Báo cáo " Vai trò lãnh đạo trong chính sách nước của Hoa Kỳ và toàn cầu " pot - Pdf 11

1

HOA KỲ VÀ CHÍNH SÁCH NƯỚC QUỐC TẾ
Ken Conca
University of Maryland

Bài viết này nghiên cứu về vai trò của Hoa Kỳ trong các cơ quan quốc tế và những hành động
để bảo vệ nguồn nước. Nước là thách thức toàn cầu trong nhiệm vụ bảo vệ môi trường và an
ninh nhân loại. Nước cũng là đặc trưng của hàng loạt các vấn đề môi trường “xuyên quốc gia”
mà nổi lên trong đó là các tổ chức quốc tế đang được hình thành để tập trung vào một vài
mảng khác nhau như: sáng kiến hỗ trợ phát triển, những nỗ lực điều hòa các cuộc tranh luận
đang tiếp diễn về tư hữu hóa nguồn nước và những đập nước lớn, chiến dịch nhằm công nhận
“nhân quyền” về nước, và một công ước khung hợp tác quốc tế về chia sẻ các lưu vực sông.
Sự hứa hẹn của Hoa Kỳ đối với những sáng kiến này hé lộ một số vấn đề: sự không thống
nhất trong chính sách của Hoa Kỳ về nguồn nước, sự thiên lệch có hệ thống coi nước như là
một mặt hàng trao đổi hơn là coi nhu cầu về nước như một “nhân quyền”, sự chậm trễ của các
tổ chức phi chính phủ Hoa Kỳ đối với một số lĩnh vực quan trọng trong chính sách nước toàn
cầu, cũng như một vài khoảng trống giữa chính sách trong nước và quốc tế của Hoa Kỳ với
các tư tưởng quốc tế về “hành động tối ưu” (best practices).
Từ khóa: Hoa Kỳ, nước, chính sách ngoại quốc, quản lý, xây dựng tổ chức, hỗ trợ phát triển,
sông quốc tế, đập nước, tư hữu hóa

Giới thiệu: Vai trò lãnh đạo trong chính sách nước của Hoa Kỳ và toàn cầu
Liệu Hoa Kỳ có phải là nhà lãnh đạo của chính sách nước quốc tế? Câu hỏi này có vẻ như kỳ
quặc, vì từ nhiều năm nay Hoa Kỳ vẫn được coi là một nhà lãnh đạo phù hợp trong các vấn đề
môi trường toàn cầu. Hoa Kỳ nắm một vai trò quan trọng trong một số các hiệp ước đa
phương về môi trường trong những thập niên 70 và 80 bao gồm: những ghi nhớ về bảo vệ
tầng ozôn, cấm buôn bán những loài đang có nguy cơ tuyệt chủng. Một điều chắc chắn là vai
trò lãnh đạo của Hoa Kỳ được điều khiển bởi những quyền lợi đặc biệt trong nước hơn là một
sự đồng thuận có tính chiến lược về môi trường trong chính sách ngoại quốc (Desombre,
2000). Tuy nhiên, hiện nay các thỏa thuận không ký, không phê chuẩn, không thực thi của

(IWRM), nhằm tập trung vào mạng lưới các chuyên gia và khả năng của họ để thấu hiểu các
tổ chức địa phương, các tổ chức liên chính phủ và các tổ chức phi chính phủ (NGO). Vẫn còn
những quá trình khác như là đối thoại giữa các bên liên quan và những vấn đề chính trị gây
tranh cãi xung quanh các đập nước lớn và kinh tế tự do mới là ít theo quy ước nhất định.
Chúng đang định hình xung quanh những hành động phản kháng và những phản ứng chính trị
gây tranh cãi mà loại bỏ một số giả định cốt lõi về những quá trình xây dựng chính sách chủ
đạo trên cơ sở khoa học và ngoại giao.
Điều này làm nảy sinh một câu hỏi khó: Nó có ý nghĩa gì đối với chính sách ngoại quốc của
một quốc gia để đưa ra một vấn đề về nguồn nước, việc xây dựng tổ chức quốc tế nào đã được
tiếp cận và truyền bá? Làm thế nào để chúng ta đánh giá khả năng lãnh đạo khi không có các
mục tiêu cụ thể và có thể lượng hóa được, ví dụ như sự ưng thuận và phê chuẩn hiệp ước?
Liệu nó có ý nghĩa hay không khi sử dụng thuật ngữ “những nhà lãnh đạo và những kẻ lạc
hậu” (Haas, Keohane và Levy, 1993) khi các tranh luận và các thành tố phức tạp trong việc
xây dựng tổ chức chỉ ra rằng có một số xuất phát điểm khác nhau và những định hướng khác
nhau để hướng đến?
Trong bài viết này, ngoài những hiểu biết hẹp tập trung về vai trò lãnh đạo, khái niệm rộng
hơn về lãnh đạo được tiếp cận theo hai cách riêng biệt. Thứ nhất, nghiên cứu các thành phần
phức tạp của việc xây dựng tổ chức: sự hỗ trợ song phương, sự tham gia trong các hoạt động
liên quan đến nguồn nước của các tổ chức tài chính quốc tế, mục tiêu phát triển thiên niên kỷ
(MDGs) của Liên Hợp Quốc (LHQ), quản lý chia sẻ và lưu vực sông, ủng hộ “luật nhân
quyền” về nước, và các cuộc luận chiến đang tiếp diễn xung quanh tác động của những đập
nước lớn. Thứ hai, xuyên suốt các lĩnh vực, sự lãnh đạo được hiểu không chỉ là bao gồm các
chiến lược hợp pháp quốc tế mà còn là sự cam kết (hay từ chối) các nguồn lực, hỗ trợ (hay
chống lại) quá trình xây dựng tổ chức, sự thống nhất (hay không thống nhất) của cả chính
sách trong nước và chính sách ngoại quốc với sự nâng cao những hiểu biết quốc tế về “best
practices”, và nền tảng khuôn mẫu cho tất cả các yếu tố trên. Trong trường hợp của Hoa Kỳ,
3

bức tranh mà trong đó nổi lên là: những hành động bị bóp méo theo hướng địa chính trị và sự
chậm chạp mang tính dập khuôn đối với các vấn đề về nước và viện trợ nước ngoài; cam kết

sức khỏe trẻ em, giảm nghèo, thành công trong phát triển bền vững (UNDP, 2006, trang 22 -
24).
Mặc dù nghèo đói vẫn còn là vấn đề dai dẳng, nhưng báo cáo hội nghị Mục tiêu Thiên niên kỷ
đã chỉ ra rằng tỷ lệ dân số thế giới có nước sạch để sử dụng đã tăng từ 71% (năm 1990) lên
80% (năm 2004). Điều này có nghĩa là “Thế giới đang đi đúng lộ trình để đạt được mục tiêu
về nước” (LHQ, 2006, p.19). Tuy nhiên, mục tiêu về vệ sinh có lẽ sẽ không thể đạt được ở
một số khu vực bao gồm cả vùng sa mạc và xung quanh sa mạc Sahara, Nam và Đông Nam
Á, nơi mà về cơ bản không thể đạt được các yêu cầu đặt ra của Mục tiêu Thiên niên kỷ.
4

Đi liền với những thách thức về thiếu hụt nước là sự cấp bách yêu cầu để giảm những sức ép
lên hệ sinh thái nước ngọt toàn cầu. Hệ sinh thái nước ngọt được biết đến là những gì thiết
yếu nhất đối với sức khỏe con người. Nó cung cấp những „hàng hóa‟ tài nguyên thiên nhiên
và những “dịch vụ” mà hệ sinh thái mang lại, ví dụ như: nước ngọt, đa dạng sinh học, kiểm
soát ngập úng, quy định vùng khí hậu, lọc nước, điều kiện nghỉ ngơi giải trí và các giá trị tự
nhiên khác. Hệ sinh thái nước ngọt là đối tượng bị tác động nhiều nhất bởi hoạt động nhân
sinh trên trái đất (Revenga, Brunner, Henninger, Kassem, & Payne, 2000). Hơn một phần ba
các lưu vực trên thế giới đang bị mất ít nhất 75% thảm phủ rừng, làm gia tăng xói mòn, suy
thoái đất, lũ lụt. Có đến 800.000 con đập làm gián đoạn dòng chảy của rất nhiều dòng sông
trên thế giới, và nó đã làm biến đổi dòng chảy, thay đổi các tính chất lý - hóa học của các hệ
sinh thái nước ngọt, cản trở sự lưu thông của nước, phù sa, chất dinh dưỡng và các sinh vật. Ô
nhiễm nước từ nước thải, các độc tố, và sự vượt ngưỡng của các chất dinh dưỡng đang tạo ra
những tổn thất nghiêm trọng hơn.
Có những quyết định khó khăn liên quan đến việc bảo vệ hệ sinh thái nước ngọt khi cố gắng
để mở rộng phạm vi cấp nước cho những quốc gia nghèo. Những tác động cộng hưởng khác
có thể bắt gặp như: sự lụi tàn của các hoạt động sinh nhai dựa vào nguồn tài nguyên xảy ra
khi các đầm lầy bị cạn, các dòng sông bị ngăn đập thường làm “bần cùng hóa” cộng đồng bản
địa, trong khi đó hệ thống nước máy thường chỉ đáp ứng cho khu vực đô thị hóa, nông nghiệp
tập trung, hay những đô thị thiếu nước, chỉ một phần rất nhỏ lợi ích được giành cho các khu
vực nghèo.

diện hỗ trợ về nguồn nước, trong 10-15 năm qua thế giới đã chứng kiến cuộc tranh luận ngày
càng gay gắt. Một mặt, có thể thấy một viễn cảnh khá “ảm đạm” về nước trên thế giới (Ủy
ban Thế giới về nước, 2000). Theo cách nhìn nhận này, sự gia tăng dân số và nhu cầu ngày
càng tăng sẽ tạo ra một cuộc khủng hoảng về thiếu hụt nguồn nước và yêu cầu huy động vốn
để khai thác những nguồn nước mới, cũng như là quản lý nhu cầu và cơ chế phân bổ hiệu quả
hơn. Mặt khác, một viễn cảnh mà tầm quan trọng của việc trao quyền, tăng cường “nhân
quyền” đối với nhu cầu về nước được nhấn mạnh. Theo cách nhìn nhận này, được phản ánh
trong Báo cáo phát triển con người của UNDP năm 2006, "sự khan hiếm và khủng hoảng
nước toàn cầu bắt nguồn từ quyền lực, nghèo đói và bất bình đẳng, chứ không phải là từ bản
thân của nguồn nước (tính sẵn có về mặt vật lý)" (UNDP, 2006, trang 2).
Sự khác biệt giữa hai cách nhìn nhận này là không đơn giản chỉ là sự cung cấp nước đối sánh
với nhu cầu về nước mà là cấp nước và quản lý nhu cầu về nước, một mặt, so với sự trao
quyền và mặt khác so với sự tham gia trong các quyết định định mức cung và cầu.
Mô hình "quản lý tổng hợp tài nguyên nước" mới chỉ giúp hạn chế chứ chưa thể giải quyết
triệt để được những vấn đề tranh luận này. Điều này có thể được thấy được theo nhiều cách
khác nhau trong đó các chuyên gia về nước nhìn nhận "sự tham gia" từ những nỗ lực một phía
để lôi kéo xã hội trong kế hoạch phát triển nguồn nước và xa hơn nữa là những khái niệm dân
chủ triệt để về sự trao quyền. Vì vậy, mặc dù vấn đề cấp kinh phí rõ ràng là một khía cạnh
quan trọng của sự lãnh đạo, cũng có thể có một khía cạnh khuôn mẫu: những định hướng này
liệu có làm cho sự cấp vốn và các sáng kiến về chính sách được thúc đẩy?
Không tương đồng với sức mạnh của nền kinh tế, hàng năm viện trợ nước ngoài của Hoa Kỳ
chỉ đứng gần sau cùng trong số các nhà tài trợ. Hoa Kỳ không chú trọng lắm về phân bổ viện
trợ liên quan đến nguồn nước. Trong số các nhà tài trợ, Hoa Kỳ đứng thứ hai sau Nhật Bản về
tổng lượng hỗ trợ phát triển liên quan đến nước trong giai đoạn 2001-2004, nhưng chỉ đứng
thứ 15 về tỷ trọng viện trợ liên quan đến nước (ít hơn 25%). Ngược lại, các nhà tài trợ Nhật
Bản, Đức, Đan Mạch, và Luxembourg mỗi nước đóng góp hơn 60% ngân sách viện trợ của họ
cho nước và các sáng kiến vệ sinh môi trường (UNDP, 2006, trang 69).

6


349,9
Ứng phó thảm họa
31,9
20,6
10,0
6,8
0,8
70,1
Tổng
442,6
619,9
774,1
400,6
356,3
2.593,5
Khác biệt so với năm 2002
-
177,3
331,5
-42,0
-86,3

Nguồn: Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, 2006, Phụ lục B, Bảng B1, trang 65
Trong lịch sử, viện trợ của Hoa Kỳ về nước đã tiếp cận gần hơn những tranh cãi về cung và
cầu. Bản mô tả của USAID về sự phát triển các hoạt động liên quan đến nước theo khá sát sự
dịch chuyển của những luồng tư tưởng về nước: nhấn mạnh vào các dự án cơ sở hạ tầng trong
những năm 1960; quan tâm nhiều hơn đến nước uống, vệ sinh, và y tế trong những năm 1970;
nhấn mạnh vào kiểm soát ô nhiễm trong những năm 1980; và tập trung vào quản lý nhu cầu
về nước trong những năm 1990 (USAID, n.d.d). Tuy nhiên, trong thực tế, chỉ một số ít các
khu vực nhận được nhữ sự hỗ trợ này.

năm 1990, với điểm nhấn về tư nhân hóa, bãi bỏ bớt các quy định, tự do hóa thương mại, tăng
cường cạnh tranh, cắt giảm chi tiêu chính phủ, và nhìn chung làm giảm vai trò của các tiểu
bang (Heynen, McCarthy, Prudham, & Robbins, 2007). Ví dụ như ở Châu Á, USAID đã nêu
bật sáng kiến "sinh thái châu Á" (Eco Asia), trong đó cố gắng tìm kiếm một mô hình kinh
doanh tài chính bền vững về mặt vệ sinh môi trường dựa trên giá trị phục hồi thông qua việc
tăng phí người sử dụng. Năm 2006, trong báo cáo với Quốc hội của Bộ ngoại giao Hoa Kỳ
yêu cầu về nước đối với Đạo luật Nghèo đói đã xác định những cải cách then chốt cho ngành
nước ở châu Á như hợp tác, thực thi hiệu quả các hợp đồng quản lý và các khung quy định,
siết chặc các quy định kinh tế, tạo các điển hình chuẩn, và khuyến khích sự tham gia của các
thành phần cá thể (Bộ ngoại giao Hoa Kỳ, 2006, trang 87-88). Một xu hướng khác trong các
sáng kiến USAID mà phản ánh vai trò của kinh tế tự do hóa mà nổi lên là "quan hệ đối tác
công-tư". Trong số những ưu tiên chiến lược của USAID đối với Châu Phi có một số sáng
kiến thực sự: ví dụ như liên quan đến công ty Coca-Cola (do Coke đã từng bị phê phán về các
hoạt động liên quan đến nước của nó ở Ấn Độ và các nơi khác, và vụ việc này đang thúc đẩy
sự tẩy chay ở một số nước).
Cả sự miễn cưỡng để mở rộng nguồn tài trợ và sự đảo lộn của chính sách tự do hóa kinh tế
đều có thể thấy được trong vị trí của Hoa Kỳ đối với sáng kiến toàn cầu quan trọng nhất về
nước cho thế giới nghèo trong Mục tiêu Thiên niên kỷ của LHQ. Như đã thảo luận ở phần
trước, nước và vệ sinh môi trường là một nét nổi bật trong các mục tiêu Thiên niên kỷ. Hoa
Kỳ đã phản đối vào những phút cuối cùng trước khi đi đến thỏa thuận, và đẩy cuộc đàm phán
vào tình trạng hỗn loạn. Nhiều người đã phải làm việc với các chương trình cải cách hành
chính của LHQ đang được thương lượng tại thời điểm đó, nhưng một điểm quan trọng đó là
kết luận về cam kết dài hạn bởi các quốc gia tài trợ để cung cấp 0,7% tổng sản phẩm quốc nội
cho mục đích viện trợ (một mục tiêu mà chưa bao giờ Hoa Kỳ tiến đến gần). Theo Jeffrey D.
Sachs, một cố vấn của Tổng thư ký Kofi Annan trong chương trình MDG, "Hoa Kỳ đến từ
một vài ngày trước cơ bản để cố gắng rút ruột tài liệu này. Mục đích của họ là rõ ràng: để cố
gắng loại bỏ sức đẩy phía sau MDG và để luồn lách thoát khỏi những cam kết mà họ đã ký
kết" (Hoge, 2005). Hoa Kỳ cũng phản đối việc sử dụng thuật ngữ “các mục tiêu phát triển
thiên niên kỷ” (millennium develop goals), và cáo buộc rằng các cam kết cụ thể và thời gian
biểu được xác định bởi văn phòng Tổng Bí thư LHQ trong năm 2001 không phản ánh được sự

không đáng khích lệ. Từ Argentina tới Bolivia, và từ Phillipin sang Hoa Kỳ, sức
thuyết phục mà trong đó thành phần tư nhân mang đến một “viên đạn ma thuật" đối
với việc tạo ra tính công bằng và hiệu quả cần thiết để đẩy nhanh tiến trình mang nước
đến cho tất cả mọi người đã được chứng minh là đặt sai chỗ. Những thất bại trong quá
khứ về nhượng quyền nước đã không cung cấp bất cứ bằng chứng nào cho thấy vai trò
của thành phần tư nhân, nhưng nó đã chỉ ra sự cần thiết về cảnh báo, quy định và cam
kết công bằng trong quan hệ đối tác công-tư nhân. (trang 10).
Một báo cáo từ WaterAid & Tearfund (2003), một tổ chức phi chính phủ về dịch vụ giao hàng
của Anh (không phải là một nhà phê bình cực đoan về tư nhân hoá nguồn nước), có kết luận
tương tự trong đánh giá những kinh nghiệm của mình:
Nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra rằng chính sách về sự tham gia của thành phần tư
nhân (PSP) không giải quyết toàn diện những nguyên nhân tiềm ẩn về sự thất bại
trong sử dụng nước để cung cấp cho người nghèo. Trong bốn lĩnh vực chính: năng lực
xây dựng, sự tham gia của cộng đồng, tài chính, và cải cách thể chế, những vấn đề lớn
nhất vẫn còn tồn cho thấy có lẽ các thành phần tư nhân đa quốc gia đang không đóng
bất kỳ vai trò quan trọng nào trong việc đạt được các Mục tiêu Phát triển Thiên niên
kỷ (trang 5).
Việc đẩy mạnh tư nhân hóa đã vấp phải những phản kháng mạnh mẽ từ các nhóm phong trào
xã hội, các tổ chức cộng đồng, các công đoàn lao động, và nhóm ủng hộ nhân quyền. Không
có sự nhiệt tình tham gia từ các doanh nghiệp đa quốc gia; việc thu hút các công ty tư nhân
thường đòi hỏi phải bảo đảm tỷ lệ hoàn vốn, rủi ro bảo hộ, các biện pháp khuyến khích tốn
9

kém khác. Đáp lại, Ngân hàng Thế giới và các nhóm ủng hộ tư nhân hóa khác trong những
năm gần đây đã chuyển sang một sự chú trọng hơn vào "quan hệ đối tác công-tư". Tuy nhiên,
sự thay đổi trong thực tiễn vẫn là không rõ ràng: đánh giá bởi các tổ chức chức phi chính phủ
Public Citizen của Hoa Kỳ tìm ra rằng 56 trên 60 khoản vay nợ về nước của Ngân hàng Thế
giới là trong giai đoạn 2000-2004 với các quy định về việc thúc đẩy tư nhân hoá, trong khi đó
54 / 60 quy định khuyến khích sự phục hồi giá.
Hoa Kỳ thường xuyên bỏ phiếu để ủng hộ các dự án về nước của Ngân hàng Thế giới. Trong

Giống như hầu hết các nước tài trợ, Hoa Kỳ đã bày tỏ sự ủng hộ đối với các nguyên tắc của
WCD. Các tập đoàn đầu tư tư nhân của Hoa Kỳ ở nước ngoài, đang hỗ trợ đầu tư và bảo hiểm
rủi ro cho các công ty Hoa Kỳ ở nước ngoài, đã kết hợp những “giá trị cốt lõi và ưu tiên chiến
10

lược” của WCD vào các cơ chế sàng lọc của mình trong xem xét hỗ trợ dự án (International
Rivers Network, 2005, trang 8).
Theo các tổ chức phi chính phủ bảo vệ môi trường của Hoa Kỳ, tổ chức mà lâu nay vẫn chỉ
trích việc xây dựng các đập nước lớn và thúc đẩy việc hình thành của WCD, OPIC "sử dụng
các tiêu chuẩn khắt khe hơn so với những tiêu chuẩn của Ngân hàng Thế giới để hướng dẫn
hỗ trợ cho các đập lớn và đảm bảo bảo tồn đa dạng sinh học" (Lawrence, 2005). Các Ngân
hàng Xuất nhập khẩu của Hoa Kỳ (nd) trích dẫn các nguyên tắc của WCD như là tiêu chuẩn
có liên quan trong quá trình sàng lọc dự án trong khi kiểm tra về tính thực tiễn của dự án:
Ex-Im Bank sẽ đánh giá các dự án thủy điện và tài nguyên nước theo hướng phản biện
với các nước triển khai dự án và các nguyên tắc quốc tế có khả năng áp dụng cũng
giống như là những nguyên tắc của Ngân hàng Thế giới. Các thành viên tham gia dự
án cũng được khuyến khích để xác định, để tăng tính thực tế, các nguyên tắc có liên
quan có trong báo cáo tổng kết của Ủy ban Thế giới về đập nước.
USAID cũng đã chấp nhận các nguyên tắc của WCD và đã chỉ trích sự miễn cưỡng của các
ngân hàng phát triển đa phương (MDBs) trong việc thực thi một cách đầy đủ và rứt khoát.
Trong đánh giá năm 2001 về các khoản vay MDB mà nổi lên là những mối quan ngại về môi
trường, USAID đã nhấn mạnh đến một khoản vay thủy điện của Hiệp hội phát triển quốc tế /
Tập đoàn Tài chính Quốc tế đối với Uganda cho một loạt các đập nước. Hướng tới sự cần
thiết phải đánh giá tốt hơn về môi trường, những mối quan ngại về tác động tích lũy của các
đập nước, và tác động đến các cộng đồng chịu ảnh hưởng, USAID (nda) đúc kết rằng:
Những khoản cho vay [từ Ngân hàng Thế giới] trong bối cảnh này cần thiết phải xem
xét đến những phát hiện của Ủy ban Thế giới về Đập; tuy nhiên, các ngân hàng có vẻ
chậm làm điều đó trong bất kỳ cách công khai hoặc đúng nguyên tắc nào, đối với cả
dự án này và các dự án khác nói chung.
Tương tự như vậy, về sự cho vay của Ngân hàng Phát triển Interamerican (IDB), USAID đã

nước, chống tư hữu hóa đã được thảo luận trước đó).
Chìa khóa quan trong cho chiến thắng của các cuộc vận động năm 2002 khi Ủy ban LHQ về
kinh tế, xã hội và văn hóa phát hành Tổng luận 15 xác định các quyền của con người đối với
nước, cũng như nghĩa vụ của nhà nước về tôn trọng, bảo vệ, và phải thực hiện quyền đó (Uỷ
ban Liên hợp quốc về kinh tế, xã hội và văn hóa quyền, 2002). Ba khía cạnh của Tổng luận 15
là đáng chú ý là: Thứ nhất, nó bao gồm một ý tưởng được bảo vệ bởi các nhà hoạt động
nhưng bị phản đối bởi Hoa Kỳ - đó là việc ban đầu chỉ coi nước như là một mặt hàng kinh tế,
do đó đã nảy sinh sự căng thẳng khi chuyển sang thừa nhận nhu cầu về nước như là một
quyền xã hội. Thứ hai, nó được ra đời trong bối cảnh của các quyền Quốc tế về kinh tế, xã
hội, văn hóa mà Hoa Kỳ đã không phê chuẩn. Thứ ba, ngược lại với sự nhấn mạnh của Hoa
Kỳ về quyền chính trị như là chìa khóa để thực hiện an sinh xã hội, nó đã nhấn mạnh một
quyền con người đối với nước là "không thể thiếu để dẫn đến một chân giá trị của cuộc sống.
Đó là một điều kiện tiên quyết cho việc thực hiện các quyền khác của con người "(UN Ủy ban
về kinh tế, xã hội và văn hóa quyền, 2002, trang. 1, đoạn 1).
Kể từ khi phát hành Tổng luận 15, chiến dịch biến mục tiêu “nhân quyền về nước” đã chuyển
biến theo các hướng khác nhau. Tại Diễn đàn Nước Thế giới lần thứ tư (năm 2006), một liên
minh rộng lớn của các NGO đã kêu gọi các chính phủ thực thi các bước đi cụ thể tiến gần hơn
đến “nhân quyền nước”, bao gồm cả thông qua một nghị quyết trong Hội đồng Nhân quyền
LHQ; thiết lập một cơ chế giám sát quốc tế, ví dụ như báo cáo viên đặc biệt của LHQ; và đưa
các luật quốc gia vào Tổng luận số 15 (Heinrich Boll Foundation, n.d.).
Trong vài năm qua, nhiều chính phủ châu Âu đã công nhận một cách rõ ràng về quyền con
người đối với tài nguyên nước, bao gồm Bỉ, Hà Lan, và Anh. Trong năm 2006, một liên minh
rộng lớn các nước đang phát triển và các quốc gia châu Âu đã đưa ra một nghị quyết tại Hội
đồng Nhân quyền LHQ để tham vấn (Barlow, 2006; Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc,
2006).
Trong tháng 3 năm 2008, hội đồng đã thông qua một nghị quyết để bổ nhiệm một chuyên gia
độc lập về "bổn phận nhân quyền liên quan đến việc tiếp cận với nước sạch và vệ sinh môi
12

trường" để chuẩn bị một bản tóm tắt hành động và làm rõ bổn phận về nhân quyền của các

Trong một nỗ lực để thay đổi chính sách của Hoa Kỳ, đại diện dân chủ Quốc hội Jan
Schakowsky đã giới thiệu về nghị quyết "Nước cho Thế giới" trong năm 2005. Dự luật này
khẳng định sự tin tưởng công chúng và nhân quyền về nước, phản đối việc đối xử với nguồn
nước như là một thứ hàng hóa tư nhân, và kêu gọi chính phủ Hoa Kỳ đưa các nguyên tắc của
dự luật này vào chính sách phát triển. Dự luật này không nhận được sự ủng hộ từ đảng Cộng
hòa vốn chiếm ưu thế tại Quốc hội (năm 2005-2006) và đã không được giới thiệu lại kể từ khi
đảng Cộng hòa tiếp quản Quốc hội.
Sự chia sẻ quốc tế về các lưu vực sông
Một phần khác về xây dựng tổ chức có liên quan đến sự chia sẻ các lưu vực sông, mà thường
là các trở ngại cho các hợp tác quốc tế. Khi các lưu vực chia sẻ được liên kết bởi các mối
quan hệ sinh thái phức tạp, cần thiết phải có sự hợp tác để có thể giải quyết những vấn đề nảy
13

sinh một cách hiệu quả. Tuy nhiên, thường thì các lưu vực chia sẻ cũng tạo ra mối quan hệ
mất cân đối thượng nguồn/hạ lưu mà có thể làm tăng thêm trở ngại cho những hợp tác phát
triển.
Việc thành lập các nguyên tắc khung và xác định những hành động để quản lưu vực sông chia
sẻ là một thử thách khó khăn cho cộng đồng quốc tế. Hội đồng luật pháp quốc tế của LHQ đã
phải cân nhắc trong hơn hai thập kỷ trước khi viết dự thảo báo cáo cho một công ước khung
về những dòng sông quốc tế để đệ trình lên Đại hội đồng. Các bài viết đã tạo ra nền tảng cho
Công ước về Luật Sử dụng vô hướng (non-navigation) của các dòng sông quốc tế (Liên Hiệp
Quốc, 1997), mà được Đại hội đồng phê duyệt vào năm 1997. Tuy nhiên, công ước này đã
không nhận được đủ tỷ lệ ủng hộ để phê chuẩn có hiệu lực.
Bảng 2 liệt kê các nguyên tắc chính của Công ước Watercourses. Mục tiêu của nó là tạo ra
một khung pháp lý cho việc đàm phán về các thỏa thuận lưu vực cụ thể, nhưng sự lan tỏa của
những nguyên tắc này đến cấp lưu vực là một quá trình khó khăn (Conca, Wu, & Mei, 2006).
Tuy nhiên, công ước này đã cung cấp một thước đo hữu dụng đối với các xu hướng nổi lên về
luật nước quốc tế: nhấn mạnh nhiều hơn vào việc phối hợp, chia sẻ thông tin, và giải quyết
xung đột; tính nhạy cảm cao đối với bảo vệ môi trường và nhu cầu nước nội dòng; và nhấn
mạnh hơn không chỉ đối với các quyền về nước của các quốc gia mà còn là trách nhiệm, đặc

Bảng 2. Các nguyên tắc phối hợp quản lý nước trong Công ước Liên Hợp Quốc về các thủy
vực chảy (Watercourses)
 Mỗi tiểu quốc gia có thủy vực chảy được quyền tham gia các cuộc đàm phán đối với
toàn bộ thủy vực và tư vấn về những thỏa thuận ít gây ảnh hưởng hơn đến quốc gia đó
(Điều 4).
 Các quốc gia phải thực hiện "sử dụng công bằng và hợp lý" đối với các thủy vực chảy
quốc tế trong phạm vi lãnh thổ của họ (Điều 5).
 Các quốc gia có nghĩa vụ không gây "tác động có hại" đối với các quốc chia sẻ thủy
vực chảy khác (Điều 7).
 Các quốc gia có nghĩa vụ phải hợp tác trên cơ sở "bình đẳng chủ quyền, toàn vẹn lãnh
thổ, cùng có lợi và tin tưởng lẫn nhau" (Điều 8).
 Các quốc gia chia sẻ thủy vực chảy phải thường xuyên trao đổi thông tin và dữ liệu
(Điều 9).
 Các quốc gia được yêu cầu phải tham khảo ý kiến của các quốc gia chung thủy vực
chảy khác về những tác động của bất kỳ của “những tính toán có kế hoạch" (Điều 11).
 Các quốc gia phải cung cấp thông báo trước về bất cứ "những tính toán có kế hoạch
mà có thể có tác động có hại" đối với các quốc gia chia sẻ thủy vực chảy khác (Điều
12).
 Những nghĩa vụ về môi trường được xây dựng để bảo vệ và bảo tồn hệ sinh thái, kiểm
soát ô nhiễm, ngăn ngừa sự xuất hiện của những loài lạ, và bảo vệ môi trường biển
(Điều 20-23).
 Các quốc gia có nghĩa vụ giải quyết tranh chấp một cách hòa bình; công ước này xác
nhận các nguyên tác phân xử, trọng tài và hòa giải, và xác định các thủ tục đối với các
ủy ban đi tìm hiểu thực tế (Điều 33).
Nguồn: Conca, Wu và Mei (2006)
Những yếu kém trong IBWC là một nguyên nhân quan trọng thúc đẩy sự ra đời của một tổ
chức môi trường mới, Uỷ ban Hợp tác môi trường (CEC), trong bối cảnh của Hiệp định
Thương mại Tự do Bắc Mỹ. Sự ủy thác của CEC bao gồm các vấn đề chất lượng nước, nhưng
những văn kiện này không phải chỉ chuyên biệt cho các vấn đề về nước.
Trường hợp ngoại lệ mà Mumme và Duncan (1997-1998) đề cập là hợp tác của Hoa Kỳ-

ước châu Âu năm 1992 về bảo vệ và sử dụng các thủy vực chảy xuyên biên giới và các hồ
quốc tế cung cấp một mốc chuẩn tiên tiến hơn so với Công ước LHQ
7
. Một số quy định của
Công ước châu Âu cũng cho thấy sự ưu việt vượt xa so với Công ước Liên Hợp Quốc: áp
dụng các nguyên tắc quản lý nước ở mức độ trong nước cũng như mức độ xuyên biên giới;
một cách tiếp cận toàn diện đối với các chu trình thủy văn; chú trọng hơn vào các vấn đề môi
trường như phòng chống, kiểm soát, và giảm thiểu ô nhiễm; nguyên tắc phòng ngừa và
nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền; và một sự ủy nhiệm cụ thể hơn cho các ủy ban
lưu vực như là các cơ quan chung của các quốc gia láng giềng (Ban Kinh tế châu Âu LHQ,
nd).
Hệ thống chính trị - pháp lý Hoa Kỳ trên lý thuyết chứa nhiều cơ chế cho việc giải quyết tranh
chấp về các vùng nước chung giữa các tiểu bang của Hoa Kỳ, bao gồm cả các thỏa thuận giữa
các tiểu bang, các quyết định của Tòa án tối cao, và pháp chế của Quốc hội. Theo Clemons
(nd), mối quan hệ giữa các cơ chế trong thực tế là khá “tăm tối”. Quốc hội chỉ sử dụng quyền
lực của mình có hai lần để phân bổ nguồn nước, giữa các tiểu bang California, Arizona,
Nevada và trên sông Colorado vào năm 1928 và giữa bang California và Nevada trên sông
Truckee, sông Carson, và hồ Tahoe trong năm 1990 (Clemons, nd).
Sự thỏa thuận giữa các tiểu bang cũng tương đối hiếm, với 39 biên bản thỏa thuận đạt được
trong suốt khoảng thời gian từ năm 1922 đến năm 1997
8
. Một hạn chế đối với những thỏa
thuận này là chúng phải phải làm rõ rào cản thẩm quyền đa cấp, được quốc hội thông qua,
cũng như là thỏa mãn được các lợi ích của các bang. Theo Clemons (nd),
thẩm quyền của các bang để liên kết với các bang khác đến từ Điều khoản Liên kết
trong Hiến pháp. Các điều khoản liên kết này không bao gồm tất cả các thỏa thuận
giữa các tiểu bang, mà chỉ bao gồm những thỏa thuận mà có thể tăng thêm sự liên kết
quyền lực chính trị các bang mà không tổn hại đến lới ích của quốc gia. Vì vậy, khi
một thỏa thuận giữa các tiểu bang gắn với lợi ích liên bang, các điều khoản liên kết
cần có được sự chuẩn y của Quốc hội. Những tranh chấp giữa các tiểu bang về nguồn

trọng trong luật pháp Hoa Kỳ là bình đẳng không phân biệt bất kể vị trí của dòng nước trong
bang, trong khi đó trong luật pháp quốc tế quan tâm hơn đến những nguyên tắc về tác động có
hại mà được có thể thấy sự ưu ái này bằng việc tạo ra một vị trí mạnh mẽ hơn cho các tiểu
bang ở hạ nguồn chứ không phải là một khuôn khổ về sử dụng công bằng nghiêm ngặt.
Chính sách về nước ở Hoa Kỳ
Rõ ràng, một cam kết đối với kinh tế tự do hóa nguồn nước và sự chống đối trong việc công
nhận nước như một quyền kinh tế xã hội là yếu tố quyết định quan trọng trong chính sách
ngoại giao của Hoa Kỳ về nước. Tuy nhiên, một đặc tính quan trọng thứ hai là sự phân mảnh,
tới mức mà không thể có được sự nhất quán trong các phát ngôn về chính sách ngoại giao của
Hoa Kỳ đối với các vấn đề về nước. Điều này khá trái ngược: phụ thuộc vào khía cạnh cụ thể
của chính sách nước, Cơ quan đứng đầu Hoa Kỳ có thể là Ủy ban Bảo vệ Môi trường, Bộ
ngoại giao, USACE, USAID, Ngân hàng Xuất nhập khẩu, hoặc đại diện của Hoa Kỳ tại Quỹ
Tiền tệ Quốc tế, Ngân hàng Thế giới, và các ngân hàng phát triển khu vực. Một báo cáo tóm
17

tắt gần đây của Bộ ngoại giao Hoa Kỳ đã xác định 22 cơ quan liên bang và các phòng ban
riêng biệt phụ trách chuyên môn và tham gia trong các vấn đề nước quốc tế (US Department
of State, 2006, Phụ lục A).
Chính sách nước quốc tế của Hoa Kỳ cũng phân mảnh do Hoa Kỳ thiếu một chính sách toàn
diện về nước hay một khuôn khổ về thể chế ở cấp độ trong nước. Theo Gerlak (2006), "không
có một chính sách quốc gia về nước thực sự tại Hoa Kỳ, mà đó chỉ là những chính sách phân
mảnh và chính sách cho việc điều chỉnh các vấn đề khủng hoảng gia tăng. Các mối quan hệ
bang - liên bang là trung tâm của cuộc xung đột này. Một cuộc đấu tranh giữa uy quyền quốc
gia và các địa phương tự chủ bao trùm hầu hết các vấn đề về quản lý nước" (trang 231). Trong
lịch sử, chưa bao giờ có được một khuôn khổ luật pháp quốc gia về nước và điều đó ngày
càng phổ biến trên thế giới. Thay vào đó là sự phân mảnh về chính sách, liên kết vấn đề bị
giảm thiểu hóa, sự chắp vá điều tiết phức tạp, một “mê cung lịch sử” các quyền phân xử về
nước, và thiếu sự hợp tác giữa các tổ chức.
Đã có thời kỳ trong lịch sử Hoa Kỳ khi chính phủ liên bang đã đóng vai trò mạnh mẽ trong
việc kích thích thúc đẩy các hoạt động phát triển liên quan đến nguồn nước - thủy lợi cho

Kỳ là trung tâm của chiến dịch để xanh hóa Ngân hàng Thế giới, trong đó các đập nước nổi
lên như là mục tiêu trọng yếu. Quốc phòng môi trường đã sớm được gắn liền với các chiến
dịch bảo vệ đập nước; một thành phần trọng yếu sau này sau này được coi như một thành viên
hội đồng về WCD. Berkeley, mạng lưới sông quốc tế (IRN), là trung tâm hàng đầu cho kháng
nghị quốc tế và các hoạt động bảo vệ đập nước, cũng đã có một tiếng nói quan trọng.
Các NGO Hoa Kỳ ít tập trung vào những phạm vi khác về chính trị đối với vấn đề nước toàn
cầu. Công chúng đã có chiến dịch "Nước cho Tất cả mọi người” chống lại sự tư hữu hoá
nguồn nước. Khi một nhóm làm việc quốc tế được đôn lên để tìm hiểu về sự đối thoại giữa
các bên liên quan về sự tham gia của các thành phần tư nhân cá lẻ, tuy nhiên nó lại không bao
gồm các NGO Hoa Kỳ trong các nhóm lãnh đạo. Cũng không có các công đoàn lao động của
Hoa Kỳ nằm trong số những nhóm đứng đầu trong chiến dịch chống tư hữu hóa (có lẽ bởi vì
xâm nhập hạn chế mà trong đó sự hữu hoá được thực hiện trong quá trình tái cơ cấu lại ngành
nước ở Hoa Kỳ). Tương tự như vậy, mặc dù rất các tổ chức nhân đạo phi chính phủ của Hoa
Kỳ có liên quan với các dự án về nước trên thế giới, vẫn chưa có một sự thể hiện đáng kể nào
đối với vấn đề nước toàn cầu hay vòng luẩn quẩn nghèo đói trong giai đoạn gần đây. Trong số
437 tổ chức thành viên của Mạng lưới hành động toàn cầu vì nước ngọt (FAN), chỉ có một số
có trụ sở tại Hoa Kỳ. FAN đã được tạo ra được sự thức tỉnh của Diễn đang thế giới về nước
lần thứ hai (năm 2000) "để bảo đảm rằng miền Nam [các tổ chức xã hội dân sự] đang làm các
vấn đề về nước hoặc các vấn đề vệ sinh môi trường được có được vị thế mạnh mẽ tại các diễn
đàn về chính sách nước quốc tế [để] tiếng nói của họ ngày càng có trọng lượng hơn trong các
cuộc tranh luận chính trị về nước" (FAN, nda, ndb). Trong số các tổ chức phi chính chủ chốt
của Hoa Kỳ về môi trường, chỉ có Hội đồng Quốc phòng về tài nguyên thiên nhiên, Ủy ban
Bảo tồn Thiên nhiên, và Liên đoàn về động vật tự nhiên hoang dã là các thành viên. Gần đây,
các MDG thúc đẩy sự hình thành một liên minh của các tổ chức Hoa Kỳ dưới danh nghĩa là
một Khối liên minh Thiên niên kỷ về nước (Millenium Alliance - MWA). Trong số các thành
viên và các chi nhánh của nó là các NGO cứu trợ nhân đạo, các dịch vụ cứu tế Công giáo, và
Worldvision. MWA đã đưa ra chương trình cung cấp nước, vệ sinh môi trường, và giáo dục
về nước ở Kenya và Ethiopia, với sự tài trợ của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, USAID, Coca Cola,
và các nguồn khác từ các quỹ và tổ chức tư nhân khác.
Khớp nối yếu của các NGO Hoa Kỳ là sự phân tán và chia nhỏ trong một bức tranh tổng thể

các quốc gia thông qua hệ thống tòa án trong bối cảnh thiếu vắng các cơ chế giải quyết tranh
chấp được thể chế hóa. Mặc dù sự tiến bộ đáng kể đã có được trong việc loại bỏ liên hệ giữa
tiêu thụ nước và tăng trưởng kinh tế, hầu hết công dân Hoa Kỳ sử dụng trên 600 lít mỗi ngày,
nhiều hơn gấp đôi của Pháp, gần gấp ba Đức, và gấp bốn lần Anh (UNDP, 2006, trang 1).
Vai trò lãnh đạo đối với thách thức môi trường xuyên quốc gia như các vấn đề về nước cũng
có tính dập khuôn. Chính sách quốc tế về nước của Hoa Kỳ phần chủ yếu tiếp tục phản ánh
một mô hình những năm 1990 về kinh tế tự do hóa nguồn nước, ở thời điểm khi mà những tư
duy tiến bộ của thế giới về nước đã được đặt trong sự nhấn mạnh mới đối với vai trò lâu dài
của quốc gia, tầm quan trọng của một khung pháp lý vững mạnh, và sự tập trung hóa nhận
thức về nước như một nhân quyền. Hồ sơ không mấy ấn tượng của các sáng kiến thị trường
hóa đã cắt xén vai trò lãnh đạo của Hoa Kỳ trong xu hướng thị trường hóa, ấy vậy mà chính
sách của Hoa Kỳ vẫn quá chậm trễ trong việc điều chỉnh. Điều này rõ ràng là Hoa Kỳ không
đóng vai trò lãnh đạo trong việc thúc đẩy để biến nhu cầu về nước thành một nhân quyền.
Ngược lại, đến mức mà có những mâu thuẫn giữa xử lý nước như là một nhân quyền và như
là một thứ hàng hóa thị trường, sự chú trọng mạnh mẽ trong chính sách của Hoa Kỳ về thị
trường hóa, phân bổ hiệu quả, nguyên tắc kinh doanh, và phục hồi chi phí thúc đẩy theo một
hướng khác. Chắc chắn là việc coi nước như là một nhân quyền sẽ đối nghịch với việc coi
nước như là một thị trường hàng hóa.
Nguyên tắc Dublin năm 1992, một khung quan trọng về nước toàn cầu, nhấn mạnh cả quyền
con người và phương diện hàng hóa thị trường của nước. Tuy nhiên lại có ít hoặc không có
hướng dẫn làm thế nào để điều hoà hai nguyên tắc (Hội nghị quốc tế về nước và môi trường,
20

1992). Tuy vậy, hơn là phản ánh sự căng thẳng biến động này, chính sách của Hoa Kỳ lại đi
xuống khá rõ rệt về mặt thị trường hàng hóa.
Với đặc tính không đồng nhất nhất định về xây dựng cơ quan toàn cầu về nước, hệ thống
chính sách nội địa phân mảnh về nước của Hoa Kỳ và khoảng trống giữa những hành động
của Hoa Kỳ với các quan niệm quốc tế đang phát triển về “best pratices”, điều đó không có gì
là ngạc nhiên rằng Hoa Kỳ không phải là một nhà lãnh đạo toàn cầu có hiệu quả về nước. Đến
nay, các nỗ lực để thay đổi này thực tế này đang tập trung vào việc tăng cường viện trợ nước,

diện Hoa Kỳ đối với Ngân hàng Thế giới, xem US Department of the Treasury (nd).
21

7. Đây không phải là để gợi ý rằng châu Âu nên được xem như là một cấu trúc liên bang xấp
xỉ Hoa Kỳ hay rằng các đại diện cho một cái gì đó quy ước giống như pháp luật trong nước.
8. Danh sách của các thỏa thuận, xem Transboundary Freshwater Dispute Database (nd).

Tài liệu tham khảo
Barlow, M. (2006). A UN convention on the right to water (Food & Water Watch, November
2006).
Retrieved February 10, 2007, from />conventionright-to-water.
Calaguas, B. (1999). The right to water, sanitation and hygiene and the human rights-based
approach to development (WaterAid Briefing Paper, July 1999). Retrieved February 21,
2007, from

Clemons, J. (n.d.). Interstate water disputes: A road map for states (National Sea Grant
Law Center).
Retrieved February 19, 2007, from
Conca, K. (2006). Governing water: Contentious transnational politics and global institution
building. Cambridge, MA: MIT Press.
Conca, K., Wu, F., & Mei, C. (2006). Global regime formation or complex institution
building? The principled content of international river agreements. International Studies
Quarterly, 50, 263-285.
Council on Environmental Quality and U.S. Department of State. (1980). The global 2000
report to the president: Entering the twenty-first century (Vol. 1). Washington, DC:
Author.
DeSombre, E. (2000). Domestic sources of international environmental policy. Cambridge,
MA: MIT Press.
Export-Import Bank of the United States. (n.d.). Environmental guidelines—Table 9:
Hydropower and water resources management (dams & reservoirs). Retrieved February

environments: False promises and unnatural consequences. New York: Routledge.
Hoge, W. (2005, September 1). Bolton seeks changes to U.N. Millennium Development
Goals. The New York Times.
International Conference on Water and the Environment. (1992). Dublin statement on water
and sustainable development. Retrieved July 30, 2000, from
www.wmo.ch/web/homs/icwedece.html
Conca / U.S. International Water Policy 235 Downloaded from at New
School Digital Library on June 16, 2009.
International Joint Commission. (2006). Advice to governments on their review of the Great
Lakes Water Quality Agreement (IJC special report to the governments of Canada and the
United States).
Washington, DC: Author. International Rivers Network. (2005). From commitment to
implementation: The report of the World Commission on Dams after five years. Berkeley,
CA: Author.
Karkkainen, B. (2004). Post-sovereign environmental governance. Global Environmental
Politics, 4, 72-96.
Keck, M., & Sikkink, K. (1998). Activists beyond borders: Advocacy networks in
international politics. Ithaca, NY: Cornell University Press.
Khagram, S. (2004). Dams and development: Transnational struggles for water and power.
Ithaca, NY: Cornell University Press.
Kundzewicz, Z., Mata, L., Arnell, N., Döll, P., Kabat, P., Jiménez, B., et al. (2007).
Freshwater resources and their management. In M. Parry, O. Canziani, J. Palutikof, P.
van der Linden, & C. Hanson (Eds.),
Climate Change 2007: Impacts, Adaptation and Vulnerability. Contribution of Working
Group II to the Fourth Assessment Report of the Intergovernmental Panel on Climate
Change (pp. 173-210). Cambridge, UK: Cambridge University Press.
Lawrence, S. (2005). Retreat from the safeguard policies: Recent trends undermining social
and environmental accountability at the World Bank (Environmental Defense). Retrieved
February 16, 2007, from
23

International Lakes. New York and Geneva, Switzerland: Author. Retrieved February 19,
2007, from
United Nations Human Rights Council. (2006, November 27). Human rights and access to
water (Decision 2/104). Geneva, Switzerland: Author.
United Nations Human Rights Council. (2008, March 20). Promotion and protection of all
human rights, civil, political, economic, social and cultural rights: Human rights and
access to safe drinking water and sanitation (A/HRC/7/L.16). Geneva, Switzerland:
Author. 236 The Journal of Environment & Development Downloaded from
at New School Digital Library on June 16, 2009
United States Agency for International Development. (2003, June). USAID FY 2003 report to
Congress: USAID investments in drinking water supply and related activities (a report to
the U.S. House and Senate Appropriations Committees). Washington, DC: Author.
United States Agency for International Development. (n.d.a). Projects and loans in Africa
(page 2). Retrieved February 16, 2007, from
24

United States Agency for International Development. (n.d.b). Projects and loans in Latin
America & Caribbean. Retrieved February 16, 2007, from

United States Agency for International Development. (n.d.c). I. Public benefit. Retrieved
February 10, 2007, from
United States Agency for International Development. (n.d.d). USAID’s changing role in
global water resources management. Retrieved February 14, 2007, from

United States Department of State. (2006). Senator Paul Simon Water for the Poor Act:
Report to Congress June 2006 (Department of State Report 11345, Bureau of Oceans and
International Environmental Scientific Affairs). Washington, DC: Author.
United States Department of State. (n.d.). Paul Simon Water for the Poor Act. Retrieved
February 10, 2007, from
United States Department of the Treasury. (n.d.). Multilateral development institutions: Loan


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status