hình
thành sự phối hợp giữa các P. Do đó, tại bất kỳ điểm P nào cũng luôn luôn
có sự liên kết với các P khác. Mối liên kết giữa các P là mối liên hệ qua lại
hai chiều.
Nội dung phối hợp hài hoà 4P cần phải thực hiện đồng bộ theo một kế


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status