Lý thuyết phát triển bền vững - Pdf 11

Khái Niệm, Nguyên Tắc Định Hướng, Thử Thách, Giới Hạn Và Viễn Tượng Tương
Lai
Từ khoảng hơn mười năm nay, phát triển bền vững (PTBV) đã trở thành một khái
niệm vô cùng phổ thông. Nói tới phát triển kinh tế và phát triển xã hội, phát triển
quốc gia hay phát triển địa phương, phát triển toàn cầu hoặc phát triển khu vực, v.v. ,
“phát triển” đều được hiểu theo nghĩa “phát triển bền vững”. Phát Triển Bền Vững là
hướng đi mà Tổ chức Liên Hiệp Quốc, chính phủ các quốc gia, các đoàn thể và công
đoàn, các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức quần chúng, v.v. đã tán đồng và ủng hộ.
Các nước giầu cũng như các quốc gia có thu nhập thấp đều chủ trương Phát Triển
Bền Vững, soạn thảo các chương trình và kế hoạch kinh tế-xã hội theo hướng và
trong tinh thần của sự Phát Triển Bền Vững. Gần đây, Ngân hàng thế giới đã chọn
Phát Triển Bền Vững làm đề tài cho phúc trình thường niên 2003 với tựa là “Phát
triển bền vững trong một thế giới năng động” (Sustainable Development in a
Dynamic World, World Development Report 2003, World Bank).
Phát triển bền vững là gì ? là thế nào ? Tại sao cần đi theo hướng Phát Triển Bền
Vững ? Đâu là các đặc tính, nguyên tắc của sự Phát Triển Bền Vững ? Phát Triển Bền
Vững có những định đề nào ? Phát Triển Bền Vững đòi hỏi những điều kiện gì ? Thi
hành Phát Triển Bền Vững thường gặp những trở ngại khó khăn nào và những thử
thách hoặc giới hạn gì ? Làm sao thực hiện Phát Triển Bền Vững trong hoàn cảnh đói
nghèo trên thế giới và với tiến trình toàn cầu hóa bất bình đẳng ? Kết quả Phát Triển
Bền Vững trên thế giới ra sao và viễn tượng tương lai như thế nào ?
Với chủ ý làm sáng tỏ các vấn đề và trả lời các câu hỏi vừa nêu, bài viết dưới đây sẽ
đề cập tới các tiết mục sau đây :
- Nguồn gốc và ý nghĩa của khái niệm Phát Triển Bền Vững.
- Luận thuyết Phát Triển Bền Vững và các nguyên tắc định hướng.
- Các định đề và điều kiện của Phát Triển Bền Vững.
- Các thử thách và giới hạn thi hành Phát Triển Bền Vững.
- Phát Triển Bền Vững và vấn đề đói nghèo và tiến trình toàn cầu hóa.
- Kết quả Phát Triển Bền Vững và viễn tượng tương lai.
1. Khái niệm phát triển bền vững : nguồn gốc và ý nghĩa
Cách đây hơn một nửa thế kỷ, khi thế giới bước ra khỏi thế chiến thứ hai, vấn đề phát

phiến diện về hoạt động và sản xuất kinh tế. Nó chú trọng tới số lượng sản xuất,
phương diện vật chất của hoạt động kinh tế. Trái lại, phát triển kinh tế là một khái
niệm xuất hiện vào khoảng giữa thập niên những năm 1960 từ một nhận thức mở
rộng về kinh tế, không còn tính cách máy móc, eo hẹp. Theo khái niệm mới này
“thêm” không đồng nghĩa với “hơn”. Do đó tăng trưởng kinh tế, sản xuất “thêm”
không chắc chắn chỉ có lợi và thuần túy tích cực mà có thể ảnh hưởng không tốt làm
môi trờng, môi sinh tiêu hao hoặc hư hại. Ngược lại, phát triển kinh tế là một nhận
thức toàn diện bao gồm các khía cạnh tinh thần và vật chất, kinh tế và xã hội, phẩm
và lượng. Phát triển kinh tế gợi ý phải có đổi thay và tiến bộ không ngừng, về phẩm
và lượng, để kinh tế-xã hội ngày một “hơn” một cách toàn diện, cân đối, thống nhất.
Như vậy nếu tăng trưởng kinh tế nghịch với yêu cầu bảo vệ môi trường-môi sinh, thì
phát triển kinh tế lại có khả năng bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, di sản sinh thái, môi
trường-môi sinh. Phát triển kinh tế giữ được vai trò phát huy quan hệ hỗ tương giữa
hoạt động kinh tế-xã hội với môi trường-môi sinh để loài người có cuộc sống thực sự
tiến bộ, có an sinh và phúc lợi, có môi trường-môi sinh không ô nhi ễm, có hệ sinh
thái cân bằng xung quanh.
Một năm sau Câu lạc bộ La Mã công bố phúc trình “Ngừng tăng trưởng”/“Giới hạn
của tăng trưởng”, tổ chức Liên Hiệp Quốc triệu tập năm 1972 tại Stockholm Hội nghị
Liên Hiệp Quốc về Môi trường (Conférence des Nations Unies sur l’Environnement).
Hội nghị đã diễn ra trong bầu không khí tranh cãi sôi nổi. Hội nghị đã đề nghị một
khái niệm mới là “phát triển tôn trọng môi sinh” (éco-développement) với chủ trương
bảo vệ môi trường, tôn trọng môi sinh, quản lý hữu hiệu tài nguyên thiên nhiên, thực
hiện công bằng và ổn định xã hội. Khái niệm “phát triển tôn trọng môi sinh” (éco-
développement) bị các nước đã phát triển và giầu có chống đối mạnh mẽ. Cuối cùng
hội nghị chỉ thảo luận vấn đề ô nhiễm và chấm dứt với sự tán đồng quan điểm có mối
liên hệ và ảnh hưởng hỗ tương giữa nếp sống của loài người với môi trường-môi sinh,
giữa phát triển kinh tế-xã hội với bảo tồn tài nguyên và ổn định thiên nhiên. Ngoài ra
các nước cũng thỏa thuận và cam kết hành động để bảo vệ môi trường-môi sinh và
thành lập những cơ quan quốc tế và quốc gia có nhiệm vụ bảo vệ môi trường-môi
sinh. Mặc dù đề nghị “phát triển tôn trọng môi sinh” không được chấp thuận, nó đánh

bền vững”(Sommet mondial pour le développement durable/World Summit on
Sustainable Development). Hội nghị Johannesburg đã xác định phải xúc tiến và thực
hiện Agenda 21 và đã đề ra các mục tiêu cho thiên niên kỷ 21.
2. Luận thuyết phát triển bền vững và các nguyên tắc định hướng
Luận thuyết Phát Triển Bền Vững đi từ nhận định rằng loài người không tôn trọng,
không bảo toàn môi trường môi sinh. Thiên nhiên bị hư hại, hệ sinh thái mất cân
bằng, di sản môi trường-môi sinh suy thoái khiến loài người bị đe dọa, tình trạng đói
nghèo trên thế giới nghiêm trọng, chênh lệch giầu nghèo giữa các nước gia tăng. Tài
nguyên thiên nhiên sút giảm và thiếu hụt. Vấn đề đặt ra là làm sao thỏa mãn yêu cầu
căn bản của con người, bảo đảm tương lai và an sinh cho các thế hệ về sau và đồng
thời bảo toàn môi trường-môi sinh. Phương cách giải quyết vấn đề này là “phát triển
bền vững” (PTBV), phát triển tổng hợp, toàn bộ, về tất cả các phương diện môi
trường, môi sinh, kinh tế, xã hội và chính trị bởi vì không thể có bền vững môi trường
môi sinh nếu không có bền vững chính trị để bảo vệ hệ sinh thái. Cũng không thể có
công bằng xã hội nếu không bảo đảm được sự bền vững và cân bằng sinh thái cần
thiết để bảo đảm loài người sẽ tồn tại. Và cũng không thể chăm lo tăng trưởng kinh tế
nếu sự tăng trưởng này làm hư hại môi trường-môi sinh, gây tai biến thiên nhiên mà
hậu quả là có thể đưa loài người tới thảm họa.
Phát Triển Bền Vững bác bỏ các quan niệm thị trường tự điều hòa và quan niệm con
người có nhu cầu mênh mông, không bao giờ hết, không cần định chừng mực. Phát
Triển Bền Vững chống khuynh hướng tiêu dùng không giới hạn và chủ trương loài
người phải xét lại quan niệm và các mẫu mực về an sinh, phúc lợi và chất lựợng của
cuộc sống.
Phát Triển Bền Vững cho rằng vì sự chênh lệch giầu nghèo trên thế giới cho nên bắt
buộc phải theo một hướng đi mới. Một mặt cần phải kìm giữ sử dụng tài nguyên,
ngăn ngừa ô nhiễm môi trường và phá hủy môi sinh, giảm thiểu rác thải. Mặt khác, số
dân đói nghèo trên thế giới có yêu cầu gia tăng tiêu dung và sản xuất để thỏa mãn các
yêu cầu căn bản, bảo vệ và nâng cao nhân phẩm. Phát Triển Bền Vững nhận định
rằng quan hệ không cân bằng, không bình đẳng trên thế giới và mô hình toàn cầu hóa
kiểu tân tự do là một mối đe dọa cần phải phòng chống. Phát Triển Bền Vững chỉ là

Triển Bền Vững cần đề phòng tai biến, không để có người sống ngoài lề xã hội hoặc
bị xã hội ruồng bỏ. Xã hội một nước không thể Phát Triển Bền Vững nếu có một tầng
lớp xã hội đứng ngoài công cuộc xây dựng và mở mang quốc gia. Thế giới sẽ không
có Phát Triển Bền Vững về mặt xã hội nếu cuộc sống hoặc tính mạng của một phần
nhân loại bị đe dọa vì bệnh tật, đói nghèo, thiên tai, v.v. Phát Triển Bền Vững về mặt
xã hội còn có nghĩa con người có môi trường sống hài hòa, công bằng và có an sinh.
- Về mặt kinh tế, cần phải phân biệt phát triển với tăng trưởng. Tăng trưởng chú trọng
tới vật chất và số lượng, tích lũy và bành trướng trong khi phát triển quan tâm tới
tiềm năng, phẩm chất, phục vụ con người một cách toàn diện, về vật chất lẫn tinh
thần. Phát Triển Bền Vững về mặt kinh tế nghịch với gia tăng sản xuất không giới
hạn, chinh phục thị trường bằng mọi cách, thương mại hóa bất cứ hàng hóa hoặc dịch
vụ nào, tìm lợi nhuận tối đa trong mọi hoàn cảnh. Phát Triển Bền Vững kinh tế đòi
hỏi phải cân nhắc ảnh hưởng bây giờ hay sau này của hoạt động và tăng trưởng sản
xuất lên chất lượng cuộc sống, cứu xét xem có gì bị hư hại, bị phí phạm.
- Phát Triển Bền Vững về phương diện môi trường có nghĩa phải bảo vệ khả năng tái
sinh của hệ sinh thái, nhịp độ gia tăng sử dụng tài nguyên có khả năng tái sinh phải
thấp hơn tốc độ tái sinh, việc sử dụng tài nguyên không có khả năng tái sinh phải tùy
thuộc khả năng sáng chế tư liệu thay thế. Sau cùng, mức độ ô nhiễm phải thấp hơn
khả năng tái tạo của môi trường, môi sinh. Yêu cầu bền vững về môi trường-môi sinh
buộc phải giới hạn sự tăng trưởng kinh tế. Cần phải thừa nhận rằng kinh tế chỉ là một
bộ phận của hệ sinh thái và phát triễn kinh tế phải bảo vệ môi trường-môi sinh.
- Về phương diện chính trị, Phát Triển Bền Vững có nghĩa hết hợp và dung hòa các
vấn đề xã hội, kinh tế và môi trường để hệ thống tổ chức và sinh hoạt chính trị không
có căng thẳng, xáo trộn, có thể đi tới rối loạn hoặc đổ vỡ. Các định chế chính trị cần
phải phải tôn trọng và bảo vệ công bằng, khuyến khích các đối tượng thụ hưởng đối
thoại và tham gia trong tinh thần phù hợp với các nguyên tắc dân chủ tự do. Tính
quan liêu và bàn giấy phải được xóa bỏ vì nó trói buộc con người, đè nén xã hội, cản
trở mọi sự đổi thay, tiến bộ. Tôn trọng đạo lý cũng là một yêu cầu rất cần, gần như
một bắt buộc.
3. Các định đề và điều kiện của phát triển bền vững

thế giới và dân tộc mỗi nước có quyền lợi chung để phòng chống ô nhiễm, bảo toàn
di sản sinh thái. Trong mọi lãnh vực, những quan hệ hợp tác quốc tế, giao dịch và
trao đổi ngày càng nhiều cho thấy sự liên hệ phụ thuộc lẫn nhau giữc các nước. Nhằm
giải quyết các thử thách lớn như xóa đói giảm nghèo, quản lý tiến trình toàn cầu hóa,
bảo vệ môi trường-môi sinh tinh thần liên đới là một điều kiện chính.
- Quyền tự quản, tự quyết : Dự án Phát Triển Bền Vững không thể tiến hành được
nếu quyền tự quản, tự quyết của các quốc gia, các sắc tộc, các đoàn thể, v.v. trong
việc chọn lựa hướng đi không được thừa nhận và tôn trọng. Những khác biệt trên thế
giới về điều kiện khách quan, phương tiện hành động, năng lực phát triển, yêu cầu
sản xuất và tiêu dùng, v.v. đòi hỏi phải dung hòa các mục tiêu chung và toàn cầu với
quyền lợi dân tộc của mỗi quốc gia. Phát Triển Bền Vững đòi hỏi phải thiết lập
những quan hệ đối tác thực tiễn và hợp lý để song song tiến hành chiến lược chung về
Phát Triển Bền Vững và thực hiện các kế hoạch quốc gia.
- Tinh thần trách nhiệm và gánh chịu : Dự án Phát Triển Bền Vững là một công cuộc
phức tạp, không đặt ra khuôn khổ và những quy tắc mẫu mực rõ rệt có tính bắt buộc.
Chính sách và chương trình Phát Triển Bền Vững chờ đợi các đối tượng thụ hưởng
thể hiện tinh thần trách nhiệm, tính kỷ luật tự giác, khả năng gánh chịu hậu quả nếu
xẩy ra. Vì sự liên hệ giữa kinh tế, xã hội và môi trường và ảnh hưởng của nó lên tất
cả các khía cạnh của cuộc sống, Phát Triển Bền Vững còn đòi hỏi hành động phải có
cân nhắc và cẩn trọng với mục đích chính là để tránh gây cho môi trường-môi sinh
những hậu quả không đảo ngược được. Phát Triển Bền Vững còn một điều kiện nữa
là khả năng kiểm tra kết quả hoạt động và phương tiện phòng ngừa và sửa chữa tai
biến.
- Giáo dục, huấn luyện và thông tin : Dự án Phát Triển Bền Vững, các chương trình
bảo vệ môi trường-môi sinh không thể tiến hành, có hiệu lực và có kết quả nếu quần
chúng không nhận thức đúng mức về yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội, không ý thức
được tầm quan trọng của các vần đề và thử thách thời đại và không chấp nhận những
bắt buộc hoặc điều kiện của Phát Triển Bền Vững. Giáo dục, huấn luyện và thông tin
là những yếu tố không kém quan trọng so với các điều kiện trước của Phát Triển Bền
Vững.

Vững nhưng không xác định được các định chế toàn cầu hay quốc gia và cơ chế cần
thiết để khuyến khích hoặc thúc đẩy các quốc gia, khu vực tư nhân, các công ty xuyên
quốc gia, v.v. chấp nhận và thực thi Chương Trình Nghị Sự.
- Các nguồn tài chính đã dự tính để thực hiện một phần Chương Trình Nghị Sự Thế
Kỷ 21 không đạt được mức chờ đợi (chủ yếu là viện trợ phát triển chính thức không
đạt được tỷ lệ 0,7% tổng sản lượng quốc gia của các nước giầu). Các nguồn tài chính
khác cũng thiếu hụt hoặc phân chia bất lợi cho Phát Triển Bền Vững (chẳng hạn đầu
tư trực tiếp nước ngoài gia tăng nhưng tập trung vào một số nước và vài khu vực).
Từ những khó khăn chủ yếu vừa kể nhiều thử thách khác nẩy sinh ra khiến càng giới
hạn việc thực hiện dự án Phát Triển Bền Vững và làm Chương Trình Nghị Sự Thế Kỷ
21 kém hiệu lực. Những thử thách thường được nhắc tới nhiều nhất gồm có :
- Vấn đề quản lý và điều phối tiến trình toàn cầu hóa để tạo thuận lợi cho Phát Triển
Bền Vững : Cơ quan nào, tổ chức nào có thể giữ vai trò này ? Yêu cầu thành lập các
định chế có trách nhiệm và năng lực quản lý các chương trình hành động đã được đặt
ra nhưng chưa có giải đáp.
- Một thử thách khác là công cuộc xóa đói giảm nghèo tại các nước chậm tiến hầu
như hoàn toàn thuộc trọng trách của nhà nước, không nằm trong phạm vi hoặc không
nhận được sự đóng góp của khu vực tư nhân trong và ngoài nước. Cơ chế thi trường
và đầu tư nội địa hoặc đầu tư trực tiếp nước ngoài không có hiệu lực trong việc cung
cấp phương tiện và thỏa mãn yêu cầu về giáo dục, vệ sinh, y tế, an ninh lương thực,
nước sạch, bảo vệ thiên nhiên, v.v.
- Do thiếu các định chế và cơ chế để quản lý dự án Phát Triển Bền Vững, các định đề
và điều kiện của Phát Triển Bền Vững không được thỏa mãn như cần thiết. Các quốc
gia diễn nghĩa khác nhau định hướng và chương trình hành động, gây nhiều bất đồng
ý kiến và tranh cãi song phương hoặc đa phương. Việc giải quyết các bất đồng này rất
phức tạp, dựa trên hàng trăm công ước và tuyên ngôn quốc tế và đòi hỏi nhiều thời
gian và rất tốn kém.
- Công tác thực hiện Phát Triển Bền Vững không hội đủ các điều kiện thuận lợi nhất.
Cụ thể là thiếu cơ quan xét sử, thiếu cơ chế có tính ràng buộc, thiếu mạch lạc thống
nhất giữa quy chế Tổ Chức Thương Mại Thế Giới và các công ước và tuyên ngôn

trường-môi sinh và có cuộc sống gây ô nhiễm nhiều hơn tầng lớp có nếp sống cao.
Còn tại các nước chậm tiến, vì phải thỏa mãn các yêu cầu tối thiểu và vì thiếu phương
tiện tài chính, kỹ thuật, vật chất và tri thức cho nên không có khả năng bảo vệ môi
trường-môi sinh. Không những thế, tại các nước này, hệ sinh thái bị hư hại, các
nguồn tài nguyên thiên nhiên bị cạn kiệt, tình trạng ô nhiễm ngày càng nghiêm trọng.
Cuối cùng phát triển kinh tế-xã hội thu hẹp thành tăng trưởng sản xuất và tiêu dùng,
rồi hầu như hoàn toàn mất tính bền vững, không còn có tầm xa. Tình trạng đói nghèo
ảnh hưởng bất lợi lên môi trường-môi sinh tới mức khiến cựu thủ tướng Indira
Gandhi đã tuyên bố rằng “đói nghèo là thủ phạm gây ô nhiễm đáng sợ nhất”.
Các quốc gia giầu đã thỏa thuận năm 1992 tại Rio de Janeiro sẽ dành 0,7% tổng sản
lượng quốc gia để viện trợ phát triển cho các nước chậm tiến trong công cuộc xóa đói
giảm nghèo nói riêng, phát triển bền vững nói chung. Tuy nhiên, chỉ có bốn quốc gia
đạt được tỷ lệ đã được chấp thuận. Nói chung, viện trợ phát triển chính thức của các
nước đã phát triển chỉ lên tới khoảng 0,25% tổng sản l ượng quốc gia và có khuynh
hướng giảm sút.
Trong những năm vừa qua, số người nghèo trên thế giới giảm chậm và chênh lệch
giầu nghèo gia tăng. Tiến trình toàn cầu hóa không giúp làm cắt giảm mức độ đói
nghèo. Tình trạng nghiêm trọng đã buộc Ngân Hàng Thế Giới và Qũy Tiền Tệ Quốc
Tế đưa ra chiến lược xóa đói giảm nghèo và chương trình giảm nợ cho các nước vay
nợ nhiều nhất và không có khả năng thi hành nghĩa vụ hoàn nợ. Tại Hội nghị Thượng
đỉnh Thiên niên kỷ nhóm họp tại New York (tháng 9 năm 2000) các nước hội viên Tổ
chức Liên Hiệp Quốc đã thỏa thuận đặt mục tiêu là giảm một nửa tỷ lệ số người đói
nghèo trên thế giới vào năm 2015. Dựa trên những bước tiến của dự án Phát Triển
Bền Vững trên thế giới trong ba năm vừa qua thì không có nhiều triển vọng mục tiêu
vô cùng căn bản này sẽ được thực hiện.
Phát triển bền vững và tiến trình toàn cầu hóa
Mặc dù tiến trình toàn cầu hóa đã có những chuyển đổi tích cực song nó vẫn còn dựa
trên học thuyết kinh tế tân tự do và nguyên tắc thị trường tự điều hòa. Hình thức của
tiến trình toàn cầu hóa hiện nay còn thiếu công bằng. Các quan hệ quốc tế về kinh tế,
thương mại, tài chính mà tiến trình toàn cầu hóa đã đưa tới một trình độ phát triển rất

nghịch nhau. Cả hai đều không có tổ chức hay cơ quan quốc tế quản lý và điều hợp,
không theo những quy tắc có tính cách ràng buộc hay bắt buộc phải tuân theo. Vấn đề
này là một thử thách rất lớn cho thế giới bước vào thiên niên kỷ mới.
6. Kết quả phát triển bền vững và viễn tượng tương lai
Tại Hội nghị Thượng đỉnh về Phát Triển Bền Vững tổ chức tại Johannesburg (26
tháng 8 tới 4 tháng 9 năm 2002), Tổ chức Liên Hiệp Quốc đã đưa ra một bản đúc kết
thực hiện Chương Trình Nghị Sự Thế Kỷ 21 không mấy lạc quan nếu nhìn một cách
ngắn hạn và tìm những thành quả cụ thể. Hội nghị đã xác định lại cam kết thực hiện
và tiếp tục ủng hộ Chương Trình Nghị Sự Thế Kỷ 21. Hội nghị cũng đã thể hiện
những khác biệt rất rõ về quyền lợi, mục tiêu và thứ tự ưu tiên hành động của các
nước xung quanh ba vấn đề trọng yếu là Phát Triển Bền Vững, tiến trình toàn cầu hóa
và môi trường-môi sinh. Cụ thể những bất đồng quan điểm chính là :
- Cách thức thi hành các định đề, nguyên tắc và điều kiện của Phát Triển Bền Vững.
- Các nguồn lực và phương tiện tài chính cần thiết để thực hiện Phát Triển Bền Vững.
- Các cơ chế cần thiết cho việc quản lý và điều tiết tiến trình toàn cầu hóa, đặc biệt về
hai mặt kinh tế và thương mại.
- Thời biểu quy định chương trình thực hiện các mục tiêu của Phát Triển Bền Vững.
- Quan hệ giữa phát minh và tiến bộ kỹ thuật với yêu cầu của Phát Triển Bền Vững.
- Yêu cầu thống nhất và tạo mạch lạc về chính sách, mục tiêu và phương pháp bảo vệ
môi trường-môi sinh giữa các tổ chức.
Thỏa mãn yêu cầu của hơn 6 tỷ người, của thế hệ bây giờ và thế hệ tương lai không
phải là một công tác giản dị. Dung hòa quyền lợi quốc gia với quyền lợi khu vực và
quyền lợi quốc tế là một trách nhiệm nặng nề không dễ hoàn tất. Phát Triển Bền
Vững không phải là một dự án có sẵn phương tiện để thực hiện, có phương thức hành
động đã soạn trước.
Phát Triển Bền Vững là một dự án cần thiết, một dự án tốt khiến được sự ủng hộ toàn
cầu. Chắc chắn nó chỉ thực hiện được qua nhiều thế hệ. Kết quả hành động của nó
cũng khó đánh giá sau một hay hai thập niên. Cho tới bây giờ trong công cuộc thực
hiện Phát Triển Bền Vững, các thử thách và kho khăn mới xuất hiện nhiều hơn số thử
thách và khó khăn đã giải quyết. Thực tế này không đủ và không thể là lý do để bảo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status