BÁO CÁO - THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ VIỆT NAM NĂM 2004 - Pdf 11


i

BỘ THƯƠNG MẠI BÁO CÁO

THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ VIỆT NAM
NĂM 2004
Lưu ý

Tài liệu này do Vụ Thương mại điện tử, Bộ Thương mại chủ trì biên soạn. Những quan
điểm và nhận định đưa ra trong Báo cáo tổng hợp từ kết quả điều tra khảo sát và không
phản ánh quan điểm chính thức của Bộ Thương mại.

Mọi trích dẫn thông tin từ tài liệu này phải nêu rõ nguồn “Báo cáo Thương mại điện tử
Việt Nam 2004” của Bộ Thương mại.

Tổ chức cá nhân có nhu cầu xin báo cáo, xin liên hệ với Vụ Thương mại điện tử, Bộ
Thương mại, 21 Ngô Quyền, Hà Nội, Việt Nam.

Toàn văn Báo cáo này cũng được đăng trên website chính thức của Bộ Thương mại, mục
“Thương mại điện tử” phần “Chính sách”, tại địa chỉ sau:

iii
LỜI MỞ ĐẦU

Thực hiện nhiệm vụ thống nhất quản lý nhà nước về thương mại điện tử,


TS. Lê Danh Vĩnh
Thứ trưởng Bộ Thương mại
(đã ký)

iv
MỤC LỤC
Lời mở đầu
Mục lục hộp minh hoạ
Mục lục bảng
Mục lục đồ thị
Tổng quan tình hình phát triển thương mại điện tử tại Việt Nam năm 2004

Phần thứ nhất
Tổng quan về CNTT và viễn thông gắn với thương mại điện tử
1. Công nghệ thông tin
1.1. Tình hình ban hành chính sách
1.2. Tình hình phát triển và triển khai các chính sách về CNTT
2. Viễn thông và Internet
2.1. Tình hình ban hành chính sách
2.2. Tình hình hạ tầng viễn thông
2.3. Tình hình Internet
3. Một số công nghệ liên quan tới phát triển CNTT và Internet
3.1. Trao đổi dữ liệu điện tử (EDI)
3.2. Chữ ký điện tử và chứng thực điện tử
3.3. Phần mềm nguồn mở
4. Một số vấn đề khác
4.1. Sở hữu trí tuệ
4.2. An ninh mạng


5
5
6
7
14
14
16
19
20
20
21
23
24
24
25
25
26
26
27
28
28
29
29
30
31
32
32

3.1. Sản phẩm có độ tiêu chuẩn hóa cao
3.2. Sản phẩm số hóa
3.3. Sản phẩm thông tin
3.4. Thiếp, hoa, quà tặng
3.5. Hàng thủ công mỹ nghệ
4. Những dịch vụ ứng dụng TMĐT
4.1. Dịch vụ CNTT
4.2. Dịch vụ du lịch
4.3. Dịch vụ thông tin
4.4. Dịch vụ tư vấn
4.5. Dịch vụ giáo dục và đào tạo trực tuyến

Phần thứ tư
Một số dịch vụ hỗ trợ thương mại điện tử
1. Dịch vụ “chợ” trên mạng (các website cung cấp dịch vụ trung gian mua bán,
còn gọi là sàn giao dịch TMĐT)

33
33

34
35
37
38
38
39
41

vi
1.1. Tình hình phát triển chung
1.1.1. Về số lượng
1.1.2. Về trình độ tổ chức
1.1.3. Về hoạt động giao dịch thực tế tiến hành trên sàn
1.2. Các đơn vị đứng ra tổ chức và quản lý sàn
1.2.1. Tổ chức phi lợi nhuận
1.2.2. Doanh nghiệp nhà nước
1.2.3. Doanh nghiệp tư nhân
1.3. Hình thức tổ chức sàn
1.3.1. Cổng thông tin về cơ hội giao thương (B2B)
1.3.2. Trung tâm thương mại (B2B và B2C)
1.3.3. Website đấu giá (C2C)
1.4. Tính chuyên môn hóa
1.5. Hiệu quả kinh tế của dịch vụ sàn giao dịch điện tử
2. Dịch vụ thanh toán điện tử
2.1. Trao đổi dữ liệu tài chính điện tử
2.2. Thanh toán ngoại tuyến (thanh toán bằng thẻ tại các điểm bán hàng/dịch
vụ)
2.3. Thanh toán trực tuyến
2.3.1. Giao dịch ngân hàng trực tuyến
2.3.2. Thanh toán mua hàng trên Internet bằng tài khoản hoặc thẻ của ngân
hàng Việt Nam
2.3.3. Hệ thống lập và thanh toán hóa đơn điện tử
2.4. Thanh toán di động

Phần thứ năm
Kết luận và khuyến nghị
1. Kết luận
1.1. Phát triển CNTT và Internet

93

95
95
96

98
100 101
101
102
103
104
105
106
106
106
107
107
107
108
108
108
109

vii

Phụ lục

2.1
2.2
2.3
2.4
2.5
2.6
2.7
2.8
2.9
2.10
2.11
3.1
3.2
3.3
3.4
3.5
3.6
4.1
4.2
4.3
4.4
4.5
4.6
4.7
4.8

Tình hình thực hiện các Quyết định của Thủ Tướng Chính phủ
về thống kê CNTT và TT
Mối quan hệ giữa trang web và TMĐT
Sự chưa hợp lý của các quy định về quản lý tên miền Việt nam

Một mô hình thanh toán thẻ cho giao dịch trực tuyến ix
Mục lục bảng
Bảng
1.1
1.2
1.3
1.4
1.5
3.1
3.2
3.3
3.4
3.5
3.6
3.7

3.8

3.9

3.10
3.11

3.12
3.13
3.14
3.15

Một số website kinh doanh sách trực tuyến
Một số website kinh doanh hoa và quà tặng
Một số website hàng thủ công mỹ nghệ
Một số website du lịch
Một số website cung cấp dịch vụ thông tin
Danh sách các sàn thương mại điện tử của Việt Nam
Xếp hạng một số sàn giao dịch theo tiêu chí của Alexa x
Mục lục đồ thị
Hình
3.1
3.2
3.3
3.4
3.5
3.6
3.7
3.8
3.9

3.10
4.1
4.2

Các doanh nghiệp có website phân theo quy mô lao động
Hình thức truy cập website của các doanh nghiệp nói chung
Hình thức truy cập Internet của các doanh nghiệp có website
Tỷ trọng chi CNTT trong chi phí hoạt động hàng năm của doanh nghiệp


1. Hạ tầng viễn thông và Internet tốt hơn

Một trong những kết quả quan trọng nhất của Báo cáo này là đã ước tính
được tổng số website của các doanh nghiệp tại Việt Nam đã đạt tới con số 17.500
vào cuối năm 2004. Đây là con số đầy ấn tượng và phản ánh trung thực hạ tầng
viễn thông và Internet tại Việt Nam đã đạt được tiến bộ đáng kể trong năm 2004 so
với năm 2003. Các con số thuê bao Internet đạt trên 2 triệu, số IP đã cấp là 0,45
triệu, và 35.000 thuê bao truy nhập Internet sử dụng băng thông rộng đã thể hiện
phần nào bước tiến này. Mặt khác, trong số các doanh nghiệp tham gia điều tra phục
vụ Báo cáo này có tới 53,9% truy cập Internet sử dụng ADSL cũng cho thấy bức
tranh chung về sự năng động của các doanh nghiệp trong việc ứng dụng dịch vụ
mới cũng như tầm quan trọng của hạ tầng viễn thông và Internet trong nền kinh tế
hiện đại.

2. Môi trường pháp lý chưa thay đổi

Đối lập với sự thay đổi nhanh trong hạ tầng viễn thông và Internet là sự
chậm chạp của hầu hết các cơ quan xây dựng chính sách và pháp luật trong việc tạo
lập môi trường pháp lý thuận lợi cho TMĐT phát triển. Đây là một minh hoạ rõ
ràng về tình hình khối doanh nghiệp năng động hơn khối cơ quan chính phủ. Điều
này cũng không phải là ngoại lệ ở Việt Nam khi UNCTAD đã chỉ ra trong giai đoạn
đầu của TMĐT tại các nước đang phát triển thì hạ tầng viễn thông và Internet yếu
kém là nguyên nhân chủ yếu cản trở việc ứng dụng TMĐT, nhưng sau đó môi
trường pháp lý không thích hợp lại trở thành lực cản lớn nhất đối với sự phát triển
của TMĐT.

Năm 2004 đã chứng kiến việc các cơ quan nhà nước tích cực xây dựng nhiều
dự thảo văn bản quy phạm pháp luật nhằm nhanh chóng tạo ra môi trường pháp lý
thuận lợi, đồng bộ và phù hợp với các quy định quốc tế. Đó là Uỷ ban Khoa học,

nhỏ, v.v… nên chủ yếu mới dừng ở giai đoạn thiết lập và thử nghiệm. Giá trị giao
dịch thực tế còn rất thấp.

Loại hình giao dịch B2B truyền thống, tức là hai hoặc nhiều doanh nghiệp có
thể mua bán tự động với nhau (B2Bi), chưa hình thành ở Việt Nam. Đồng thời,
chưa xuất hiện các website cung cấp dịch vụ đấu thầu trực tuyến quy mô lớn.

4. Đầu tư cho TMĐT hợp lý hơn

Trong khi còn nhiều ý kiến đánh giá đầu tư cho CNTT của các cơ quan chính
phủ đạt hiệu quả thấp, tình hình đầu tư cho TMĐT của các doanh nghiệp đạt hiệu
quả khả quan. Rất nhiều doanh nghiệp tự đánh giá có thể hoàn vốn đầu tư cho
TMĐT trong vòng hai năm. Cơ cấu đầu tư tuy còn chưa hợp lý do vẫn chưa đánh
giá đúng tầm quan trọng của dịch vụ tư vấn, giải pháp, phần mềm, đào tạo và
chuyển giao công nghệ nhưng nói chung tỷ lệ đầu tư cho các hoạt động này đã tăng
lên so với đầu tư cho phần cứng.

Nhiều doanh nghiệp cung cấp giải pháp, phần mềm TMĐT và cung cấp dịch
vụ thiết kế website đã biết tận dụng những lợi thế của phần mềm nguồn mở.

5. Nguồn nhân lực cho TMĐT bắt đầu hình thành

Nhận thức về tầm quan trọng của CNTT giữa các doanh nghiệp còn có sự
cách biệt đáng kể nhưng xu hướng chung là các doanh nghiệp ngày càng đánh giá
cao ý nghĩa của việc ứng dụng CNTT trong việc nâng cao năng suất và mở rộng thị
trường. Năm 2004 số doanh nghiệp có cán bộ chuyên trách về CNTT tăng nhanh.
Tuy nhiên còn có sự lúng túng trong việc phân công cán bộ phụ trách về thương mại
điện tử. Một số doanh nghiệp giao cho cán bộ CNTT kiêm phụ trách thương mại
điện tử, số khác giao cho cán bộ tiếp thị phụ trách. Thực tế cho thấy những doanh
nghiệp có cán bộ lãnh đạo được đào tạo ở các nước phát triển hoặc am hiểu về

năm khởi đầu cho giai đoạn hai của TMĐT ở Việt Nam.
1Mặc dù có nhiều cố gắng nhưng vai trò của nhà nước trong năm 2004 chưa
nổi bật. Thứ nhất, về môi trường pháp lý, việc chấm dứt Dự án Pháp lệnh Thương
mại điện tử trong khi Luật Giao dịch điện tử không thể ban hành cho tới cuối năm
2005 đồng nghĩa với việc giao dịch thương mại sử dụng các phương tiện điện tử
chưa được pháp luật chính thức thừa nhận. Hậu quả là không một đơn vị, tổ chức,
doanh nghiệp nào có thể đầu tư thoả đáng vào TMĐT cũng như không doanh
nghiệp nào có thể thực hiện các giao dịch thương mại điện tử lớn.

Thứ hai, về mặt chính sách, năm 2004 vẫn chưa xuất hiện chính sách nào về
TMĐT cụ thể hoá đường lối phát triển đã được vạch ra trong giai đoạn 2000 –
2002. Các doanh nghiệp hầu như không nhận được bất kỳ sự hỗ trợ nào của nhà
nước, đặc biệt trong việc đầu tư vào việc cung cấp giải pháp, dịch vụ cho giao dịch
thương mại điện tử B2B.
2Thứ ba, cho tới cuối năm 2004 vẫn chưa xuất hiện chiến lược dài hạn hay kế
hoạch trung hạn nào đối với phát triển TMĐT trong khi TMĐT liên quan tới nhiều 1
Giai đoạn một là giai đoạn thương mại điện tử hình thành và được pháp luật thừa nhận chính thức, giai đoạn
hai là giai đoạn thương mại điện tử được ứng dụng rộng rãi và phát triển.
2
Phát biểu tại Hội nghị Thương mại toàn quốc do Bộ Thương mại tổ chức vào tháng 2 năm 2005, Phó
Thủ Tướng Chính phủ Vũ Khoan đã nhấn mạnh thương mại điện tử không đạt được mục tiêu đặt ra trong

sáu hoạt động trên nếu tách rời với các hoạt động còn lại, nghĩa là cần phải triển
khai đồng bộ cả sáu hoạt động này. Có thể thấy đây là thử thách rất lớn đối với các
cơ quan nhà nước trong năm 2005 và các năm tiếp theo.

3
Năm 2001 Bộ Thương mại đã xây dựng Đề án phát triển TMĐT giai đoạn 2001-2005 và đã trình Chính phủ
vào tháng 6/2001 nhưng chưa được Chính phủ phê duyệt. Như vậy, cho tới cuối năm 2004 chưa có chiến
lược, kế hoạch tổng thể hay đề án phát triển TMĐT nào được cấp Chính phủ hay Thủ Tướng Chính phủ phê
duyệt.

1
PHẦN THỨ NHẤT
TỔNG QUAN VỀ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ VIỄN THÔNG
GẮN VỚI THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ

Công nghệ thông tin (CNTT) và viễn thông là nền tảng cho sự phát triển của
của TMĐT. Phần này sẽ giới thiệu tổng quan về tình hình phát triển công nghệ
thông tin và viễn thông có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới phát triển TMĐT
trong năm 2004.
1. Công nghệ thông tin
1.1. Tình hình ban hành chính sách
Sau khi một loạt đường lối, chính sách lớn về CNTT được ban hành từ năm
2000 đến năm 2002, việc ban hành chính sách về CNTT đã chững lại trong năm
2003 và năm 2004.

5/2001 Quyết định số 81/2001/QĐ-TTg của Thủ Tướng Chính phủ phê duyệt
Kế hoạch hành động thực hiện Chỉ thị 58/CT-TW về việc ứng dụng
và phát triển CNTT trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá
giai đoạn 2001 – 2005.
5/2001 Thông tư số 31/2001/TT-BTC của Bộ Tài chính về một số chỉ dẫn
thực hiện ưu đãi thuế theo Quyết định số 128/2000/QĐ-TTg của Thủ
Tướng Chính phủ.
5/2001 Thông tư số 27/2001/TT-BVHTT của Bộ Văn hoá Thông tin về việc
hướng dẫn thực hiện Nghị định số 76/CP ngày 29/11/1996 và Nghị
định số 60/CP ngày 6/6/1997 của Chính phủ về việc hướng dẫn thực
hiện một số qui định về bản quyền trong Bộ Luật Dân sự.
6/2001 Quyết định số 112/2001/QĐ-TTg của Thủ Tướng Chính phủ về việc
phê duyệt Đề án tin học hoá quản lý hành chính nhà nước giai đoạn
2001 - 2005.
8/2001 Quyết định số 987/2001/QĐ-NHNN của Thống đốc Ngân hàng Nhà
nước ban hành Quy chế quản lý, cung cấp và khai thác sử dụng thông
tin tín dụng điện tử.
12/2001 Quyết định số 1557/2001/QĐ-NHNN về việc ban hành Quy chế thanh
toán bù trừ điện tử liên ngân hàng.
3/2002 Quyết định số 44/2002/QĐ-TTg của Thủ Tướng Chính phủ về việc sử
dụng chứng từ điện tử như là chứng từ kế toán trong việc tính toán và
thanh toán vốn tại các tổ chức cung cấp dịch vụ thanh toán.
3/2002 Quyết định số 212/2002/QĐ-NHNN về việc ban hành Quy trình kỹ
thuật nghiệp vụ thanh toán bù trừ điện tử liên ngân hàng (Quyết định
này sửa đổi, bổ sung Quyết định số 1557/2001/QĐ-NHNN ngày
14/12/2001 về việc ban hành Quy chế thanh toán bù trừ điện tử liên
ngân hàng).
5/2002 Quyết định số 543/QĐ-NHNN của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước
về việc ban hành các quy định về xây dựng, cấp phát, quản lý và sử
dụng chữ ký số đối với các chứng từ điện tử trong thanh toán điện tử

2010”.

10/2004 Quyết định số 179/2004/QĐ-TTg của Thủ Tướng Chính phủ phê
duyệt Chiến lược ứng dụng và phát triển CNTT tài nguyên và môi
trường đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020. Hai sự kiện CNTT nổi bật trong năm 2004 là Hội thảo Quốc gia về CNTT
và TT lần thứ 2 và Tuần lễ Tin học Việt Nam lần thứ 13. Hội thảo Quốc gia về
CNTT & TT lần thứ 2 tổ chức vào tháng 8 năm 2004 tại Đà Nẵng với chủ đề “Ứng
dụng CNTT và TT trong các doanh nghiệp”. Hội thảo đã nêu bật được một số thành
công trong việc ứng dụng CNTT và TT của nhiều doanh nghiệp trên phạm vi cả
nước, đồng thời chỉ ra nhiều khó khăn mà các doanh nghiệp gặp phải, từ môi
trường pháp lý, chính sách tới nguồn nhân lực. Hội thảo đã nhận được sự quan tâm
của các nhà lãnh đạo chủ chốt của Chính phủ về CNTT và TT như Phó Thủ Tướng
Chính phủ, Trưởng Ban Chỉ đạo quốc gia về CNTT (Ban Chỉ đạo 58), Phạm Gia
Khiêm, Bộ trưởng Bộ Bưu chính Viễn thông, Phó Trưởng Ban chỉ đạo 58, Đỗ
Trung Tá. Tham dự Hội thảo còn có rất nhiều đại biểu từ các cơ quan, tổ chức,
doanh nghiệp liên quan tới hoạch định chính sách, ứng dụng và kinh doanh trong
lĩnh vực CNTT và TT của cả nước.
Tuần lễ Tin học Việt Nam lần thứ 13 (IT Week 13) tổ chức vào tháng 10
năm 2004 tại Hà nội với chủ đề “Hướng tới Chính phủ điện tử”. Đây là hoạt động
tích cực của giới CNTT và TT Việt Nam nhằm biểu dương lực lượng, thể hiện tiềm
năng và cơ hội trong quá trình Hội nhập và Phát triển. Sáng kiến của Hội Tin học
Việt Nam (VAIP) trao Giải thưởng Cúp Vàng CNTT-TT Việt Nam được tổ chức
trong khuôn khổ Tuần lễ Tin học đã nhận được sự ủng hộ tích cực. Giải thưởng
Cúp vàng có mục đích tôn vinh và khuyến khích các sản phẩm, cá nhân, tập thể đã
đóng góp nhiều cho sự nghiệp phát triển và ứng dụng CNTT và TT Việt Nam. Các
sản phẩm được được xét chọn và trao Cúp vàng tại IT WEEK 13 thuộc các lĩnh vực


USD phần mềm và dịch vụ, tăng 38,4% so với năm 2003.
Việc ứng dụng và phát triển CNTT đạt được một số tiến bộ đáng khích lệ
nhưng có thể thấy về tổng thể không đạt được các mục tiêu lớn mà một loạt đường
lối, chính sách và giải pháp đã đề ra, đặc biệt là về các lĩnh vực chính phủ điện tử,
thương mại điện tử, phát triển nguồn nhân lực CNTT, xuất khẩu phẩn mềm, v.v
Mặc dù chưa có báo cáo đánh giá chính thức về việc triển khai một loạt
chính sách và giải pháp lớn về CNTT nhưng có thể nhận thấy việc triển khai các
quyết định của Thủ Tướng Chính phủ liên quan tới CNTT không được sáng sủa.
Trong khi việc triển khai Đề án 112 về tin học hoá quản lý nhà nước đã góp phần
nhất định tới việc hình thành và phát triển chính phủ điện tử (eGovernment) thì
nhiều ý kiến cho rằng hiệu quả triển khai chưa cao. Việc triển khai Kế hoạch tổng
thể ứng dụng và phát triển CNTT tới 2005 theo Quyết định số 95/2002/QĐ-TTg
hầu như không tiến triển. Tình hình triển khai các hoạt động về phần mềm nguồn
mở của Dự án tổng thể “Ứng dụng và phát triển phần mềm nguồn mở ở Việt Nam 4
Bài trình bày tại Khóa đào tạo “Nâng cao năng lực hoạch định và thực thi chính sách phát luật cho Thương
mại điện tử” do Bộ Thương mại phối hợp với Dự án Canada về hỗ trợ thực thi chính sách (PIAP) tổ chức tại
Hà Nội ngày 4-7 tháng 4/2005

5
giai đoạn 2004 – 2008” theo Quyết định số 235/2004/QĐ-TTg cũng khá chậm
chạp.

Hộp 1.1
Tình hình thực hiện các Quyết định của Thủ Tướng Chính phủ
về thống kê CNTT và TT
Thống kê CNTT và TT
Việt Nam hầu như chưa triển khai hoạt động thống kê về CNTT. Rất khó có thể có được số liệu


Năm 2000 – 2002
8/2001 Nghị định số 55/2001/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý, cung cấp và
sử dụng dịch vụ Internet.

6
10/2001 Quyết định số 158/2001/QĐ-TTg của Thủ Tướng Chính phủ phê
duyệt Chiến lược phát triển Viễn thông tới năm 2010 và định hướng
tới 2020.
11/2001 Thông tư 04/2001/TT-TCBĐ của Tổng cục Bưu điện hướng dẫn thi
hành Nghị định số 55/2001/NĐ-CP về quản lý, cung cấp và sử dụng
dịch vụ Internet.
2/2002 Quyết định số 33/2002/QĐ-TTg của Thủ Tướng Chính phủ phê duyệt
Kế hoạch phát triển Internet Việt Nam giai đoạn 2001-2005.
5/2002 Pháp lệnh Bưu chính Viễn thông.
10/2002 Quyết định số 27/2002/QĐ-BVHTT của Bộ Văn hoá Thông tin ban
hành Quy chế quản lý và cấp phép cung cấp thông tin, thiết lập trang
thông tin điện tử trên Internet.

Năm 2003
5/2003 Quyết định số 92/2003/QĐ-BCVT của Bộ Bưu chính Viễn thông ban
hành Quy định về quản lý và sử dụng tài nguyên Internet.

Năm 2004
1/2004 Quyết định số 71/2004/QĐ-BCA(A11) của Bộ Công an ban hành quy
định về đảm bảo an toàn, an ninh trong hoạt động quản lý, cung cấp,
sử dụng dịch vụ Internet tại Việt Nam.
3/2004 Chỉ thị số 07/2004/CT-BBCVT của Bộ Bưu chính Viễn thông về việc
tăng cường công tác quản lý đại lý Internet công cộng.
5/2004 Chỉ thị 06/2004/CT-BBCVT của Bộ Bưu chính Viễn thông tăng

Về mạng truyền dẫn, các hệ thống truyền dẫn quốc tế bao gồm ba trung tâm
viễn thông quốc tế với các hệ thống tổng đài, truyền dẫn kỹ thuật số kết nối mạng
viễn thông Việt Nam với mạng viễn thông thế giới. Các tổng đài quốc tế được kết
nối tới nhiều nước khác nhau và chuyển tiếp tới tất cả các nước còn lại thông qua
cáp quang và vệ tinh. Ba trung tâm viễn thông quốc tế được liên kết với nhau bằng
hệ thống cáp quang có khả năng tự động xử lý sự cố, tự sửa chữa cho chính mình.
Đối với truyền dẫn liên tỉnh có mạng truyền dẫn tuyến trục Bắc – Nam bằng cáp
quang 20 Gbps trên quốc lộ 1A và trên đường dây 500 KV đảm bảo độ an toàn cao
và băng thông rộng. Tuyến đường trục này còn có thêm hệ thống vi ba số 140
Mbps để dự phòng. Ngoài ra còn có một số tuyến đường trục khác của Viettel,
ETC. Truyền dẫn liên tỉnh hầu hết đã được cáp quang hoá. Mạng truyền dẫn nội
tỉnh được mở rộng và đang được cáp quang hoá. Mạng truy cập bao gồm ba loại là
mạng cáp nội hạt, hệ thống thuê bao vô tuyến và hệ thống VSAT. Mạng cáp nội hạt
gồm mạng cáp đồng và mạng cáp quang để cung cấp dịch vụ viễn thông đến hộ
thuê bao. Hệ thống thuê bao vô tuyến hỗ trợ cho mạng cáp nội hạt và rất có hiệu
quả đối với các nhà cao tầng và địa bàn khó triển khai mạng cáp đồng. Hệ thống
VSAT được sử dụng cho các vùng miền núi và hải đảo.
Về thông tin di động, có bốn nhà khai thác đã cung cấp và hai nhà khai thác
khác đang chuẩn bị cung cấp dịch vụ di động toàn quốc. MobiFone và Vinaphone
của VNPT sử dụng công nghệ GSM với tổng số khoảng 4,4 triệu thuê bao và có
khả năng chuyển vùng tới hơn 84 nước. SPT sử dụng công nghệ CDMA1x cung
cấp dịch vụ từ tháng 7/2003 và hiện có khoảng 0,14 triệu thuê bao, Vietel sử dụng
công nghệ GSM cung cấp dịch vụ từ tháng 10/2004 và hiện có khoảng 0,15 triệu
thuê bao. Trong năm 2004 các mạng S-Fone, MobiFone và Vinaphone đã chính
thức cung cấp dịch vụ nhắn tin chéo mạng nên thúc đẩy sự phát triển của thông tin
di động. MobiFone và Vinaphone sử dụng công nghệ GSM đã chính thức cung cấp
dịch vụ GPRS/MMS chuẩn bị cho chiến lược tiến lên 3G. Hanoi Telecom sử dụng
công nghệ CDMA2000 đang chuẩn bị tham gia thị trường. VP Telecom sử dụng
công nghệ CDMA450 đang thử nghiệm mạng lưới và dịch vụ cho cung cấp dịch vụ
vô tuyến cố định. Đối với thông tin di động nội vùng bao gồm điện thoại vô tuyến

là 3,2 triệu người thì có thể thấy trong năm 2004 số người sử dụng đã tăng gần gấp
đôi.
Bảng 1.3
Số người sử dụng Internet trên 10.000 dân

Năm 2001 2002 2003 2004
Việt Nam 124 184 430 740
Trung Quốc 257 460 632 -
Thái Lan 577 776 965 -
Các nước phát triển - 4474 4495 -
Các nước đang phát triển - 429 501 -

Nguồn: VNNIC và Tổ chức viễn thông quốc tế (ITU)
Cùng với số thuê bao và số người sử dụng Internet, số tên miền Internet
phản ánh mức độ phổ cập Internet và hơn thế là mức độ ứng dụng Internet trong
các hoạt động kinh tế, xã hội.
Theo VNNIC, số tên miền Việt Nam đã tăng từ 2300 vào tháng 12/2002 lên
5510 vào tháng 12/2003 và 9037 vào tháng 12/2004 với số tên miền cấp hai .com
và .net khoảng 84%. Như vậy tốc độ tăng trưởng tên miền .VN năm 2004 khoảng
64%.
Tuy nhiên sự tăng trưởng này chưa phản ánh sự tăng trưởng chung của số
tên miền và số trang web của các doanh nghiệp Việt Nam vì chưa tính tới các tên
miền quốc tế. Căn cứ trên số tên miền .VN, thông tin về tên miền quốc tế tại
o
, ý kiến của các nhà chuyên môn tại một số công ty

9
cung cấp dịch vụ web hosting, thông tin về các doanh nghiệp trong Báo cáo Hiện
trạng phát triển TMĐT năm 2003 và các doanh nghiệp tham gia điều tra cho Báo
cáo này, có thể ước tính tổng số doanh nghiệp có trang web vào cuối năm 2004

Có thể liệt kê một số quy định còn chưa hợp lý như sau:
Điều 2: Tài nguyên Internet
Nghiêm cấm việc chuyển nhượng, cho thuê, bán lại tài nguyên Internet dưới bất
kỳ hình thức nào. 6
Có thể nhận thấy một số chính sách của Việt nam còn nặng về quản lý hành chính và chưa phù hợp với các
quy luật của kinh tế thị trường. Quy định nghiêm cấm việc chuyển nhượng, cho thuê, bán lại tài nguyên
Internet dưới bất kỳ hình thức nào không phải là trường hợp duy nhất. Trên lĩnh vực thương mại, một trong
những vấn đề được tranh luận nhiều nhất trong năm 2004 là việc các doanh nghiệp dệt may có quyền được
mua bán, cho vay, chuyển nhượng đối với hạn ngạch xuất khẩu sang Hoa Kỳ hay không.

10
Nhận xét: Quyết định không chỉ rõ tên miền quốc tế (gTLD) như .COM, .NET
có thuộc phạm vi điều chỉnh hay không. Trên thực tế các tên miền, có thể cả tên
miền Việt Nam (.VN), đang được mua bán.
Điều 6: Quyền và nghĩa vụ của các cơ quan, tổ chức, cá nhân sử dụng tài nguyên
Internet
3. Các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp có trách nhiệm trả lại tài nguyên
Internet cho Trung tâm Internet Việt Nam khi không còn nhu cầu sử dụng nữa.
Nhận xét: Tính khả thi của quy định này rất thấp.
7

6. Các tổ chức, cá nhân chỉ được sử dụng tên miền dưới tên miền dùng chung
(gTLD) sau 24 giờ kể từ khi thông báo cho VNNIC biết tại website

.
Nhận xét: Quy định này còn khó khả thi hơn quy định trên.
Điều 9 : Nguyên tắc đăng ký tên miền

đối với việc quản lý tên miền và tính khả thi của quy định này. Khi chủ sở hữu tên miền có được tên miền có
giá trị thương mại cao họ sẽ tìm mọi cách để bán tên miền đó mà không trả lại cho cơ quan quản lý nhà nước
về tên miền.

11
2. Nếu không đồng ý với kết quả giải quyết của VNNIC, các bên có liên quan
có thể yêu cầu các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo quy định của
pháp luật về khiếu nại.

Nhận xét: giải quyết tranh chấp về tên miền liên quan tới nhiều quy định pháp
luật khác, đặc biệt là các quy định về quyền sở hữu trí tuệ.
Hộp 1.3
Sự chưa hợp lý của các quy định về quản lý tên miền Việt Nam
Nhịp Sống Số
Thứ Hai, 02/08/2004, 17:27 (GMT+7)
Quản lý tên miền Việt Nam: cần nhiều cải tiến
TTO - Trong thời đại số, tên miền đồng nghĩa với thương hiệu và là một tài sản quan trọng của doanh nghiệp. Tuy
nhiên, các quy định về việc đăng ký và giải quyết tranh chấp của hệ thống tên miền .vn của Việt Nam vẫn còn
nhiều hạn chế. Đây là vấn đề nổi cộm được các chuyên gia trong và ngoài nước tranh luận sôi nổi tại hội thảo bàn
tròn “Tên miền Internet và tranh chấp tên miền” vừa được tổ chức tại Hà Nội.
Quy định chưa rõ ràng, nhiều bất cập khi đăng ký
Quy định về quản lý và sử dụng tài nguyên Internet được ban hành theo Quyết định số 92/2003/QĐ-BBCVT ngày 26 tháng
5 năm 2003 của Bộ trưởng Bộ Bưu chính Viễn thông là cơ sở pháp lý quan trọng giúp phát triển hệ thống tên miền quốc
gia .vn. Trong đó quy định việc đăng ký tên miền là “tổ chức, cá nhân đăng ký trước được xét cấp trước”. Kể từ thời điểm
Quy định ra đời, đến tháng 6 năm 2004, đã có 7.454 tên miền được đăng ký với Trung tâm Thông tin Internet Việt Nam
(VNNIC). Đây có thể nói là một bước tiến đáng kể trong việc phát triển hệ thống tên miền quốc gia.
Tuy nhiên, theo các chuyên gia, quy định trên còn một số vấn đề bất cập cần được sửa đổi như: nguyên tắc ai đăng ký
trước được cấp phát trước cũng như việc đăng ký trực tuyến chưa được triển khai, chưa có các quy định về giải quyết
tranh chấp tên miền, trình tự thủ tục giải quyết tranh chấp tên miền chưa được quy định rõ ràng, và mâu thuẫn với các quy
định về sở hữu trí tuệ của Bộ Văn hóa.


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status