Cải cách thuế và các bằng chứng thực nghiệm về chuyển giá - Pdf 11

1
MỤC LỤC

1. Giới thiệu 3

2. Khung lý thuyết và những bằng chứng thực nghiệm về chuyển giá
5

2.1


thuyết
5

2.1.1

Khái
niệm 5

2.1.2

Lý do chuyển
giá
4. Nội dung và kết quả nghiên cứu 28

4.1

Thuế và thuế quan ảnh hưởng đến động cơ chuyển giá TPI

29

4.2

Mô hình hồi quy ảnh hưởng của động cơ chuyển giá đến giá báo cáo của
doanh nghiệp

30

5. Kết luận 40

HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO 44

TÀI LIỆU THAM KHẢO 45

PHỤ LỤC: CÁC KIỂM ĐỊNH TRONG MÔ HÌNH 48
2
DANH MỤC VIẾT TẮT STT


Tổ chức thương mại thế giới (World Trade Organisation)
6

IRS

Cơ quan thuế nội bộ của Mỹ (Cơ quan thuế nội bộ của Mỹ
7

ALP

Nguyên tắc giá thị trường (Arm’s length principle)
8

APA

Nguyên tắc giá thị trường (Advance pricing agreement)
9

Thuế TNDN
Thuế thu nhập doanh nghiệp
3
DANH MỤC BẢNG BIỂU

STT
Tên



6

Bảng 6: Kiểm định phương sai thay đổi
34
7

Bảng 7: Kết quả hồi quy tổng thể về ảnh hưởng của TPI lên giá
báo cáo cho từng ngành theo hồi quy GLS 36
1
Cải cách thuế và các bằng chứng thực nghiệm về
chuyển giá

Tóm tắt

Chuyển giá trong nền kinh tế là một trong những đề tài nóng bỏng gây sự chú ý đối
với bộ phận chiến lược các công ty đa quốc gia, các nhà hoạch định chính sách, các
nhà làm luật cũng như cơ quan chính quyền. Việc thao túng chuyển giá đã tạo ra các

Năm 2007, Việt Nam gia nhập WTO đánh đấu một sự khởi đầu cho tiến trình hội
nhập và hợp tác quốc tế. Sự kiện này không chỉ tạo điều kiện thu hút dòng vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài, góp phần thúc đẩy kinh tế Việt Nam phát triển trong môi trường
kinh tế thị trường ngày một năng động và cạnh tranh hơn mà còn đặt nước ta vào
nhiều mối quan hệ phức tạp đáng quan ngại vốn có của tính chất thương mại quốc tế.
Số lượng các giao dịch thương mại xuyên biên giới diễn ra giữa các công ty liên kết
ngày một tăng. Với môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, khốc liệt, vấn đề tối đa
hoá lợi nhuận tổng thể luôn là mục tiêu quan tâm hàng đầu của các nhà đầu tư nước
ngoài. Và chuyển giá (transfer pricing) được xem là một trong những phương pháp
mà các nhà đầu tư thường áp dụng nhằm mục đích tránh thuế, từ đó gia tăng tổng lợi
ích cuối cùng. Ở Việt Nam đã có nhiều bằng chứng cho thấy sự xuất hiện của hành vi
chuyển giá, đặc biệt trong những năm gần đây, tình hình các doanh nghiệp FDI kê
khai lỗ kéo dài nhiều năm làm cho chính phủ bị thất thu thuế, ảnh hưởng trực tiếp đến
ngân sách quốc gia là dấu hiệu rõ ràng cho hành vi này. Hành vi chuyển giá diễn ra
không chỉ tại các doanh nghiệp liên kết có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, mà còn
diễn ra giữa các bên liên kết trong nội địa Việt Nam. Không dừng lại ở đó, do các quy
luật của thị trường tự do, đặc biệt là quy luật cung cầu không hoạt động trong các tập
đoàn đa quốc gia, nên chuyển giá gây ra nhiễu loạn quá trình lưu thông quốc tế, điều
này dẫn đến tình trạng cạnh tranh không lành mạnh. Với thực trạng đáng báo động
của chuyển giá, trong khi các quốc gia phát triển đã có khá nhiều nghiên cứu chạm
đến vấn đề này thì nước ta thực sự vẫn chưa có, đặc biệt là nghiên cứu định lượng.
Xuất phát từ lý do đó chúng tôi tiến hành xây dựng mô hình nghiên cứu định lượng về
hành vi chuyển giá tại Việt Nam.

Bài nghiên cứu tìm hiểu ảnh hưởng của thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế nhập
khẩu ảnh hưởng đến động cơ chuyển giá, qua đó sẽ ảnh hưởng đến mức giá chuyển
giao báo cáo ở Việt Nam, sử dụng mô hình của Swenson (2000). Nghiên cứu về giá trị
nhập khẩu có nguồn gốc từ Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan, Nhật Bản, Hồng Kông,
4 2. Khung lý thuyết và những bằng chứng thực nghiệm về chuyển giá

2.1 Lý thuyết

2.1.1

Khái niệm

Cũng giống như tính chất phức tạp của thương mại quốc tế, định nghĩa về chuyển giá
từ khi nó mới xuất hiện cho đến ngày nay có thể nói là một quá trình không ngừng
điều chỉnh, bổ sung sao cho phù hợp với bản chất mỗi giai đoạn, mỗi cách tiếp cận.
Tang 1997 cho rằng: “Các giao dịch nôi bộ liên quan đến doanh thu hoặc chuyển giao
các tài sản hữu hình và vô hình giữa các công ty có liên quan ở hai hay nhiều nước,
trong đó chuyển giá ở các công ty đa quốc gia thì có liên quan đến việc định giá các
giao dịch nội bộ”. Quay lại năm 1979, những quan niệm đầu tiên về chuyển giá của
Plasschaert 1979. P17, ông cho rằng, khi các công ty không liên quan giao dịch với
các bên khác, các tình huống của các mối quan hệ thương mại và tài chính nhìn chung
được điều khiển theo lực thị trường. Trái lại, trong giao dịch với các bên có liên quan
thì các mối quan hệ thương mại cũng như tài chính có thể không bị ảnh hưởng trực
tiếp theo lực thị trường, hay nói cách khác nó sẽ không tuân theo quan hệ cung cầu.
Kết quả là giá chi trả cho hàng hóa chuyển giao nội bộ, chẳng hạn như giữa công ty
con ở nước ngoài của công ty đa quốc gia và công ty mẹ ở Mỹ có thể khác với giá mà
được giao dịch với các bên không liên quan (độc lập) với cùng một hàng hóa có thể so
sánh. Plasschaert lập luận rằng các công ty mẹ ở Mỹ về mặt lý thuyết thực hiện kiểm
soát các công ty con và do đó có quyền thay đổi mức giá áp dụng cho giao dịch nội
bộ. Nếu lợi nhuận tổng thể của các công ty đa quốc gia tăng hay chi phí của chúng
giảm, khi đó các công ty mẹ có động cơ để dịnh giá chệch khỏi mức giá thực sự của


Lý do chuyển giá Động cơ bên

trong:

Có những trường hợp mà khi đó các MNC không có lý do bên trong gì để thiết lập
mức giá chuyển giao trước, đó là khi các giao dịch có thể có khối lượng nhỏ hoặc khó
để định giá hoặc xảy ra với tốc độ bất thường. Ví dụ như, trong thực hành kế toán
truyền thống, thường trì hoãn việc định giá các tài sản vô hình cho đến khi có có mua
và bán theo giá thị trường, tạo ra các hạng mục bảng cân đối kế toán “thiện chí
(goodwill)”, cái mà đo lường giá mua vượt mức so với giá trị hợp lý của tài sản đạt
được. Các tài sản vô hình này có thể là chi phí bản quyền, chi phí xây dựng thương
hiệu sản phẩm, chi phí nghiên cứu và phát triển,… Do tài sản vô hình khó xác định
7
giá cụ thể trước nên điều này tạo điều kiện thuận lợi để các MNC thực hiện thủ thuật
chuyển giá mà ta khó có thể nhận ra.

Tuy nhiên trong các trường hợp điển hình, các MNC có động cơ bên trong cho việc
thiết lập một mức giá chuyển giao chẳng hạn như đánh giá thể hiện của giám đốc
công ty con, theo dõi tốt hơn các dòng giao dịch nội bộ,…Trong những trường hợp
như vậy, khi mà thị trường bên ngoài không tồn tại, các MNC thiết lập mức giá
chuyển giao bằng với giá mờ của các giao dịch nội bộ; nói chung đây là chi phí biên
của bên xuất khẩu. Mức giá chuyển giao hiệu quả cho dịch vụ và các tài sản tư vô
hình có những quy tắc tương tự, chúng nên dựa trên nguyên tắc lợi ích – chi phí. Ví

định giá quá cao hay quá thấp nhằm để chuyển lợi nhuận ra khỏi quốc gia có thuế cao
trong khi đó lại không cho phép chuyển vốn.

Động cơ thứ hai bắt nguồn từ thuế thương mại (thuế quan, thuế xuất khẩu). Các bằng
chứng về động cơ chuyển giá do thuế quan gây ra được đề cập trong các nghiên cứu
Eden (1998), Vincent (2004), Goetzl (2005), Eden và Rodriguez (2004).

Động cơ thứ ba là các hạn chế về tỷ giá hối đoái. Với mục đích là bảo toàn và phát
triển nguồn vốn đầu tư ban đầu, các MNC sẽ tiến hành đầu tư vào một quốc gia nếu
họ dự đoán rằng trong tương lai đồng tiền của quốc gia này sẽ mạnh lên, nghĩa là số
vốn đầu tư ban đầu của họ được bảo toàn và phát triển, ngược lại họ sẽ rút đầu tư ra
khỏi một quốc gia nếu họ dự đoán rằng trong tương lai đồng tiền của quốc gia này sẽ
bị yếu đi, nghĩa là vốn đầu tư ban đầu của họ bị giảm đi. Bằng chứng về động cơ tỷ
giá trong mô hình chuyển giá được Chan và Chow đưa ra vào năm 1997, họ thấy rằng
các MNC nước ngoài tham gia vào mô hình chuyển giá bằng cách chuyển lợi nhuận
ra khỏi Trung Quốc không phải do sự khác biệt về thuế thu nhập doanh nghiệp (thực
tế là thuế thu nhập của Trung Quốc thấp hơn so với các nước khác) mà là nhằm tránh
các rủi ro cũng như kiểm soát về tỷ giá.

Một lĩnh vực khác nữa cũng là nguyên nhân cho các hành vi chuyển giá là rủi ro chính
trị, nơi mà việc tháo chạy vốn có thể được thực hiện thông qua các hóa đơn định giá
trị quá cao hay quá thấp. Nếu tình hình chính trị bất ổn, để giảm rủi ro và bảo tồn vốn
kinh doanh bằng c434ách chuyển giá thì MNC muốn thu hồi vốn đầu tư sớm. Bằng
chứng về việc tháo chạy vốn và chuyển giá xuất phát từ rủi ro chính trị được xem xét
trong các nghiên cứu của Cuddington (1986), Gulati (1987), Lessard và Williamson
(1984), IMF (1991), Kahn (1991), Rustomjee (1991), Smith và Mocke (1991),
Anthony and Hallet (1992), Wood và Moll (1994), Fatehi (1994), Baker (2005), de
Boyrie, Pak và Zdanowicz (2005).
9



Nhiều tài liệu thực nghiệm quan trọng đã phân tích hành vi lạm dụng chuyển giá ảnh
hưởng tiêu cực đến doanh thu thuế nói chung và tác động rộng hơn của nó đối với sự
phát triển và xóa đói giảm nghèo. Tuy nhiên, những ảnh hưởng lên quyền lợi của lực
lượng lao động, quản lý nguồn lực yếu kém, bóp méo thông tin về phát triển và đầu tư
của các doanh nghiệp, những thách thức với việc thực hiện các chính sách liên quan
đến thuế của chính phủ, và hiệu ứng dây chuyền của chúng tác động lên nghèo đói đã
không nhận được sự chú ý tương ứng của công chúng. Trốn thuế làm tình trạng nghèo
đói kéo dài dai dẳng và tạo ra sự bóp méo kinh tế nghiêm trọng, gây cản trở quyết
định đầu tư trong nền kinh tế mà thực hành là chủ yếu.
10

Việc tránh thuế của các MNC-một thực hành vô đạo đức

Thuật ngữ như định giá chuyển giao sai, lạm dụng chuyển giá, chuyển lợi nhuận, phân
chia lợi nhuận, chuyển thu nhập, phân chia thu nhập, và xói mòn cơ sở thuế, tất cả đều
đề cập đến các hành vi khác nhau của thao tác giao dịch tài chính trong các doanh
nghiệp đa quốc gia nhằm giảm số lượng thuế thu nhập doanh nghiệp mà chúng phải
trả. Trong khi hầu hết các hoạt động liên quan đến việc định giá chuyển giao sai
không phải là bất hợp pháp mà là phi đạo đức và đã bị chỉ trích như là các thực hành
doanh nghiệp vô trách nhiệm. Chúng được xem là các thực hành vô trách nhiệm bởi
vì chúng làm giảm sự đóng góp quan trọng mà các bên liên quan khác chẳng hạn như
chính phủ, lao động và cổ đông thiểu số đã thực hiện góp phần cho sự thành công của
tổ chức. Thứ hai, chúng liên quan đến thao tác của các giao dịch tài chính và bảo mật,
do đó làm cho báo cáo tài chính của công ty khó có thể truy cập cũng như đánh giá.
Ngay cả những báo cáo tài chính có thể truy cập cũng có thể trở nên không đáng tin
cậy. Điều này là do công ty đã báo cáo sai lợi nhuận hoặc lỗ, đưa ra sự giải thích phức

động

Chính hệ quả báo cáo lỗ hay hiệu quả hoạt động thấp từ thao túng chuyển giá ở một
số bên liên quan của công ty đa quốc gia đã đặt người lao động vào tình trạng căng
thẳng không những về tiền lương, phúc lợi lẽ ra mà họ xứng đáng nhận được mà còn
về mặt tinh thần khi họ phải luôn đối mặt với những áp lực, nghiêm trọng nhất là khả
năng mất việc khi các đe dọa về tái cấu trúc do kết quả công ty thua lỗ, trong khi họ
hoàn toàn không có lỗi. Trong công ty mà việc chuyển lợi nhuận là một phần của cách
thức vận hành của chúng, người lao động bị áp đặt với mục tiêu hoạt động không hợp
lý trong khi chỉ được cung cấp sự hỗ trợ công suất tối thiểu với lý do là chi phí đã quá
cao. Vì vậy, các công nhân làm việc dưới áp lực cao độ để đạt được mục tiêu nhưng
lại kiếm được tiền lương ít hơn, trong khi đó họ phải đối mặt với các hóa đơn y tế gia
tăng do căng thẳng và các bệnh khác có liên quan. Tất cả những yếu tố này làm giảm
tiềm năng tiết kiệm, phúc lợi của người lao động. Tác dụng lâu dài lại là một cái vòng
lẩn quẩn của tình trạng nghèo đói. Định giá chuyển giao sai - mối đe dọa đối với phát triển và đầu tư kinh doanh

Độ tin cậy của thông tin trong môi trường kinh doanh là rất quan trọng đối với động
lực và phát triển kinh doanh. Tính đúng đắn trong kinh doanh phụ thuộc một phần vào
phân tích môi trường kinh doanh nhằm có được thông tin để có thể xác định được cơ
hội kinh doanh. Việc định giá chuyển giao sai làm cho quá trình truy cập thông tin
đáng tin cậy khó khăn hơn. Khi các công ty đa quốc gia tiếp tục báo cáo lỗ giả, nó sẽ
gửi tín hiệu sai lầm về tiềm năng kinh doanh trong nền kinh tế, khi đó các nhà đầu tư
tiềm năng có thể dựa vào thông tin này và đánh giá môi trường kinh doanh không
12

thiệt thường nghiêng về chính phủ các nước nhận đầu tư.

2.2 Bằng chứng thực nghiệm

Hơn hai thập kỷ gần đây chuyển giá trở thành đề tài tốn nhiều giấy mực không chỉ của
các nhà nghiên cứu, các nhà báo mà còn có cả những nhà làm luật. Rất nhiều nghiên
cứu đã chạm vào vấn đề mới mẻ và khá nhạy cảm này nhưng vẫn có nhiều ý kiến
1
3
chưa đồng thuận. Ta hãy cùng nhìn lại những thành tựu cũng như những vấn đề vẫn
còn bõ ngõ liên quan đến chuyển giá trong giai đoạn những năm cuối thập niên 70 cho
đến nay.

Trước hết ta bắt đầu từ những phát hiện và cáo buộc đầu tiên về hành vi chuyển giá
xuất hiện ở các quốc gia và phản ứng của chính phủ các nước trước hành động này.
Những cáo buộc về lạm dụng chuyển giá đã lan rộng khắp nước Mỹ khi có các bằng
chứng gián tiếp cho thấy có sự chênh lệch lớn giữa giá chuyển giao và giá thị trường
qua các nghiên cứu của Lall 1973; Vaitsos 1974; Jenkins and Wright 1975;
Roumeliotis1977; Bertrand 1981. Để làm sáng tỏ điều này Jean-Thomas Bernard và
Robert J đã tiến hành xem xét vấn đề chuyển giá trong ngành công nghiệp dầu khí của
Mỹ - ngành công nghiệp mũi nhọn với thuế suất đánh gấp đôi so với các ngành công
nghiệp khác. Tuy nhiên kết quả không như dự đoán khi sự khác biệt giữa giá giao
dịch nội bộ và giá chuyển giao thị trường không được giải thích đáng kể bởi hệ thống
thuế suất, tức chưa có dấu hiệu chuyển giá rõ ràng. Điều này được tác giả lý giải do
dầu là sản phẩm không đồng nhất cũng như bản chất và các quy tắc của IRS có thể
phát huy hiệu quả làm ngăn cản các công ty thực hiện nghĩa vụ thuế thông qua chuyển
giá mà thay vào đó họ sẽ tránh thuế thông qua các kênh khác. Sau đó, vào năm 1995,

những cơn gió của sự thay đổi pháp luật thổi vào tất cả các quốc gia để bảo vệ thị
phần thuế và sự giàu có toàn cầu. Nhưng với tham vọng lợi nhuận công ty đặt lên
hàng đầu, dù luật chuyển giá có không ngừng hoàn thiện thì các MNC vẫn không
ngừng tìm cách “lách luật” bằng việc vận dụng các hình thức chuyển giá ngày càng
linh động và biến tướng dưới nhiều hình thức hơn. Đúng là thuật ngữ “chuyển giá”
nghe có vẻ đã quen thuộc nhưng để hiểu những biểu hiện cũng như bản chất của nó
vẫn là một thách thức, đó là lý do để các nhà nghiên cứu đã và không ngừng đưa nó
lên “bàn mổ”.

Mức độ mà các tập đoàn đa quốc gia chuyển thu nhập từ các quốc gia đánh thuế cao
sang các nước có thuế thấp được trình bày trong một số nghiên cứu thực nghiệm, như
Jenkins và Wright (1975), Grubert và Mutti (1991), Hines và Rice (1994), Swenson
(2001), Clausing (2003), Bartelsman và Beetsma (2003), Reeb và Hansen (2003) và
Bernard et al. (2006). Các nghiên cứu đều cùng có chung quan điểm trên mặc dù mức
độ chuyển giá mỗi giai đoạn khác nhau. Hines và Rice (1994) tập trung vào các công
Mỹ có suất sinh lợi cao vượt bậc trên các khoản đầu tư tài chính cũng như đầu tư thực
1
5
ở các thiên đường về thuế. Quyết định thực hiện ở các thiên đường thuế này sẽ góp
phần làm tăng độ nhạy cảm của thu nhập đối với thuế suất, cho chúng ta kết quả rõ
ràng hơn về hành vi chuyển thu nhập. Bằng phương trình hồi quy của thu nhập đối với
các biến thuế suất và GDP, kết quả cho thấy có độ cong (độ co dãn) đáng kể trong tác
động của thuế suất đối với thu nhập được báo cáo: khi thuế suất tăng 1% sẽ làm giảm
20% thu nhập và tác động biên của thuế giảm xuống bằng 0 khi thuế suất đạt 43%.
Không tập trung ở các thiên đường về thuế, nhưng nghiên cứu của Reeb và Hansen
(2003) đã cho kết quả mang mức ý nghĩa đáng kể. Họ kết luận rằng rằng thu nhập
đuợc chuyển giảm với sự gia tăng quy định của chính phủ trong những năm gần đây


12 trong 14 quốc gia khảo sát. Một năm sau, Grubert và Newlon (1997) đã nghiên cứu
thêm các phát hiện này, và chỉ ra rằng các tác động thực sự của thuế lớn dần qua các
năm. Không ngừng lại ở đó, năm 2008, Célina Azémar và Gregory Corcos tiến hành
nghiên cứu với ý tưởng xây dựng phương trình phân bổ vốn đầu tư dưới tác động so
sánh thuế suất giữa nước mẹ và nước đầu tư, ngoài ra còn có yếu tố chi phí cơ hội của
việc chuyển lợi nhuận từ nước này sang nước khác, có đề cập đến hình thức sở hữu
của công ty mẹ đối với công ty con ở nước đầu tư cũng như thêm vào chi phí R&D,
chi phí chuyển giao công nghệ và chi phí bị phát hiện chuyển giá. Đây là một nghiên
cứu khá toàn diện, xem xét vần đề chuyển giá với nhiều khía cạnh cho đến thời điểm
này. Nghiên cứu đã làm sáng tỏ vấn đề rằng chính sự khác nhau về thuế suất giữa các
nước đã thúc đẩy hành vi chuyển giá. Với giả định về công nghệ và việc phát hiện lạm
dụng chuyển giá, các công ty như thế sẽ đầu tư vào các nước có thuế suất thấp. Ngoài
ra, đặc điểm của công ty mẹ và các chi nhánh đầu tư ở nước ngoài cũng có tương
quan với khả năng chuyển thu nhập lớn hơn. Cụ thể các công ty mẹ mà tập trung vào
cho R&D đầu tư vào các chi nhánh đầu tư được sở hữu toàn phần để có nhiều khả
năng thuận lợi hơn cho việc chuyển giá. Rõ ràng đầu tư vào những công ty như thế sẽ
thực sự trở nên nhạy cảm hơn với thuế suất nước chủ nhà.

Các hình thức như chuyển thu nhập hay phân bổ vốn đầu tư nói trên là một số biểu
hiện của chuyển giá, tuy nhiên nhiều nghiên cứu về vần đề này hầu hết đề tập trung

các bằng chứng gián tiếp. Phần lớn các nghiên cứu chọn đại diện như là thu nhập báo
cáo, thuế phải trả, xuất khẩu nội bộ và thấy rằng sự biến động giữa các quốc gia theo
thời gian của các biến này thì phù hợp với động cơ chuyển thu nhập. Một số khác thì
cho thấy các công ty đa quốc gia đã thay đổi các hoạt động thực của họ chẳng hạn như
đầu tư nước ngoài hay thay thế việc phân bổ các khoản nợ để đáp ứng động cơ chuyển
1
7


giá của các sản phẩm tương tự theo nguyên tắc giá thị trường. Nghiên cứu của họ bổ
sung thêm nguyên nhân về chênh lệch giữa giá thị trường và giá giao dịch nội bộ
ngoài yếu tố thuế và thuế quan còn do sự khác biệt trong cấu trúc thị trường. Qua đó
18
cho ta một nhận định rằng, mức giá báo cáo có thể chênh lệch với giá định theo
nguyên tắc giá thị trường và việc định giá cao, định giá thấp hay mức độ bóp méo như
thế nào sẽ bị tác động bởi nhiều yếu tố, trong đó quan trọng là thuế. Vậy ở Việt Nam
thì sao, chúng ta sẽ giải quyết vấn đề này ở phần tiếp theo với mục tiêu tìm kiếm
những bằng chứng thực nghiệm về hành vi chuyển giá trong công ty có vốn FDI

Việt Nam.

3. Phương pháp nghiên cứu

3.1 Mô hình và phương pháp nghiên cứu

Khi quá trình hội nhập ngày càng phát triển, việc mở rộng đầu tư sang môi trường bên
ngoài trở thành chiến lược tất yếu của các công ty. Họ tiến hành thiết lập các công ty
con, các chi nhánh của mình nhằm mở rộng địa bàn kinh doanh, tận dụng các cơ hội
cùng các lợi thế so sánh ở từng quốc gia nơi công ty đặt trụ sở để góp phần gia tăng
lợi nhuận. Dưới sức mạnh toàn cầu hóa, yếu tố thị trường cùng với sự khác biệt trong
các chính sách đầu tư và chính sách thuế đã thúc đẩy gia tăng các giao dịch nội bộ
giữa công ty mẹ và các chi nhánh của mình. Câu hỏi khiến chúng ta băn khoăn là với
các giao dịch diễn ra trong nội bộ của một tập đoàn, nơi mà các bên cùng hướng đến
mục tiêu chung thì liệu có sự dàn xếp nào không, và các giao dịch giữa họ có hoàn
toàn giống với giao dịch với các bên độc lập mà không hề có một sự thiên vị nào
trong chiến lược hướng đến lợi ích chung ấy? Thực tế thì hiện tượng xuất hiện các

đến hoạt động chuyển giá của các công ty đa quốc gia tại Việt Nam bởi hoạt động
chuyển giá không chỉ bị chi phối bởi thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế quan giữa hai
quốc gia mà còn do các nhân tố vĩ mô khác như cấu trúc thị trường, chu kỳ kinh
doanh, yếu tố địa lý, văn hóa, con người mà dữ liệu có sự khác biệt. Chính hạn chế
này nên trong mô hình Swenson chỉ xem xét mối quan hệ giữa giá báo cáo hàng nhập
khẩu và thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế quan với giả định bỏ qua các yếu tố khác
ảnh hưởng đến giá.

Nhằm phục vụ cho hoạt động sản xuất – kinh doanh, các công ty con ở nước ngoài
thường xuyên nhập khẩu từ công ty mẹ hoặc các công ty con khác các sản phẩm trung
gian cho mục đích gia công lắp ráp hoặc tạo sản phẩm cuối cùng. Đối với các giao
dịch nội bộ như trên, một MNC có chi nhánh tại Việt Nam có thể chuyển thu nhập ra
khỏi Việt Nam về công ty mẹ của nó ở nước ngoài bằng cách tăng giá chuyển giao
báo cáo đối với mặt hàng nhập khẩu đó. Nếu như thuế suất ở Việt Nam cao hơn


20
quốc gia của công ty mẹ thì việc gia tăng giá báo cáo sẽ làm giảm đi tổng mức thanh
toán thuế quốc tế mà công ty phải chi trả do chuyển thu nhập từ nơi có thuế suất cao
đến nơi có thuế suất thấp. Tuy nhiên, bên cạnh việc hưởng lợi do sự chênh lệch thuế
suất thuế TNDN, công ty còn phải chi trả một khoản thuế quan tại Việt Nam nhiều
hơn do việc tăng giá chuyển giao báo cáo khi chuyển thu nhập về công ty mẹ. Do vậy,
lợi ích thực sự mà một công ty đa quốc gia nhận được chính là phần chênh lệch thuế
suất trừ đi khoản mất đi do chi trả thuế quan.

Thu nhập tổng thể của công ty đa quốc gia bao gồm tất cả các thu nhập tạo ra ở quốc
gia sở tại cùng với tất cả thu nhập có được từ các công ty con ở nước ngoài. Đối với
Nếu

dương cho thấy công ty mẹ đưa ra một mức giá cho các chi nhánh ở nước

ngoài cao hơn giá thị trường P đối với các sản phẩm đầu vào và biên chuyển giá còn
cho biết P
R
định giá cao hơn bao nhiêu so với p trong trường hợp thuế suất đánh vào
2
1
công ty con cao hơn thuế suất đánh vào công ty mẹ và ngược lại. Chính việc định giá
cao hay thấp của công ty đa quốc gia thông qua xem xét ảnh hưởng của thuế TNDN
và thuế quan mà nó ảnh hưởng đến thu nhập của công ty bằng nhiều cách khác nhau.
Giá chuyển giao cao hơn sẽ gia tăng thu nhập chịu thuế của công ty mẹ một khoản
thị trường sao cho tối đa hóa thu nhập tổng thể E của công ty với các chi phí phải trả
do hành vi chuyển giá là thấp nhất; thu nhập tổng thể bao gồm giá trị thu nhập sau
thuế của công ty mẹ và giá trị thu nhập sau thuế của công ty con.

(

)

Cụm đầu tiên trong [ ] đại diện cho lợi nhuận báo cáo ở công ty mẹ, tất cả các yếu tố
này phụ thuộc vào thuế suất của quốc gia công ty mẹ τ
h
, trong khi cụm thứ hai đại
diện cho lợi nhuận báo cáo ở nước ngoài. Thuế suất đánh trên lợi nhuận công ty con τ
a
phụ thuộc vào hình thức đánh thuế ở quốc gia mẹ, và có khả năng phụ thuộc vào thuế
suất thuế thu nhập doanh nghiệp tương đối áp dụng trong và ngoài nước.

Trích đoạn Nguồn dữ liệu và cách lấy số liệu Thuế và thuế quan ảnh hưởng đến động cơ chuyển giá TPI Mô hình hồi quy ảnh hưởng của động cơ chuyển giá đến giá báo cáo của
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status