LỜI MỞ ĐẦU
Từ sau khi thực hiện chuyển đổi sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận
động theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của nhà nước, theo định hướng xã hội chủ
nghĩa, chấm dứt cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp. Cơ chế thị trường đã có sự
tác động mạnh đến nền kinh tế nói chung và đến từng doanh nghiệp nói rêng. Trong
nền kinh tế này, các doanh nghiệp là những đơn vị kinh tế độc lập, cạnh tranh gay gắt
với nhau trên thị trường, vốn trở thành nguồn lực quan trọng mà các doanh nghiệp, các
nhà quản trị doanh nghiệp phải quan tâm, tự bảo toàn và sử dụng để đem lại hiệu quả
cao trong sản xuất và kinh doanh .
Trước tình hình đó nhiều doanh nghiệp hoạt động không có hiệu quả, bộc lộ yếu
kếm về mặt quản lý, chưa thích ứng với cơ chế mới, làm ăn thua lỗ đã bị phá sản hoặc
đang đứng nguy cơ phá sản. Một số doanh nghiệp khác thích ứng được cơ chế mới đã
tồn tại và phát triển nhưng hiệu quả sản xuất chưa cao, hoạt động vẫn còn mang tính
chất chụp giật, chiếm dụng vốn lẫn nhau, một trong những nguyên nhân của tình trạng
này là do sử dụng không hợp lý nguồn vốn, làm ứ đọng và thất thoát các nguồn vốn,
nhất là các nguồn vốn của nhà nước.
Vốn đối các doanh nghiệp giữ vai trò quan trọng như vậy, song không phải bất cứ
doanh nghiệp nào cũng sử dụng vốn có hiệu quả. Vì vậy vấn đề đặt ra cho các doanh
nghiệp bây giờ là phải khai thác tối đa hiệu quả của nguồn, các nhà quản trị phải có
chính sách bảo toàn và sử nguồn vốn sản xuất kinh doanh hợp lý trong chiến lược kinh
doanh và phát triển của doanh nghiệp mình. Là một sinh viên chuyên nghành Tài chính
doanh nghiệp, em thấy đây là một vấn đề bức thiết. Vì vậy qua nghiên cứu lý luận cơ
bản về tài chính doanh nghiệp và quá trình thực tập tại Công ty Giống vật tư Nông lâm
nghiệp Tuyên Quang, em đã chọn đề tài:“Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty
Giống vật tư Nông lâm nghiệp Tuyên Quang”
Bài viết được kết cấu gồm ba phần:
Phần I: Hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp .
Phần II: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn ở Công ty Giống vật tư Nông lâm nghiệp
Tuyên Quang.
Phần III: Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ở Công ty Giống vật tư
Nông lâm nghiệp Tuyên Quang.
2
Xét về mặt hình thái vật chất, vốn sản xuất bao gồm hai yếu tố như là tư liệu
sản xuất và đối tượng lao động. Hai yếu tố này cùng với sức lao động sẽ tạo ra sản
phẩm, dịch vụ. Trong nền kinh tế hàng hoá tiền tệ để có được yếu tố cần thiết cho
quá trình sản xuất kinh doanh đòi hỏi phải có lượng tiền vốn nhất định. Có tiền vốn,
doanh nghiệp mới có thể đầu tư mua sắm các tài sản cần thiết cũng như để trả
lương cho người lao động. Sau khi tiêu thụ sản phẩm doanh nghiệp mới có tiền thu
bán hàng. Với số tiền này, doanh nghiệp phải giành ra một bộ phận để bù đắp lại tài
sản cố định đã bị hao mòn và một bộ phận dùng để dự trữ vật tư cho quá trình sản
xuất kinh doanh tiếp theo.
Từ sự phân tích trên có thể rút ra vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
là biểu hiện bằng tiền của giá trị toàn bộ tài sản được sử dụng đầu tư vào hoạt động
sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời.
Quá trình sản xuất kinh doanh nghiệp được thực hiện liên tục, do vậy vốn
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng được vận động không ngừng, tạo ra sự
tuần hoàn và chu chuyển vốn. Trong các loại hình doanh nghiệp khác nhau thì sự
tuần hoàn và chu chuyển vốn cũng khác nhau.
Đối với các doanh nghiệp sản xuất, sự vận động của vốn như sau:
T - H - Quá trình sản xuất - H’ - T’.
Bắt đầu là hình thái tiền tệ (T) sang hình thái hàng hoá (H) (Tư liệu
lao động, đối tượng lao động) qua quá trình sản xuất chuyển sang hình thái hàng
hoá (H’) sản phẩm lao động dịch vụ và cuối cùng trở về hình thái tiền tệ với số vốn
lớn hơn số vốn đã ứng ra ban đầu, phần chênh lệch này chính là lợi nhuận, được
sáng tạo ra ở khâu sản xuất, được thực hiện ở khâu tiêu thụ (H’ - T’).
Khác với doanh nghiệp sản xuất, doanh nghiệp thương mại chỉ thực hiện
chức năng mua và bán. Do đó, vốn trong các doanh nghiệp này chỉ vận động qua 2
giai đoạn T - H – T’. Ở giai đoạn I, vốn từ hình thái tiền tệ chuyển thành hàng hoá
dự trữ cho tiêu thụ. Ở giai đoạn II, hàng hoá được đưa đi bán để tiêu thụ tiền hàng.
Số tiền thu về cũng phải đảm bảo bù đắp chi phí và có lãi. Lợi nhuận này tạo ra
trong hoạt động sản xuất nhưng được thực hiện ở hoạt động lưu thông qua hình
bảo hiệu quả cao trong việc sử dụng vốn cố định cho sản xuất .
4
Quản lý vốn cố dịnh bao gồm quản lý cả về mặt hiện vật và giá trị. Về mặt hiện
vật, vốn cố định bao gồm toàn bộ những tài sản cố định đang phát huy tác dụng
trong quá trình sản xuất (nhà xưởng, thiết bị máy móc…) vốn cố định tham gia trực
tiếp vào quá trình sản xuất kinh doanh. Sau mỗi chu kỳ hình thái hiện vật của vốn
cố định không thay đổi nhưng giá trị giảm dần do giá trị của vốn cố định được
chuyển dần vào giá trị của sản phẩm dưới hình thức khấu hao
1.1.2.2.Cơ cấu vốn cố định.
Việc nghiên cứu vốn cố định có ý nghĩa hết sức quan trọng trong quá trình
quả lý và sử dụng vốn. Khi nghiên cứu vốn cố đinh phải nghiên cứu trên hai góc
độ: nội dung cấu thành và mối quan hệ tỷ lệ trong mỗi bộ phận so với toàn bộ. Vấn
dề cơ bản là phải xây dựng được một cơ cấu vốn hợp lý phù hợp trình độ phát triển
khoa học kỹ thuật, đặc điểm kinh tế kỹ thuật của sản xuất, trình độ quản lý để các
nguồn vốn được sử dụng hợp lý và có hiệu quả nhất. Cần lưu ý rằng quan hệ tỷ
trọng trong cơ cấu vốn là chỉ tiêu động, điều này đòi hỏi cán bộ quản lý phải không
ngừng nghiên cứu tìm tòi để có được cơ cấu vốn tối ưu.
Theo chế độ hiện hành, vốn cố định của doanh nghiệp được biểu hiện thành
hình thái giá trị của các loại tài sản cố định sau đây đang dùng trong quá trình
sản xuất:
- Nhà cửa vật đang dùng cho các phân xưởng sản xuất và quản lý.
- Vật kiến trúc để phục vụ sản xuất và quản lý.
- Thiết bị động lực.
- Hệ thống chuyền dẫn.
- Máy móc, thiết bị sản xuất.
- Dụng cụ làn việc, đo lường, thí nghiệm
- Thiết bị phương tiện vận tải
- Dụng cụ quản lý
- Tài sản cố định khác dùng vào sản xuất công nghiệp
5
1.1. 3.2. Cơ cấu của vốn lưu động.
Xác định cơ cấu vốn lưu động hợp lý có ý nghĩa quan trọng trong công tác quả
lý vốn lưu động. Nó đáp ứng yêu cầu về vốn cho từng khâu, từng bộ phận, đảm bảo
cho việ sử dụng tiết kiệm, hợp lý vốn lưu động trên cơ sở đó đáp ứng được yêu cầu
sản suất kinh doanh trong điều kiện thiếu vốn cho sản xúât.
Cơ cấu vốn lưu động là tỷ lệ giữa các bộ phận cấu thành vốn lưu động và
mối quan hệ giữa các bộ phận đó. Tỷ lệ giữa các bộ phận trong toàn bộ vốn lưu
động hợp lý thì chỉ hợp lý tại một thời điểm nào đó. Vì vậy trong quản lý phải
thường xuyên nghiên cứu xây dựng một cơ cấu vốn thích hợp, đáp ứng yêu cầu sản
xuất trong từng thời kỳ, đánh giá cơ cấu về mặt giá trị của từng bộ phận vốn lưu
động hay tổng vốn lưu động. Để thuân lợi cho việc quản lý, người ta thừng phân
loại vốn lưu động bằng một số cách sau.
Căn cứ vào quá trình tuần hoàn và luân chuyển của vốn lưu động:
. Vốn dự trữ: là loại vốn dùng để mua nguyên vật liệu, phụ tùng thay thế, dự
trữ để đưa vào sản xuất.
Vốn trong sản xuất: là loại vốn phục vụ trực tiếp cho giai đoạn sản xuất như
sản phẩm dở dang, bán thành phẩm, chi phí chờ phân bố…
Vốn lưu thông : là bộ phận vốn trực tiếp phục vụ cho giai đoạn lưu thông
như thành phẩm, vốn bằng tiền …
Căn cứ vào phương pháp xác định :
* Vốn định mức là vốn lưu động mức tối thiểu cần thiết cho sản xuất kinh
doanh, bao gồm vốn dự trữ vốn trong sản xuất, sản phẩm trong hàng hoá ngoài
dùng cho tiêu thụ sản phẩm, vật tư thuê ngoài chế biến…
* Vốn lưu thông không định mức: là vốn lưu thông có thể phát sinh trong
quá trình sản xuất nhưng không có căn cứ tính toán xác định như thành phẩm trong
đường gửi đi …
Căn cứ vào nguồn vốn lưu động :
7
* Vốn lưu động tự bổ sung : là vốn lưu động mà doanh nghiệp tự bổ sung lợi
nhuận, các khoản tiền phải trả như tiền lương, tiền nhà …
lợi nhuận kinh tế. Thì lợi nhuận cực đại là bao trùm và tổng quát nhất. Tuy nhiên
theo từng giai đoạn mà doanh nghiệp có một hoặc một số mục tiêu khác nhau.
1.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn.
Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các
nguồn vốn, nguồn lực… của doanh nghiệp để đạt được kết quả cao nhất trong quá
trình kinh doanh với tổng chi phí thhấp nhất.
Để đánh giá chính xác có cơ sở khoa học hiêu quả kinh doanh của doanh
nghiệp, cần phải xây dựng hệ thống chỉ tiêuphù hợp, cả chỉ tiêu tổng hợp và chỉ
tiêu chi tiết. Các chỉ tiêu đó phải phản ánh được sức sản xuất, suất hao phí và sức
sinh lời của từng loại vốn.
Công thức đánh giá hiệu quả chung:
Kết quả đầu ra
Yếu tố đầu vào
Hiệu quả kinh doanh =
Kết quả đầu ra được đo bằng các chỉ tiêu như: giá trị tổng sản lượng, tổng
doanh thu thuần, lợi nhuận thuần, lợi tức gộp…, còn yếu tố đầu vào bao gồm lao
động, vốn chủ sở hữu và vốn vay…
Công thức này phản ánh mức sản xuất (hay mức sinh lợi) của các chỉ tiêu
đầu vào, đựơc tính cho tổng số và cho riêng phần ra tăng.
Hiệu quả kinh doanh còn được tính theo công thứcsau:
Chi phí đầu vào
Kết quả đầu ra
Hiệu quả kinh doanh =
9
Công thức này phản ánh xuất hao phí của các chỉ tiêu đầu vào, nghĩa là để có
một đơn vị kết quả đầu ra thì hao phí hết mấy đơn vị chi phí (hoặc vốn) ở đầu vào.
1.2.2.1-Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả dụng vốn cố định.
Hiệu quả sử vốn cố định được đánh giá bằng nhiều chỉ tiêu, nhưng phổ biến là
các chỉ tiêu sau đây:
Doanh thu (hoặc thu thuần) trong kỳ
vốn lưu động Vốn lưu động bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn lưu động có thể tạo ra bao nhiêu đồng lợi
nhuận trong kỳ.
Như chúng ta đã biết trong quá trình sản xuất kinh doanh, vốn lưu động vận
động không ngừng, thường xuyên qua các giai đoạn của quá trình tái sản xuất (dự
trữ - sản xuất – tiêu thụ). Đẩy nhanh tốc độ của vốn lưu động sẽ góp phần giải
quyết nhu cầu về vốn cho doanh nghiệp, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Để xác định tốc độ luân chuyển của vốn lưu động, người ta thường sử dụng các chỉ
tiêu sau:
Tổng mức luân chuyển vốn trong kỳ
Số vòng quay của =
vốn lưu động vốn lưu động bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu này cho biết vốn lưu động quay được mấy vòng trong kỳ, nếu số vòng
quay tăng, chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn tăng và ngược lại.
360 ngày
Kỳ luân chuyển =
Số vòng quay của vốn lưu động trong kỳ
Chỉ tiêu này thể hiện, số ngày càn thiết cho vốn lưu động quay được một
vòng. Thời gian một vòng luân chuyển càng nhỏ thì tốc độ luân chuyển càng lớn.
Hiệu quả sử dụng vốn càng cao, số vốn tiết kiệm được càng nhiều.
Vốn lưu dộng bình quân trong kỳ
Hiệu quả đảm nhiệm =
vốn lưu động Tổng doanh thu thuần
11
Qua chỉ tiêu này ta biết được để có được một đồng luân chuyển thì cần mấy
đồng vốn lưu động.
1.2.2.3. Phân tích khả năng sinh lợi của vốn.
Ngoài việc xem xét hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh dưới góc độ sử dụng vốn
cố định và vốn lưu động, khi phân tích, cần xem xét cả hiệu quả sử dụng vốn dưới
gian.
1.2.3.3. Quy mô doanh nghiệp.
Hiển nhiên là doanh nghiệp có quy mô càng lớn thì lượng vốn cần thiết cho nó
càng nhiều. Tuy nhiên vốn được sử dụng như thế nào lại biến đổi theo quy mô
doanh nghiệp. Những doanh nghiệp vừa và nhỏ vốn được sử dụng chủ yếu phục vụ
trực tiếp cho sản xuất ra sản phẩm. Khi quy mô doanh nghiệp lớn dần thì tỷ trọng
vốn giành cho bộ phận gián tiếp và các hoạt động phí sản xuất cũng tăng theo,
nhiều công ty lớn trên thế giới đã đầu tư một khoản chi phí đáng kể cho tiếp thị,
quảng cáo. Nếu chỉ xét riêng tới bộ phận sản xuất sản phẩm thì việc tăng quy mô
đồng nghĩa với tăng hiệu quả sử dụng vốn. Việc tăng quy mô của dự trữ hay bán
thành phẩm, đẩy nhanh tốc độ khấu hao tới sử dụng vốn có hiệu quả hơn.
1.2.3.4. Chính sách kinh doanh.
Hơn ai hết chính bản thân doanh nghiệp chính là người quyết định vốn của mình
sẽ được sử dụng vốn như thế nào. Để thâm nhập vào một thị trường lớn hay để gia
tăng thị phần trong thị trường truyền thống, một Công ty có thể tung ra một lượng
vốn để quảng cáo, tiếp thị. Bán chịu hay phá giá sản phẩm của mình. Nhiều doanh
nghiệp đã sẵn sàng chịu những khoản lỗ đáng kể để giành được thị trường. Hiện
tượng này đã diễn ra ở nhiều nơi, trong đó có Việt Nam, chiến thắng cuối cùng sẽ
thuộc về ai nhiều vốn hơn. Ngược lại nếu mục đích của doanh nghiệp là nâng cao
lợi nhuận, thì doanh nghiệp sẽ xem sét toàn bộ các khsâu từ đầu vào tới đầu ra để
có thể nâng cao hiệu quả sử dụng đồng vốn của mình lên mức tối đa. Doanh nghiệp
cũng có thể sử dụng đòn bẩy tài chính (dùng vốn vay kết hợp với vốn tự có) để tối
đa hoá tỷ suất lợi nhuận cho lượng vốn của mình bỏ ra.
13
PHẦN II:
THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN Ở CÔNG TY GIỐNG VẬT
TƯ NÔNG LÂM NGHIỆP TUYÊN QUANG.
2.1. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY
2.1.1. Sơ lược quá trình hình thành và phát triển của Công ty
Công ty Giống vật tư Nông lâm nghiệp Tuyên Quang là một doanh nghiệp
nước, chăm lo đời sống vật chất tinh thần cho công nhân viên, quy hoạch, bồi
dưỡng, đào tạo, sử dụng hợp lý đội ngũ cán bộ công nhân kỹ thuật.
Trong những ngày đầu thành lập hoạt động Công ty chủ yếu chỉ cung ứng
giống cây trồng và phân bón cây trồng.Sau đó đên ngày 15/03/120066 UBND
tỉnh ra quyết định số 190- QĐ/UB về việc chuyển chức năng cung ứng thuốc bảo
vệ thực vật từ chi cục thú y sang Công ty Giống vật tư Nông lâm nghiệp Tuyên
Quang.
Từ khi được thành lập đến nay Công ty không ngừng lớn mạnh và đã tự
khẳng định chỗ đứng của mình, không ngừng khắc phục khó khăn gian khổ thiếu
thốn về nhiều mặt để hoàn thành chỉ tiêu nhà nước giao, mọi hoạt động kinh doanh
của Công ty có hiệu quả, bộ máy tổ chức ngày càng được hoàn thiện, đội ngũ cán
bộ chuyên môn có nghiệp vụ ngày càng cao, cán bộ công nhân viên đều có việc
làm, có thu nhập ổn định.
2.1.2. Đặc điểm tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh
2.1.2.1. Đặc điểm tổ chức sản xuất
Là doanh nghiệp nhà nước duy nhất đảm nhận dịch vụ cung ứng giống vật tư
phục vụ cho sản xuất nông lâm nghiệp cuả tỉnh, nên địa bàn hoạt động của công ty
nằm phân tán ở các huyện.
15
Để thực hiện nhiệm vụ sản xuất công ty tổ chức hai trại sản xuất và 5 trạm
giống vật tư được phân tán ở các huyện để cung ứng giống vật tư phục vụ tận nơi
cho nhân dân sử dụng sản xuất.
Nhiệm vụ chính của các trại và các trạm như sau:
+ Trại sản xuất giống cây trồng Đồng Thắm: Chọn lọc, sản xuất giữ và
nhân các giống lúa, giống ngô đầu dòng, nguyên chủng và các giống cây trồng
khác như: lạc, đậu tương … liên kết với các cơ sở để sản xuất các giống nguyên
chủng, cấp I theo kế hoạch của Công ty, thực hiện chặt chẽ quy trình kỹ thuật sản
xuất đảm bảo giống sản xuất ra đạt tiêu chuẩn chất lượng quy định.
+ Trại gia súc Nông Tiến: Chọn lọc, nhân giống và cung cấp các giống vật
nuôi, tổ chức mạng lưới, hướng dẫn kỹ thuật để nhân các giống vật nuôi phù hợp
PHÒNG KINH
DOANH
PHÒNG TC-HC
TRẠM
YÊN
SƠN
TRẠM
HÀM
YÊN
TRẠM
NA
HANG
TRẠM
CHIÊM
HOÁ
TRẠM
SƠN
DƯƠNG
CỬA
HÀNG
TX
17
-
- Hội đồng xí nghiệp là cơ quan thường trực đại diện cho quyền làm chủ tập
thể của công nhân viên chức, được tham gia với giám đốc trong việc lựa chọn, đào
tạo, bố trí, sử dụng, khen thưởng và kỷ luật cán bộ quản lý trong doanh nghiệp.
- Hội đồng xí nghiệp có quyền kiến nghị với Giám đốc doanh nghiệp các
biện pháp cần thiết để thực hiện nghị quyết đại hội công nhân viên chức, các giải
pháp đẩy mạnh sản xuất kinh doanh và vốn để phân phối thu nhập của tập thể lao
động, nhưng không can thiệp vào công việc điều hành cụ thẻe của Giám đốc doanh
2.1.3. Một số kết quả đạt được trong sản xuất kinh doanh của Công ty
Công ty Giống vật tư Nông lâm nghiệp Tuyên Quang là doanh nghiệp duy
nhất cung ứng giống cây trồng, vật nuôi, thức ăn gia súc, các loại phân bón, thuốc
trừ sâu… để phục vụ cho sản xuất nông lâm nghiệp trong toàn tỉnh.
Từ khi được thành lập đến nay Công ty đã không ngừng lớn mạnh và khẳng
định chổ đứng của mình, không ngừng khắc phục khó khăn, gian khổ, thiếu thốn về
nhiều mặt để hoàn thành chỉ tiêu được Nhà nước giao. Mọi hoạt động kinh doanh
của công ty đều hiệu quả cao. Do đó hoạt động kinh doanh đạt được kết quả ngày
càng tăng. Điều đó thể hiện qua một số kết quả dưới đây:
Kết quả kinh doanh của công ty đạt được trong 3 năm gần đây:
Biểu 1: Bảng báo cáo kết quả kinh doanh.
Đơn vị tính: Triệu đồng
Chỉ tiêu
Các năm thực hiện
2005 2006 2007
Tổng doanh thu 52.074 69.331 72.688
Các khoản giảm trừ 310 443 496
1. Doanh thu thuần. 51.764 68.888 72.192
19
2. Giá vốn hàng bán. 46.101 62.389 64.800
3. Lợi nhuận gộp. 5.663 6.42006 7.392
4. Chi phí bán hàng. 3.805 4.695 4.52005
5. Chi phí quản lý doanh nghiệp. 1.469 2.262 2.636
6. Lợi nhuận thuần từ hoạt động KD. 389 -859 158
- Thu nhập hoạt động tài chính. 643 731 658
- Chi phí hoạt động tài chính. 426 383 527
7. Lợi nhuận thuần từ hoạt động thuần túy. 217 348 131
- thu nhập bất thường. 1.238 1.444 1.297
- Chi phí bất thường. 794 963 20068
8. Lợi nhuận thuần từ hoạt động bất thường. 444 481 22005
- Trong kinh doanh chu yếu lấy bán buôn là chính, kết hợp hàng đi thẳng
không qua kho, đồng thời có sự dự trữ hợp lý trong mùa vụ như các loại thuốc bảo
vệ thực vật, thuốc chữa bệnh gia súc gia cầm.
2.2. Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn của Công ty Giống vật tư Nông lâm
nghiệp Tuyên Quang
2.2.1.Vốn và cơ cấu vốn sản xuất kinh doanh của Công ty Giống vật tư
Nông lâm nghiệp Tuyên Quang
- Việc quản lý và sử dụng vốn của Công ty Giống vật tư Nông lâm nghiệp Tuyên
Quang trong các năm qua được thể hiện qua số liệu quyết toán hàng năm trên bảng
cân đối kế toán cuối năm .
- Tất cả những số liệu đó như sau :
Biểu 02 : Bảng cân đối kế toán (từ năm 2005 –2007)
(Đơn vị tính :Triệu đồng )
TÀI SẢN 2005 2006 2007
I.TSLĐ và đầu tư ngân hàng 22.769 29.912 35.015
1.Vốn bằng tiền 4.394 5.183 3.552
2. Các khoản đầu tư TCNH 48 43 36
3. Các khoản phải thu 11.052 14.256 14.307
4. Hàng tồn kho 5.458 8.766 13.264
5. TSLĐ khác 1.736 1.664 3.732
6. Chi phí sự nghiệp 81 124
II. TSCĐ và đầu tư dài hạn 16.832 22.171 32.414
1. TSCĐ 11.32005 12.635 11.20068
a. TSCĐ HàNG HOá 11.263 12.482 11.859
- Nguyên giá 17.671 20.249 20.821
21
- Hao mòn lũy kế 6.408 7.767 8.962
b. TSCĐ vô hình 102 149 139
- Nguyên giá 111 166 164
- Hao mòn lũy kế 9 17 25
2. Vốn cố định 16.832 42.6 22.171 42.6 32.414 48
Tổng vốn 39.601 100 52.083 100 67.429 100
(Báo cáo quyết toán các năm 2005,2006,2007)
Qua số liệu ta thấy : vốn của Công ty đã tăng lên rõ rệt qua từng năm .Năm
2006 tăng so với năm 2005 là 12.482 triệu đồng (tức 31.5%) , năm 2007 so với
năm 2006 là 15.391 triệu đồng (tức 29.4%) , tăng so với năm 2005 là 27.828 triệu
22
đòng (tức 70.3%). Điều đó thể hiện sự quan tâm của Công ty trong việc đầu tư vốn,
mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh. Khi xem xét tỷ lệ các khoản vốn thấy :tỷ
lệ vốn lưu động chiếm trong tổng vốn lớn hơn vốn cố định, chứng tỏ tài sản lưu
động nhiều hơn tài sản cố định nhưng không đáng kể. Việc vốn cố định chiếm tỷ
trọng cũng lớn có ý nghĩa quyết định đến năng lực sản xuất của Công ty, nó thường
gắn liền với hoạt động đầu tư dài hạn, thu hồi vốn chậm và dễ gặp rủi ro
Để tiến hành sản xuất kinh doanh mỗi doanh nghiệp phải có lượng vốn nhất
định và nguồn tài trợ tương ứng. Công ty có được số đó là do ngân sách nhà nước
cấp, do tự bổ xung và từ các nguồn khác. Để tìm hiểu vấn đề này ta hãy phân tích
qua bảng cơ cấu vốn của Công ty:
Biểu 04: Bảng phân tích cơ cấu vốn
(Đơn vị tính :Triệu đồng)
Chỉ tiêu
2005 2006 2007
Số tiền % Số tiền % Số tiền %
I. Nguồn vốn NH
15.860 40,05 21.375 41,05 30.148 44,7
1. Vay ngắn hạn
4.712 11,8 7.715 14,8 10.535 15,6
2. Nợ DH đến hạn trả
24 0,04
3. Phải trả người bán
5.360 13,5 5.769 11,0 7.301 10,8
nên nguồn vốn dài hạn nguồn vốn chủ sở hữu dài hạn. Tổng nguồn vốn của Công ty
23
năm sau đều tăng so với năm trước. Năm 2006 tăng so với năm 2005 là 31,5%, là
do sự tăng lên của vốn chủ sở hữu, vốn vay và vốn khác, nhưng sang năm 2007
tăng so với năm 2006 là 29.5% lại chủ yếu là do nguồn vốn vay và vốn khác, còn
vốn chủ sở hữu giảm. Vốn chủ sở hữu giảm nhưng nhu cầu vốn để mở rộng inh
doanh ngày càng tăng cao. Để đáp ứng nhu cầu đó, doanh nghiệp đã tăng các khoản
nợ phải trả. Nguồn vốn này tăng nnhanh chóng vào năm 2007, đã ảnh hưởng rõ rệt
đến sự độc lập tài chính của Công ty. Thông thường tỷ lệ này là 50:50, nhưng trong
thực tế, các doanh nghiệp đều thiếu vốn nên tuỳ thuộc vào tình hình thực tế mà khả
năng thanh toán chi phí vốn của Công ty sẽ tăng hay giảm khoản vốn này.
Các khoản nợ phải trả chủ yếu là vay Ngân hàng, chiếm dụng của người bán và
các khoản ứng trước của người mua, trước đây do sự hỗ trợ lớn của Nhà nước và để
tiết kiệm chi phí cho lượng vốn vay Ngân hàng của Công ty chỉ 4,712 tỷ, chiếm
11,8% trên tổng nguồn vốn. Nhưng do nhu cầu vốn tăng để mở rộng thị trường kinh
doanh nên Công ty đã quan tâm hơn đến việc vay vốn Ngân hàng. Đây là nguồn
vốn tương đối với các doanh nghiệp.
Hơn nữa, nhìn vào khoản mục thuế, ta thấy thuế chiếm một tỷ lệ rất nhỏ, chỉ
khoảng 1,% - 1,9%, chứng tỏ Công ty đã rất quan tâm đến thực hiện nghĩa vụ đối
với Nhà nước.
Như trên ta thấy, nguồn vốn chủ sở hữu giảm trong khi nguồn vốn vay tăng
đáng kể đã làm biến đổi tỷ suất tài trợ và hệ số nợ năm 2007.
Nguồn vốn chủ sở hữu 30.346
Tỷ suất tự tài trợ = = = 45%
Tổng nguồn vốn 67.429
Nợ phải trả 37.083
Hệ số nợ = = = 55%
Tổng nguồn vốn 67.429
24
Tỷ suất tài trợ của Công ty đạt 36,1% chứng tỏ Công ty có khá nhiều vốn tự có,