A- đặt vấn đề
Xu thế toàn cầu hóa thơng mại đang là những đặc điểm cơ bản của phát
triển trên thế giới hiện nay. Đối với Việt Nam, nhất là sau khi gia nhập khối
ASEAN, AFTA, hiệp định thơng mại Việt- Mĩ và những bớc tiếp theo WTO, đã
có nhiều cơ hội phát huy lợi thế so sánh, tháo gỡ hạn chế về thị trờng xuất khẩu,
tạo lập môi trờng thơng mại mới nhằm trao đổi hàng hóa- dịch vụ, kỹ thuật và
thông tin đã tạo cơ sở động lực quan trọng cho tăng trởng và phát triển kinh tế.
Để phù hợp với xu thế toàn cầu hoá, Đảng và Nhà nớc ta đã có những đổi mới
trong đờng lối phát triển kinh tế, đặc biệt là có những chính sách mới để phát
triển nông nghiệp nông thôn. Sau hơn mời năm thực hiện chính sách đổi mới,
nông nghiệp đã có những kết quả khá tốt, đặc biệt trong sản xuất cũng nh xuất
khẩu lúa gạo. Từ một nớc thiếu lơng thực, nay đã trở thành một nớc không chỉ
đảm bảo đầy đủ các nhu cầu tiêu dùng trong nớc mà còn có khối lợng xuất khẩu
ngày một tăng, là nớc đứng thứ hai (sau Thái Lan) về xuất khẩu gạo, sản lợng
gạo của Việt Nam hàng năm tăng, cơ cấu sản xuất nông nghiệp đang chuyển dịch
theo hớng phát huy lợi thế so sánh các sản phẩm ở từng vùng, từng địa phơng
trong cả nớc. Kim ngạch xuất khẩu gạo cũng tăng lên đều đặn, thị trờng đợc mở
rộng liên tục. Hiện nay, lúa gạo của Việt Nam đã có mặt ở hơn 80 quốc gia trên
thế giới. Việc xuất khẩu gạo góp phần quan trọng đa đất nớc vợt qua thời kỳ khó
khăn, ổn định kinh tế, chính trị và xã hội, tạo tiền đề bớc vào giai đoạn phát triển
mới công nghiệp hoá và hiện đại hoá.
Mặc dù Việt Nam tham gia xuất khẩu gạo đợc 13 năm nhng hiệu quả xuất
khẩu gạo của Việt Nam còn thấp, chênh lệch về giá xuất khẩu gạo của Việt Nam
và thế giới còn lớn. Khả năng cạnh tranh của Việt Nam trên thị trờng thế giới chủ
yếu dựa vào giá thấp, thị trờng không ổn định. Hệ thống thu gom xuất khẩu còn
yếu kém, đơn lẻ nên cha phù hợp và đáp ứng đợc nhu cầu xuất khẩu. Vì vậy, để
việc sản xuất, tiêu thụ, xuất khẩu gạo đạt hiệu quả thì cần có giải pháp với những
chính sách đồng bộ, cần sự phối hợp điều hành của các bộ, ngành có liên quan để
tìm ra lối thoát thực sự của gạo Việt Nam trên thị trờng thế giới.
1
Từ thực tế trên mà em đã chọn đề tài: "Các giải pháp đẩy mạnh xuất
cụ thể nh sau:
+ Xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành có liên quan phát triển theo.
+ Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng khả năng tiêu dùng của một quốc gia,
ngoại thơng có thể cho phép một nớc có thể tiêu dùng tất cả các mặt hàng với
một lợng lớn hơn nhiều lần khả năng xuất khấu của quốc gia đó.
3
+ Xuất khẩu là phơng tiện quan trọng để tạo vốn và thu hút công nghệ kỹ
thuật mới từ các nớc phát triển nhằm hiện đại hoá nền kinh tế nội địa, tạo năng
lực sản xuất mới.
+ Xuất khẩu còn có vai trò thúc đẩy chuyên môn hoá, tăng cờng hiệu quả
sản xuất của từng quốc gia.
+ Xuất khẩu có tác động tích cực tới việc giải quyết công ăn việc làm, cải
thiện đời sống của nhân dân.
+ Xuất khẩu tạo nguồn ngoại tệ để nhập khẩu hàng tiêu dùng, đáp ứng nhu
cầu ngày càng phát triển đa dạng và phong phú của nhân dân.
+ Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các mối quan hệ kinh tế đối
ngoại, tín dụng quốc tế phát triển theo.
* Đối với doanh nghiệp:
Ngày nay, với xu thế vơn ra thị trờng thế giới là một xu thế chung của tất
cả các quốc gia và các doanh nghiệp. Thông qua xuất khẩu, các doanh nghiệp có
cơ hội tham gia vào cạnh tranh trên thị trờng thế giới về chất lợng và giá cả. Tuy
nhiên, để có thể đứng vững doanh nghiệp luôn phải đổi mới và hoàn thiện công
tác quản lý kinh doanh.
2.Vai trò của xuất khẩu lúa gạo.
Gạo là sản phẩm tối cần thiết của con ngời, vì vậy nhu cầu về gạo là thờng
xuyên liên tục và không thể thiếu đợc. Sản xuất lúa gạo là một nội dung cơ bản
trong chiến lợc phát triển kinh tế-xã hội chung của đất nớc trên thế giới do sự
phân bố không đều về đất đai và thời tiết khí hậu cho nên có những nớc có điều
kiện tự nhiên rất thuận lợi cho việc sản xuất lúa gạo nhng cũng có những nớc
điều kiện tự nhiên không cho phép sản xuất lúa gạo hoặc nếu có thì năng suất và
quy định về mức giá sàn trong thu mua và nhiều chính sách hỗ trợ ngời nông dân
cho nên sản lợng gạo tăng. Cùng với việc tăng sản lợng gạo, sản lợng gạo xuất
khẩu cũng tăng đều hàng năm, chính vì thế mà Việt Nam dợc xem nh là một
trong những nớc xuất khẩu gạo lớn trên thế giới. Do có sự đầu t, cải tiến công
nghệ chế biến và củng cố phát triển cơ sở hạ tầng nên chất lợng gạo xuất khẩu đã
5
đợc cải thiện nhiều. Quan hệ bạn hàng lại đợc xúc tiến mở rộng cho đến nay
chúng ta đã có đợc một số khách hàng tốt và thị trờng tơng đối ổn định. Thêm
vào đó, khoảng cách giá xuất khẩu của ta và thế giới có chiều hớng thu hẹp. Các
doanh nghiệp của ta đã từng bớc trởng thành trong thơng trờng nhất là trong việc
tìm kiếm và phát triển thị trờng. Phơng thức kinh doanh ngày càng phong phú đa
dạng hơn. Các hình thức bán hàng thông qua dự thầu, chuyển khẩu đã đợc áp
dụng. Các chính sách của Nhà nớc ở một chừng mực nào đó đã có tác động tích
cực đến hoạt động xuất khẩu. Cụ thể là: Năm 1989 nớc ta chính thức tham gia
vào thị trờng lúa gạo thế giới với số lợng xuất khẩu 1,42 triệu tấn, thu về 290
triệu USD, giá bình quân 204 USD/tấn. Tuy sản lợng gạo xuất khẩu cha nhiều,
giá còn thấp, chất lợng gạo cha phù hợp với thị trờng thế giới, nhng đối với nớc
ta, kết quả đó đánh dấu sự sang trang của sản xuất lúa gạo từ tự cấp tự túc sang
sản xuất hàng hoá gắn với xuất khẩu. Đó cũng là thành tựu rõ nét của nông
nghiệp sau 1 năm thực hiện nghị quyết 10 của Bộ chính trị Đảng CSVN (khoáVI)
về đổi mới công tác quản lý trong nông nghiệp và thừa nhận vai trò tự chủ của
kinh tế hộ nông thôn.Theo tinh thần của nghị quyết 10 của Bộ chính trị và các
chính sách kinh tế- tài chính của Đảng và Nhà nớc, sản xuất nông nghiệp nói
chung và sản xuất lúa gạo nói riêng ở nớc ta đã phát triển ổn định và tăng trởng
nhanh. Xét trên góc độ hiện nay rõ ràng xuất khẩu gạo là một lợi thế của nớc ta
và lợi thế này nếu biết khai thác hợp lý sẽ tồn tại lâu dài và là một hớng làm giàu
cho đất nớc ít có sản phẩm nào sánh kịp.
* Khó khăn:
Trong xuất khẩu gạo Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn và yếu kém.
Thứ nhất: Sau hơn 13 năm xuất khẩu gạo và hiện nay trở thành nớc xuất