Chính sách thuế Thu nhập cá nhân ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế Quốc tế - Pdf 11

LỜI MỞ ĐẦU
Đại hội Đảng Công sản Việt Nam lần thứ VI năm 1986 được xem là một
mốc son trong quá trình phát triển nền kinh tế Quốc gia, đây chính là bước
ngoặt phát triển nền kinh tế Việt Nam: “phát triển theo cơ chế thị trường,
dưới sự quản lý và điều tiết vĩ mô của Nhà nước theo định hướng Xã hội
chủ nghĩa”
Sự lựa chọn sáng suốt đường lối phát triển kinh tế mà Đại hội Đảng
Cộng sản Việt Nam lần thứ VI (1986) đề ra là không thể phủ nhận được.
Tuy nhiên, thực tế đã cho thấy rằng bản thân nền kinh tế thị trường cũng
không phải là một nền kinh tế hoàn hảo, mà bản thân nó cũng có những
khuyết tật vốn có của nó. Một trong những khuyết tật vốn có lớn nhất của
nền kinh tế thị trường là ngăn cách giữa giàu nghèo trong xã hội. Kinh tế thị
trường ở Việt Nam cho dù đang ở mức độ đầu, nhưng vấn đề phân hóa giàu
nghèo trong xã hội cũng là vấn đề cần quan tâm.
Như chúng ta đã biết Nhà nước dùng thuế làm công cụ điều tiết vĩ mô
nền kinh tế, điều hòa thu nhập, thực hiện công bằng xã hội và là công cụ chủ
yếu huy động nguồn lực vật chất cho Nhà nước. Cho dù trong điều kiện kinh
tế Việt Nam, thuế gián thu có những vai trò rất to lớn của nó. Nhưng với
mục đích điều hòa thu nhập, thực hiện công bằng xã hội bằng thuế trong nền
kinh tế thì thuế trực thu lại thể hiện tính ưu việt hơn, đồng thời tăng nguồn
thu cho Ngân sách Nhà nước một cách hợp lý, hợp hiến. Vì vậy, hướng đến
một chính sách thuế thu nhập là điều tất yếu nhằm góp phần điều tiết bớt
một phần thu nhập từ các tầng lớp người có thu nhập cao trong xã hội, hình
thành các quỹ tiền tệ tập trung giúp Nhà nước ngày càng thực hiện tốt hơn
các chính sách xã hội của mình.
Như phân tích ở trên, đó cũng chính là lý do mà Quốc hội nước Cộng
hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ban hành chính sách thuế thu nhập, cụ thể
là Pháp lệnh thuế Thu nhập đối với người có thu nhập cao. Đây là loại thuế
được áp dụng từ rất lâu tại hầu hết các Quốc gia trên thế giới, cho dù tên gọi
ở một số nước có khác nhau nhưng bản chất thì đối tượng tính thuế vẫn là
thu nhập cá nhân. Đối với Việt Nam thì Pháp lệnh thuế Thu nhập đối với

thu nhân cao ở Việt Nam.
Chương 3: Các giải pháp nhằm xây dựng chính sách thuế Thu nhập cá nhân
ở Việt Nam.
Do khả năng và thời gian nghiên cứu có hạn, Luận văn không tránh khỏi
những sai sót, rất mong Quý Thầy, Cô cùng các bạn góp ý bổ sung để đề tài
mang tính hiện thực hơn.

CHƯƠNG I:
TỔNG QUAN VỀ CHÍNH SÁCH THUẾ THU
NHẬP CÁ NHÂN
1.1 Khái quát về thuế
1.1.1 Khái niệm về thuế
Thuế gắn liền với sự tồn tại, phát triển của Nhà nước và là một công
cụ quan trọng mà bất kỳ quốc gia nào cũng sử dụng để thực thi chức năng,
nhiệm vụ của mình. Tùy thuộc vào bản chất của Nhà nước và cách thức Nhà
nước sử dụng, các nhà kinh tế có nhiều quan điểm về thuế khác nhau, mỗi
quan điểm đều nhấn mạnh một chiều theo từng góc độ khác nhau. Mặc dù
đến nay còn nhiều tranh cãi về khái niệm của thuế nhưng các nhà kinh tế
đều thống nhất rằng, để làm rõ bản chất của thuế thì định nghĩa của thuế
phải nêu bật được các nội dung sau:
- Thứ nhất, thuế là một khoản thu không bồi hoàn, không mang tính hoàn
trả trực tiếp. Nộp thuế cho Nhà nước không có nghĩa là cho Nhà nước mượn
tiền hay gửi tiền vào ngân sách Nhà nước hoặc là mua một dịch vụ công.
Nộp thuế là một nghĩa vụ cơ bản nhất của công dân.
- Thứ hai, thuế là một khoản thu mang tính bắt buộc, để đảm bảo tập trung
thuế trên phạm vi toàn xã hội. Chính phủ phải cậy nhờ vào hệ thống pháp
luật nên thuế thường được quy định dưới dạng văn bản luật hay pháp lệnh.
Cho nên, trốn thuế hay gian lận thuế đều bị coi là những hành vi phạm pháp
và phải chịu xử phạt về hành chính hoặc hình sự.
- Thứ ba, các pháp nhân và thể nhân chỉ phải nộp cho Nhà nước các khoản

kinh tế.
Thứ ba, thuế là công cụ điều hòa thu nhập, thực hiện công bằng xã
hội trong phân phối
Sự phát triển kinh tế của một quốc gia là kết quả nổ lực của cộng đồng xã
hội. Mọi thành viên trong xã hội đều có những đóng góp nhất định, thành
quả của sự phát triển kinh tế cần phải làm cho mọi thành viên trong xã hội
được hưởng thỏa đáng, hài hòa. Để thực hiện được yêu cầu này, Nhà nước
phải sử dụng công cụ thuế để quản lý điều hòa thu nhập xã hội. Trong nền
kinh tế thị trường, nguồn lực xã hội tham gia vào nền kinh tế, chủ yếu do
luật thị trường huy động phân bổ và tham gia thực hiện việc phân phối các
yếu tố đầu ra. Đó là sự phân phối mang tính chất kinh tế. Tuy nhiên, nếu để
cho thị trường tự điều phối nền kinh tế thì sẽ tạo ra những khiếm khuyết và
không phải lúc nào cũng đạt kết quả sản xuất kinh doanh và đem lại thu
nhập như xã hội mong muốn. Do vậy, Nhà nước phải can thiệp vào sự phân
phối để quản lý và điều chỉnh hoạt động của nền kinh tế. Nhà nước can thiệp
bằng hệ thống Luật pháp, bằng công cụ kinh tế, tài chính trong đó quan
trọng là công cụ thuế. Trong chính sách thuế, Nhà nước đã thiết kế đối
tượng điều tiết khác nhau với các mức thuế suất và chế độ ưu đãi khác nhau.
Do vậy, chính sách thuế đã tác động mạnh mẽ đến cung cầu các loại nguyên,
nhiên, vật liệu, hàng hóa, dịch vụ khác nhau, để điều chỉnh quá trình phân
phối các yếu tố đầu vào của các lực lượng thị trường và điều chỉnh quá trình
tái sản xuất của doanh nghiệp. Thuế đã trực tiếp tham gia vào phân phối thu
nhập xã hội từ kết quả sản xất kinh doanh của nền kinh tế.
Vấn đề then chốt là quá trình thực hiện phân phối thu nhập xã hội của
thuế phải đảm bảo nguyên tắc bình đẳng, thực hiện công bằng xã hội trong
phân phối. Nhà nước áp dụng chính sách thuế phải thống nhất giữa các
thành phần kinh tế và các tầng lớp dân cư, không phân biệt giữa các đơn vị,
cá nhân. Khi các tổ chức, cá nhân có điều kiện kinh doanh và có thu nhập
giống nhau đều phải nộp thuế như nhau (bình đẳng theo chiều ngang).
Người có thu nhập quá thấp không đủ bảo đảm đời sống thì không phải nộp

5. Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao (thuế thu nhấp cá
nhân).
6. Thuế sử dụng đất nông nghiệp.
7. Thuế nhà, đất.
8. Thuế chuyển quyền sử dụng đất.
9. Thuế tài nguyên.
10. Thuế môn bài.
11. Các loại phí và lệ phí.
1.2 Thuế thu nhập cá nhân
1.2.1 Khái niệm thuế Thu nhập
Tùy theo mục đích nghiên cứu, các nhà kinh tế quan niệm về thu nhập
dưới các góc độ khác nhau. Hai nhà kinh tế Anh là R.M Haig và H.G
Simons đầu thế kỷ 20 đã đưa ra định nghĩa về thu nhập (sau này gọi là định
nghĩa Haig-Simons) cho rằng thu nhập là tổng giá trị của cải ròng tăng lên
của một cá nhân cộng với sự tiêu dùng của người đó trong một thời gian
nhất định, thường là một năm. Quan điểm này mang tính lý thuyết và được
chấp nhận rộng rãi. Tuy nhiên, trên thực tế rất khó thực hiện, vì rằng giá trị
tăng thêm đó mới chỉ dừng lại dưới dạng tiềm năng, mặt khác nó lại được
biểu hiện dưới các hình thức khác nhau như bằng tiền, hàng hóa và dịch vụ
song lại chỉ được thực hiện khi có sự chuyển dịch quyền sở hữu.
Dựa trên cơ sở định nghĩa Haig-Simons, các nhà kinh tế học hiện đại đã
đưa ra hai quan niệm mới về thu nhập làm cơ sở đánh thuế thu nhập cá
nhân:
- Quan điểm về khái niệm “thu nhập bao quát” cho rằng, thu nhập là mọi
khoản thu nhập ròng từ các nguồn sau khi đã khấu trừ các chi phí để tạo ra
chúng, từ đó hình thành một phương thức đánh thuế trên tổng tài sản ròng,
nghĩa là đánh thuế vào tất cả các lợi ích nhận được, bao gồm các lợi ích
ngẫu phát - lợi ích có tính chất nhất thời.
- Quan điểm về khái niệm “thu nhập hạn hẹp” dựa trên cơ sở thu nhập chỉ
giới hạn trong những lợi ích phát sinh lặp đi lặp lại, có tính chất liên tục để

Lần đầu tiên ở Anh vào năm 1799 thuế thu nhập cá nhân đã được áp dụng
như một hình thức thu tạm thời nhằm mục đích trang trải cho cuộc chiến
tranh chống Pháp và được chính thức ban hành vào năm 1842. Sau đó thuế
thu nhập cá nhân đã nhanh chóng được lan truyền sang các nước công
nghiệp khác như: Nhật (1887), Mỹ (1913), Pháp (1914), Liên Xô (1922),
Trung Quốc (1936)… Các quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển đều
coi thuế thu nhập cá nhân là một trong những sắc thuế có tầm quan trọng
đặc biệt trong việc huy động nguồn thu ngân sách, thực hiện phân phối công
bằng xã hội và điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
Về nguyên tắc, bất kỳ một thể nhân hay pháp nhân nào khi nhận được thu
nhập dưới bất cứ hình thái nào (hiện vật hay giá trị) và bất kể từ nguồn nào
(do lao động, hay đầu tư…) đều phải trích một phần từ thu nhập đó để nộp
cho nhà nước dưới dạng thuế thu nhập.
Như vậy: Có thể khái niệm thuế Thu nhập cá nhân là loại thuế trực
thu đánh vào thu nhập của mỗi cá nhân trong xã hội trong một khoảng
thời gian nhất định (thường là một năm).
1.2.3 Sự cần thiết xây dựng chính sách thuế Thu nhập cá nhân
Thuế thu nhập cá nhân ra đời bắt nguồn từ yêu cầu đảm bảo sự công bằng
trong phân phối thu nhập. Điều này đặc biệt cần thiết trong điều kiện kinh tế
thị trường vì thu nhập của một cá nhân hay tổ chức phụ thuộc chủ yếu vào
việc cung cấp các yếu tố sản xuất (vốn, lao động, công nghệ…). Trong điều
kiện đó sự phân hóa giàu nghèo khi phân phối thu nhập là điều khó tránh
khỏi. Vì vậy, cần áp dụng thuế thu nhập cá nhân để thực hiện điều tiết thu
nhập nhằm rút ngắn khoảng cách giàu nghèo trong xã hội. Mặt khác, trong
hệ thống thuế thông thường áp dụng hai loại thuế: thuế gián thu và thuế trực
thu. Thuế thu nhập cá nhân là loại thuế trực thu, tức là thuế đánh trực tiếp
vào thu nhập của người nộp thuế theo khả năng của họ. Vì thế, thu nhập cá
nhân đảm bảo sự công bằng theo chiều dọc. Nếu chỉ áp dụng các loại thuế
gián thu thì mới thực hiện được công bằng theo chiều ngang, tức là tất cả
mọi người đều phải nộp thuế như nhau không phân biệt khả năng của họ. Để

Để thấy rõ vai trò đó của thuế thu nhập cá nhân, có thể sử dụng đường
cong Lorenz dưới đây (Hình 1.1)
Hình 1.1: Ảnh hưởng của thuế đến sự công bằng trong phân phối thu
nhập
Trên đồ thị, đường cong Lorenz càng gần đường phân giác thì càng phản
ánh sự phân phối công bằng. Điều đó được trợ giúp bởi thuế luỹ tiến thông
qua thực hiện thuế thu nhập cá nhân để đảm bảo rút ngắn khoảng cách phân
hóa giàu nghèo trong xã hội.
1.2.4.2 Thuế thu nhập cá nhân là một công cụ đảm bảo nguồn thu
quan trọng cho NSNN
Thuế thu nhập cá nhân là một hình thức thu quan trọng của Ngân sách Nhà
nước (NSNN), loại thuế này đóng vai trò rất quan trọng, đôi khi nó còn được
nói so sánh một cách hình ảnh là “nữ hoàng của các loại thuế”. Hiện nay, ở
các nước phát triển tỷ trọng thu ngân sách của thuế TNCN chiếm rất cao từ
30 - 40%, có nước trên 50% như Mỹ, Nhật, Canada, Autralia, Niuzilân…,
các nước đang phát triển chiếm từ 15 - 30% như Thái Lan, Malaixia,
Philipin…
Ở nước ta thuế thu nhập cá nhân tuy chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng thu
NSNN, song trong điều kiện phát triển kinh tế và toàn cầu hóa, thu nhập
của cá nhân có xu hướng tăng nhanh, nên tỷ trọng thuế thu nhập cá nhân
trong tổng thu NSNN sẽ có khả năng tăng lên.

là đường cong Laffer (Hình 1.2).

Mô hình đường cong Laffer cho thấy quan hệ giữa thuế suất và tổng thu
nhập từ thuế. Mức thuế suất bằng không thì thu ngân sách từ thuế cũng
bằng không. Ở thái cực đối lập, nếu thuế suất bằng 100% thì thu nhập từ
thuế cũng bằng không vì lúc đó người ta không muốn làm việc. Việc nâng
dần mức thuế suất từ 0% lên dưới mức thuế suất t
0
làm thu nhập về thuế
cũng tăng lên. Nhưng nếu mức thuế suất được xác định cao hơn mức t
0
sẽ
gây ra các phản ứng như: Hạ thấp động lực kinh doanh; chuyển vốn đầu tư
ra nước ngoài; chuyển hoạt động sang kinh tế ngầm để trốn thuế.
Như vậy, qua đồ thị đường cong Laffer ta thấy, nếu thuế suất được hạ
thấp, thì có thể số thu của ngân sách sẽ không bị giảm thậm chí còn tăng lên
do kinh tế được kích thích tăng trưởng và sự ủng hộ đồng tình của các đối
tượng nộp thuế. Điều này cho thấy, nếu thuế suất của thuế thu nhập được
xác định ở mức hợp lý sẽ có tác động kích thích tăng trưởng kinh tế đồng
thời tăng thu cho ngân sách.
Tuy nhiên, trên thực tế rất khó xác định nền kinh tế hiện tại đang nằm ở

a) Đánh thuế trên cơ sở thu nhập chịu thuế hiện hữu
Mặc dù cá nhân có nhiều nguồn thu nhập khác nhau, nhưng trong thực
tế không phải toàn bộ thu nhập phát sinh đều là đối tượng điều chỉnh của
thuế thu nhập cá nhân. Thuế thu nhập cá nhân chỉ điều chỉnh phần thu nhập
chịu thuế. Thu nhập chịu thuế là phần thu nhập quy định cơ sở đánh thuế thu
nhập. Mọi hệ thống thu nhập dù đánh trên từng loại thu nhập hay trên tổng
thu nhập nói chung đều tính thuế trên thu nhập ròng để phản ánh đúng đắn
khả năng kinh tế của người nộp thuế. Vì vậy thu nhập chịu thuế được xác
định trên cơ sở các khoản thu nhập nhận được sau khi miễn trừ một số
khoản chi phí của người nộp thuế.
Hiện nay trên thế giới còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm
và cách tính thu nhập nên cơ sở đánh thuế thu nhập cá nhân cũng không
giống nhau. Tùy theo chính sách thuế thu nhập của mỗi nước mà nội dung,
phương pháp xác định các khoản miễn trừ và thu nhập chịu thuế có sự khác
nhau. Mặt khác, trên thực tế không phải mọi khoản thu nhập phát sinh cũng
đều có khả năng xếp vào thu nhập chịu thuế.
b) Đánh thuế thu nhập cá nhân theo phương pháp luỹ tiến
Đặc trưng quan trọng nhất của thuế thu nhập cá nhân là áp dụng biểu thuế
luỹ tiến, tức là mức thuế tăng lên một cách luỹ tiến theo mức thu nhập tăng
lên. Thuế suất luỹ tiến được coi là phương pháp hiệu quả nhất để đánh thuế
theo “khả năng nộp thuế” của cá nhân. Tuy nhiên trong thực tế để tính được
mức luỹ tiến đó là điều không đơn giản.
Xung quanh vấn đề áp dụng nguyên tắc luỹ tiến đối với thuế thu nhập
cũng có nhiều ý kiến khác nhau. Có ý kiến cho rằng, tính luỹ tiến của thuế
thu nhập cũng cần có giới hạn và khi áp dụng nguyên tắc luỹ tiến cũng cần
phân biệt nguồn gốc của các loại thu nhập để phát huy vai trò điều chỉnh của
thuế thu nhập. Nhưng cũng có quan điểm cho rằng làm như vậy sẽ gây phức
tạp trong việc thiết kế thuế suất, vì không nên dùng các loại thuế khác nhau
cho thu nhập phát sinh từ các nguồn thu nhập khác mà nên áp dụng các
khoản miễn, giảm thuế để đảm bảo chức năng của thuế thu nhập hoặc áp

cả các khoản thu nhập nhận được không phân biệt nguồn phát sinh thu nhập
và chi phí tạo ra thu nhập. Tổng thu nhập và tổng chi phí sẽ được xem xét
trên một tổng thể và đánh thuế trên phần chênh lệch giữa tổng thu nhập và
tổng chi phí. Việc phân ra từng loại thu nhập không có ý nghĩa.
Do có ưu điểm là đơn giản và có thể áp dụng được biểu thuế luỹ tiến khi
đánh thuế nên phương pháp này đang được áp dụng rất rộng rãi ở các nước
phát triển.
c) Đánh thuế hỗn hợp
Thuế thu nhập cá nhân có thể được đánh theo cách kết hợp cả hai phương
pháp kể trên. Ban đầu đánh thuế theo từng nguồn hình thành thu nhập, sau
đó tổng hợp tất cả các nguồn lại và đánh trùm lên tổng thu nhập một mức
thuế nữa. Phương pháp này cho phép áp dụng thuế suất luỹ tiến ngoài thuế
suất thông thường đánh trên từng loại thu nhập. Cách đánh thuế này đảm
bảo sự chính xác nhưng lại phức tạp khi tính toán.
Như vậy, mỗi phương pháp đều có những ưu nhược điểm riêng. Việc áp
dụng một phương pháp thích hợp tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội
từng nước, trình độ quản lý và yếu tố tâm lý, tập quán từng dân tộc.
1.2.6 Cơ sở xây dựng chính sách thuế Thu nhập cá nhân
Mặc dù ở mỗi nước, Luật thuế thuế thu nhập cá nhân được xây dựng khác
nhau tùy theo tính đặc thù của từng nước. Bởi vậy, giữa các nước sẽ có sự
khác nhau trong xác định thu nhập chịu thuế, thuế suất, miễn, giảm thuế…
Tuy nhiên, khi xây dựng chính sách thuế thuế thu nhập cá nhân các quốc gia
đều quan tâm giải quyết các vấn đề sau đây:
1.2.6.1 Xác định thu nhập chịu thuế
Thu nhập chịu thuế của một cá nhân trong kỳ tính thuế là tổng thu nhập
trừ đi tổng các khoản được giảm trừ.
Tổng thu nhập của đối tượng nộp thuế là tổng thu nhập được xác định
cơ sở để tính thu nhập chịu thuế mà đối tượng nộp thuế đó kiếm được trong
kỳ tính thuế. Do đó, tổng thu nhập của một đối tượng sẽ không bao gồm
những khoản miễn thuế. Để xác định tổng thu nhập cần phải xác định từng

nhau.
a
2
) Phúc lợi của người làm công
Phúc lợi bất kỳ bằng tiền hoặc không phải bằng tiền nhận được từ lao
động mà không nằm trong phần tiền lương, tiền công bằng tiền mặt.
Các khoản phúc lợi thông thường như nhà ở, sử dụng phương tiện đi lại
do người chủ lao động cung cấp cho mục đích cá nhân và cung cấp hàng
giảm giá cho người làm công. Toàn bộ các khoản phúc lợi dưới dạng hiện
vật này cũng coi như một khoản thu nhập của người lao động có khả năng
kinh tế như tiền công, tiền lương trả bằng tiền mặt nên thuộc vào cơ sở đánh
thuế.
Hiện nay, tồn tại ba phương pháp đánh thuế vào các khoản phúc lợi.
- Thứ nhất, đưa giá trị các khoản phúc lợi vào thu nhập chịu thuế của
người làm công như là một phần thu nhập của lao động (coi tiền lương, tiền
công bao gồm cả các khoản phúc lợi).
- Thứ hai, áp dụng thuế danh nghĩa đánh trên các khoản phúc lợi bằng
cách không cho phép người chủ lao động khấu trừ chi phí liên quan đến việc
cung cấp các khoản phúc lợi cho người làm công. Phương pháp này áp dụng
trong trường hợp khó phân bổ phúc lợi cho từng người. Nhưng trong trường
hợp người chủ lao động nằm trong tình trạng kinh doanh không có lãi thì
việc thu thuế khó thực hiện được.
- Thứ ba, thuế phúc lợi đánh riêng biệt đối với người chủ lao động dựa
trên giá trị các khoản phúc lợi cung cấp cho người làm công. Phương pháp
này được áp dụng ở một số nước đang phát triển và các nước có nền kinh tế
chuyển đổi, nhưng việc áp dụng hình thức thuế suất luỹ tiến từng phần thích
hợp đối với từng người làm công lại gặp khó khăn.
Từ các phương pháp nêu trên có thể cho phép xây dựng chế độ thuế phúc
lợi độc lập với hệ thống thuế thu nhập cá nhân hoặc là kết hợp với hệ thống
thuế thu nhập nhằm đảm bảo gánh nặng chung về thuế tương đồng đối với

b) Đánh thuế trên cơ sở cư trú hay nguồn phát sinh thu nhập
Để tiến hành đánh thuế thu nhập cá nhân trước hết phải căn cứ vào hai cơ
sở là “cư trú” và “nguồn phát sinh thu nhập”.
Hệ thống đánh thuế dựa vào tình trạng “cư trú” được sử dụng rộng rãi
trên thế giới. Theo hệ thống này, các cá nhân cư trú ở một nước phải nộp
thuế tại nước đó và đánh trên mọi khoản thu nhập từ khắp nơi trên thế giới,
còn những cá nhân không cư trú chỉ bị đánh thuế trên phần thu nhập phát
sinh tại nước đó. Tuy nhiên, khái niệm cư trú được quy định khác nhau ở
các nước khác nhau.
Cơ sở thứ hai được dựa vào để xác định nghĩa vụ nộp thuế là “nguồn phát
sinh thu nhập”. Nếu áp dụng theo cơ sở nguồn phát sinh thu nhập thì các cá
nhân chỉ phải nộp thuế thu nhập đối với khoản thu nhập phát sinh tại nước
sở tại mà không phải nộp thuế thu nhập đối với những khoản thu nhập phát
sinh ở nước ngoài. Cách đánh thuế này thích hợp với những nước có nhiều
người nước ngoài đến làm việc và đầu tư còn bản thân công dân của nước
đó ít đi làm hoặc đầu tư ở nước ngoài.
Việc xác định rõ cơ sơ đánh thuế theo tình trạng cư trú hay nguồn phát
sinh thu nhập không những có ý nghĩa quan trọng trong công tác xác định
nghĩa vụ nộp thuế của các cá nhân mà còn là cơ sở để tiến hành đàm phán,
ký kết các hiệp định tránh đánh thuế trùng giữa các nước với nhau trong
quan hệ quốc tế về thuế.
1.2.6.2 Xác định các khoản thu nhập miễn trừ
Một trong những đặc điểm quan trọng của thuế thu nhập cá nhân
là có tính tới hoàn cảnh của từng cá nhân cần phải được xem xét khi
xác định thu nhập chịu thuế. Các khoản được giảm trừ có thể được thực hiện
dưới hai dạng: miễn trừ cá nhân và miễn trừ tiêu chuẩn.
- Miễn trừ cá nhân được thực hiện theo phương pháp kê khai chi phí thực
tế phát sinh đối với các khoản được phép giảm trừ. Đối với phương pháp
này, một số khoản chi phí kê khai sẽ đòi hỏi phải có chứng từ chứng minh,
một số khoản được thực hiện theo phương pháp định mức và một số khoản

suất luỹ tiến. Có hai loại thuế suất luỹ tiến là luỹ tiến toàn phần và luỹ tiến
từng phần (còn gọi là thuế suất đơn nhất kết hợp với ngưỡng tính thuế). Mỗi
loại thuế suất luỹ tiến có hiệu quả điều tiết khác nhau, trong đó biểu thuế luỹ
tiến từng phần được coi là đảm bảo công bằng hơn và không gây ra mâu
thuẫn “mức tăng của thuế lớn hơn mức tăng của căn cứ tính thuế” tại điểm
tiếp giáp giữa hai bậc thuế.
Biểu thuế luỹ tiến từng phần có thể có hai dạng. Một dạng chia thành
nhiều bậc thuế. Một dạng chỉ đơn giản gồm một vài bậc. Biểu thuế nhiều
bậc chia theo các mức thu nhập khác nhau đảm bảo công bằng hơn vì chỉ có
sự chuyển dịch nhẹ nhàng về mức thuế giữa các bậc nhưng việc tính thuế có
phần phức tạp. Biểu thuế ít bậc có ưu điểm là thuận lợi trong việc tính thuế
nhưng mức thuế giữa hai bậc thường chênh lệch nhau nhiều nhất là khoảng
tiếp giáp giữa hai bậc gây tâm lý không công bằng trong nghĩa vụ thuế.
Khi xây dựng biểu thuế của thuế thu nhập cá nhân, các quốc gia thường sử
dụng một số nguyên tắc sau:
- Thứ nhất, đánh thuế cùng một mức vào thu nhập tổng hợp với số lượng
thuế suất vừa phải để có thể quản lý tốt hơn.
- Thứ hai, mức thuế không nên quá cao làm ảnh hưởng đến nỗ lực lao
động, tiết kiệm và đầu tư.
- Thứ ba, tuỳ theo đặc điểm tình hình kinh tế xã hội mà có thể sử dụng
thuế suất ưu tiên linh hoạt cho từng loại thu nhập. Theo tập tục tuyền thống
thì hầu hết các nước sử dụng thuế suất ưu đãi đối với thu nhập từ lao động
hơn là thu nhập từ vốn.
Thiết kế biểu thuế với các thang bậc cụ thể không chỉ là vấn đề mang tính
kỹ thuật phức tạp, mà nó còn chứa đựng nội dung kinh tế nhất định. Biểu
thuế có thể đánh vào đồng thu nhập đầu tiên để thực hiện nguyên tắc bất kể
cá nhân nào cứ có thu nhập là phải nộp thuế.
1.2.6.4 Phương pháp quản lý thu nộp thuế
Thuế thu nhập có thể được thu theo phương pháp khấu trừ tại nguồn hoặc
phương pháp thu trực tiếp.

Về đơn vị nộp thuế là cá nhân hay hộ gia đình, trên thế giới cũng tồn tại
hai phương pháp. Phương pháp thứ nhất thu vào thu nhập thực tế của từng
cá nhân có ưu điểm đơn giản, dễ làm, thu kịp thời cho ngân sách, nhưng lại
không đảm bảo công bằng trong phân phối thu nhập vì mỗi cá nhân có
những hoàn cảnh và gánh nặng gia đình khác nhau. Trong một chừng mực
nhất định, việc cho phép khấu trừ theo mức tiêu chuẩn hoặc suất miễn thu
tiêu chuẩn có thể chưa thực sự sát với hoàn cảnh gia đình của những cá nhân
cụ thể. Còn phương pháp thu vào thu nhập của cả hộ gia đình, tuy đảm bảo
công bằng hơn về mặt xã hội song quá trình quản lý thu thuế phức tạp, chi
phí hành thu cao nên ít được các nước áp dụng.
1.3 Kinh nghiệm điều hành chính sách thuế TNCN của một số nước
trên thế giới
Nội dung cơ bản của chính sách thuế TNCN ở một số nước trên thế
giới:
o Thuế TNCN ở Pháp: Phụ lục I (trang 83)
o Thuế TNCN ở Nhật: Phụ lục II (trang 88)
o Thuế TNCN ở Thái Lan: Phụ lục III (trang 91)
o Thuế TNCN ở Trung Quốc: Phụ lục IV (trang 96)
Việt Nam tiến hành đổi mới toàn diện nền kinh tế từ sau Đại hội Đảng
VI (1986), đến nay đã 20 năm, khoảng thời gian chưa đủ dài để chúng ta tiến
hành giải quyết đồng bộ những vấn đề kinh tế vĩ mô, nhưng đó là một quá
trình từng bước hoàn thiện công tác quản lý, điều hành kinh tế thị trường
trong thời gian qua. Thống nhất quan điểm nghiên cứu kinh nghiệm của các
quốc gia đi trước, vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của Việt Nam.
Thiết nghĩ những kinh nghiệm điều hành chính sách thuế TNCN của một số
quốc gia có thể giúp Việt Nam trong việc xây dựng một chính sách thuế
TNCN trong giai đoạn tới.
Nhìn chung, chính sách thuế TNCN của các nước có những điểm như
sau:
- Hầu hết các quốc gia đều thực thi chính sách thuế thu nhập cá nhân

+ Luật thuế thu nhập cá nhân của Pháp xác định 8 loại thu nhập chịu thuế.
Thu nhập ròng làm căn cứ tính thuế là tổng hợp thu nhập ròng của từng loại
thu nhập mà mỗi đối tượng nộp thuế có được trong năm. Tổng thu nhập chịu
thuế của hộ nộp thuế bằng tổng các khoản thu nhập ròng từ mọi nguồn thu
nhập của đối tượng nộp thuế cộng với tổng thu nhập của vợ (hoặc chồng) và
của các con sáp nhập vào hộ (nếu có) sau khi trừ các khoản lỗ của từng loại
thu nhập. Ngoài ra, hộ nộp thuế còn được trừ khỏi tổng thu nhập chịu thuế
một khoản chi phí như: trợ cấp đời sống bắt buộc theo phán quyết của tòa
đối với vợ (chồng) đã ly thân hay ly hôn, chi nuôi dưỡng người già trên 75
tuổi… và khoản lỗ chưa trừ hết trong 5 năm trước.
+ Nhật Bản xác định thu nhập chịu thuế theo từng nguồn hình thành thu
nhập, mỗi loại thu nhập chịu thuế được xác định bằng tổng thu nhập trừ đi
các khoản khấu trừ hoặc các khoản chi phí hợp lý tùy thuộc vào nguồn hình
thành thu nhập.
+ Đối với Thái Lan thu nhập chịu thuế được xác định tương tư như ở Pháp
là tổng thu nhập ròng chịu thuế tổng hợp từ các nguồn của cá nhân, nhưng
khác so với Pháp là Thái Lan có đơn ví tính thuế là cá nhân nên thu nhập
ròng chịu thuế được tính cho cá nhân chứ không cộng vào thu nhập của cả
hộ như ở Pháp.
+ Trung Quốc xác định thu nhập chịu thuế theo từng nguồn hình thành thu
nhập, tùy từng loại thu nhập mà xác định thu nhập chịu thuế khác nhau như:
đối với thu nhập từ lao động, thu nhập chịu thuế được xác định bằng tổng
thu nhập trừ đi các khoản được khấu trừ, sau đó tính thuế theo biểu thuế lũy
tiến từng phần; đối với thu nhập từ chuyển nhượng tài sản, thu nhập chịu
thuế là phần thu nhập còn lại sau khi trừ các chi phí liên quan và chịu thuế
suất 20%…
- Về thuế suất: Thuế suất cao nhất trong biểu thuế có sự khác nhau, chẳng
hạn như ở Inđonêxia 35%, Thái Lan 37%, Trung Quốc 45%, Malaysia 34%,
Hàn Quốc 40%,…


thuế đối với một cá nhân tại một nước trên toàn bộ thu nhập nhận được từ
mọi nguồn hoặc cũng có thể đánh thuế đối với một cá nhân chỉ trên phần thu
nhập có nguồn gốc tại nước sở tại.
Nguyên tắc đánh thuế thu nhập cá nhân dựa theo cư trú được hầu hết các
nước áp dụng để đánh thuế đối với các đối tượng được coi là cư trú tại nước
đó. Tuy nhiên, khái niệm thế nào là một đối tượng cư trú tại một nước lại
được định nghĩa không giống nhau trong luật thuế thu nhập cá nhân của các
nước.
Nguyên tắc nguồn phát sinh thu nhập được hầu hết các nước áp dụng
để đánh thuế đối với khoản thu nhập phát sinh tại nước đó của các đối
tượng không cư trú.
Tuỳ mỗi nước, tuỳ theo điều kiện kinh tế – xã hội của mình mà lựa chọn
những nguyên tắc đánh thuế thích hợp. Đối với Việt Nam chúng ta có thể
đánh thuế theo tiêu thức “cư trú” và “nguồn” để xác định đúng đắn đối
tượng nộp thuế và thu nhập chịu thuế.
1.4.3 Đơn vị tính thuế
Vấn đề xác định đơn vị thuế – cơ sở để tính thu nhập chịu thuế của một
đối tượng có một ý nghĩa quan trọng về tính công bằng xã hội có liên quan
mật thiết với cơ cấu thuế suất. Mặc dù mỗi nước sử dụng đơn vị tính thuế
khác nhau, song chủ yếu chỉ bao hàm: cá nhân hay gia đình.
Nếu áp dụng đơn vị thuế là hộ gia đình như ở Pháp thì đối tượng cư trú
được kê khai nộp thuế theo hộ gia đình, bao gồm người nộp thuế và người
nuôi dưỡng. Người nộp thuế là các cá nhân độc thân hoặc hộ gia đình chưa
có con nhưng có thu nhập, người nuôi dưỡng là các con chưa đến tuổi thành
niên, người tàn tật, … Khi tính thuế theo hộ gia đình có thể quy đổi từng
thành viên trong hộ gia đình thành các suất thuế theo quy định:
• Người độc thân một suất
• Một cặp vợ chồng chưa có con 2 suất
• Con thứ nhất (dưới 18 tuổi) 0,5 suất
• Con thứ 2 (dưới 18 tuổi) 0,5 suất

thực hiện phân loại thu nhập chịu thuế theo từng nguồn mà dựa theo tính
chất ổn định, đều đặn của thu nhập phát sinh, có nghĩa là thu nhập được
phân thành thu nhập thường xuyên và thu nhập không thường xuyên, theo
đó, mỗi loại thu nhập phải chịu thuế theo cơ chế riêng. Theo kinh nghiệm
của các nước cho thấy chúng ta nên xác định đánh thuế theo từng nguồn
hình thành thu nhập chịu thuế.
1.4.5 Về thuế suất thuế thu nhập cá nhân
Nhìn chung các nước đều áp dụng biểu thuế luỹ tiến từng phần gồm các
bậc. Nếu áp dụng biểu thuế ít bậc sẽ thì biểu thuế sẽ gọn và đơn giản nhưng
mức độ điều tiết thu nhập lại không hợp lý. Ngược lại, nếu áp dụng biểu
thuế nhiều bậc sẽ đảm bảo tính chất phân phối công bằng hơn nhưng việc
tính thuế lại trở nên phức tạp. Hiện nay biểu thuế của các nước thường được
xây dựng ở mức 4 – 8 bậc. Điều này cũng hoàn toàn phù hợp khi vận dụng
vào Việt Nam sao cho biểu thuế vừa đơn giản để phù hợp trình độ người
dân, đồng thời vừa đảm bảo sự phân phối tương đối công bằng.
Có nước quy định các chế độ miễn trừ cho bản thân người nộp thuế (vợ
hoặc chồng, bố mẹ, con cái phải nuôi dưỡng) nhưng có nước lại áp dụng
biểu tính thuế từ đồng thu nhập đầu tiên để người nộp thuế thấy rõ nghĩa vụ
và trách nhiệm công dân cuả mình. Ở nhiều nước trong biểu thuế lại quy
định miễn trừ cho một mức thu nhập nhất định coi như mức khởi điểm tính
thuế. Những cách này được áp dụng tùy thuộc vào điều kiện và trình độ
quản lý của từng nước. Tôi cho rằng, để đảm bảo công bằng trong điều tiết
thu nhập của các tầng lớp dân cư, chúng ta nên nghiên cứu qui định biểu
thuế suất với mức khởi điểm chịu thuế (xem như khoản chiết trừ của cá nhân
của người nộp thuế) và khoản chiết trừ gia cảnh hợp lý. Tuy áp dụng “mức
khởi điểm chịu thuế” là không công bằng như trường hợp khấu trừ theo chi
phí thực tế, nhưng để khấu trừ các chi phí thực tế này thì phải có chứng từ
hợp lệ, chứng minh được và các giao dịch phải được thực hiện qua ngân
hàng. Đối với điều kiện nước ta hiện nay và trong những năm sắp tới thì
không thể thực hiện phương pháp này


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status