Phòng Và Trị Bệnh Cho
Rắn
Một số bệnh thường gặp ở rắn nuôi:
Hình minh họa
1. Bệnh do môi trường: rắn là động vật hoang dã, sống trong môi trường
thiên nhiên rộng rãi. Nay ừong môi trường sống của rắn nuôi chật trội, thiếu
ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm không thích hợp, nhất là kèm theo thiếu vitamin,
là nguyên nhân chính của bệnh do môi trường.
Biểu hiện chung của bệnh do môi trường là rắn mệt mỏi, kém ăn, biến đổi
màu da, khó lột xác, hay xuất hiện các vùng nhiễm trùng trên cơ thể. Đặc
biệt, khi điều kiện vệ sinh, phòng bệnh kém, mầm bệnh sẽ tích tụ trong và
xung quanh chuồng nuôi, tạo điêu kiện cho bệnh dịch phát triển nhất là các
bệnh ký sinh trùng như giun, sán, đơn bào, ve bét.
Rắn ít vận động ừong chuồng hẹp làm cho hệ tuân hoàn bị trì trệ, dê dân đên
bệnh tim mạch. Cải thiện điều kiện nuôi nhốt và bổ sung vitamin cho rắn là
những biện pháp cơ bản đê hạn chê bệnh do môi trường.
2. Bệnh do dinh dưỡng: Mặc dù thức ăn cho rắn nuôi thường đơn điệu,
nhưng chúng thường chỉ măc một số bệnh do thiếu vitamin. Đôi với răn, chủ
yêu là thiểu vitamin A, vitamin nhóm B (nhất là vitamin B1 và B2) và
vitamin D2 (không phải vitamin D3 như đôi với thú). Sự thiêu cân đôi trong
thành phân dinh dường cùng với chế độ nuôi dưỡng không họp lý, vệ sinh
thức ăn không tốt dễ làm phát sinh một sô bệnh về đường tiêu hoá và tuần
hoàn. Bệnh tắc mạch máu do lắng đọng cholesterol và axit uric là nguyên
nhân làm chết rắn đột ngột với bệnh tích to tim.
3. Bệnh do nhiễm trùng: bệnh đường tiêu hoá do vi trùng shalmonella rất
phổ biến ở rán. Bệnh này có thể gây sang người. Vì vậy, cần chú ý vệ sinh
cá nhân sau khi tiếp xúc với rắn, đặc biệt là rắn bệnh. Khi răn bị bệnh nặng,
hiểm nhất là loài chân khớp và một số loài giun tròn ký sinh ở phổi rắn.
Chúng có thể gây chết hàng loạt loại rắn. Ngoàỉ việc hút máu, gây độc hại và
quấy rầy rắn, ve bét còn rất huy hiểm trong vai trò vật chủ trung gian lây
truyền các bệnh truyền nhiễm.
Biểu hiện chung của bệnh do nội ký sinh là rắn gầy yếu, mệt mỏi, kém ăn,
da không bong, thường có rối loạn tiêu hóa. Rắn bị nhiễm chân khớp và giun
tròn ký sinh ở phổi có triệu trứng giống như bệnh nhiễm trùng đường hô
hấp. Điều trị bằng kháng sinh triệu chứng sẽ giảm, nhưng sẽ tái phát nhanh
chóng. Có nhiều loại thuốc đặc trị ký sinh trùng. Cần có chẩn đoán chính xác
để dung thuốc thích hợp. Ký sinh trùng có khả năng lây lan mạnh, vì vậy can
hết sức chú trọng các biện pháp vệ sinh chăn nuôi và áp dụng các biện pháp
phòng bệnh.
6. Bệnh do nấm: Trong điều kiện nóng ẩm của chuồng nuôi, một số bệnh
do nấm cũng dễ phát sinh. Một số tài liệu cho rằng, bệnh trắng gan là có
nguyên nhân do nam. Các vết thương trên thân thể rắn cũng rất dễ bị nấm
tấn công và có thể gây chết rắn.
7. Bệnh do các vết thương: Các vết thương của rắn do nhiều nguyên nhân
như săn bắt, vận chuyển, cắn nhau v.v. Nguyên tắc chung là phải rửa, sát
trùng vêt thương băng các dung, dịch sát trùng thông thường. Nhốt rắn ở nơi
sạch sẽ, khô ráo để tránh nhiễm trùng và nấm từ môi trường. Các vết thương
nhẹ có thể dùng thuốc sát trùng. Các vết thương nặng cần phải bôi hoặc tiêm
kháng sinh.
8. Bệnh ướp xác
Biểu hiện: xác rắn không lột được, nếu để lâu rắn sẽ kém ăn, khô kiệt và
chết.
Điều trị: Rắn bị ướp xác cần bắt vào túi lưới, ngâm rắn khoảng 20-30 phút
trong dung dịch sát khuẩn (berberin, tertracýclin v.v.) với nông độ 0.5-
1.0g/l lít nước sạch.
Trong trường hợp rắn bị ướp xác đồng thời bị nhiễm trùng da non, cần cho
uống kháng sinh kêt họp với ngâm nước sát trùng và phun kháng sinh vào
Sau ngủ đông, rắn I con được chuyển vào chuồng nuôi rắn. con, tất cả vật
liệu ủ đông, vật liệu xây ụ rắn và chuồng nuôi rắn con đều phải khử trùng
triệt để. Các vật liệu mau hỏng như răm, cỏ có thể đốt để phòng mầm bệnh
lưu lại. Chuồng nuôi được phơi nghỉ cho tới vụ nuôi rắn con tiêp theo.
+ Chuồng nuôi rắn nhỏ phải được khừ trùng trước khi thả rắn khoảng 20-30
ngày. Trước khi ngủ I đông, rắn được chuyển vào phòng dành cho răn ngủ
đông có diện tích rộng hơn với mật độ rắn lớn hơn. Chuồng nuôi rắn nhỏ
được khử trùng triệt đê và phơi nghỉ cho tới vụ xuân - hè.
+ Trước khi thả rắn vào chuồng nuôi trở lại, chuồng phải được khử trùng lại
lần nữa.
Tóm lại, tất cả cảc loại chuồng nuôi rắn đều phải tiến hành'khử trùng trước
khi thả rắn và sau khi bắt rắn đi.
10. Vệ sinh môi trường
Nhất thiết phải xây hố rác thải dành riêng cho việc xử lý rác của trại nuôi.
Hố rác này được xây dựng trong khu vực nuôi rắn nhưng phải cách xa
chuồng nuôi với khoảng cách tối đa có thể. Hố rác thải nên xây nổi, không
thấm nước, có nắp đậy kín để khi mưa rác không bị ngập và tràn ra khắp trại
đồng thời phải tránh các động vật khác chui vào hố rác mang mầm bệnh đi
khắp nơi.
Rác thải hàng ngày và các đợt vệ sinh định kỳ được đưa vào hố rác. Rác
được xử lý bàng vôi bột, thuốc khử trùng và được chôn sâu ở bãi rác trung
tâm sau mỗi đợt nuôi.
11. Một số biện pháp xử lý khi bị rắn cắn
Khi người bị rắn cẩn, nọc độc thường được chích sâu dưới da hoặc trong cơ.
số lượng nọc này rất thay đồi, nó phụ thuộc vào chủng loại và kích thước
của rắn, vào vết cấn có 1 hoặc 2 răng độc xâm nhập qua da hoặc bị cắn nhiều
lần cùng một lúc. Rắn không vắt kiệt nọc dự trữ ngay cả sau vài lần tức giận
và cũng không bớt nguy hiểm sau khi ãn mồi. Cùng một chủng loại, rắn lớn
nhiều nọc hom rắn nhỏ, nhưng cũng không được xem thường khi bị ran nhỏ
cắn.
- Rửa vết cắn: sau khi cột dây ga rô, dùng nước sạch hay đun nước sôi để
nguội thêm ít muối ăn hoặc thuốc tím 0.5-1.0%.
- Rạch vết cắn hình chữ thập, sầu 0.3-0.5 cm. Vuốt nhẹ từ trên xuống dưới
cho máu chảy ra, thời gian khoảng 20 phút.
- Hút nọc: Dùng giác hút nọc, bơm tiêm hút nọc, hạt đậu nọc hoặc dùng
miệng hút nọc rồi nhổ đi ngay.
- Uống thuốc giải nọc và tiêm huyết thanh kháng nọc. Dùng một trong các
loại thuốc quen thuộc như rượu hội hay viên thuốc hội chế theo đơn sau:
+ Ngũ linh chi 20g
+ Xuyên bối mẫu 20g
+ Sinh nam tử 24g
+ Bạch chỉ 24g
+ Quế24g .
+ Bạch thược 12g
+ Bạch đậu khấu 24g
+ Hàthủ ô đỏ 40g
+ Thanh phàn 24g
+ Bào sơn giáp 24g
+ Hùng hoàng 40g
- Tiêm trực tiếp 4000-8000 đơn vị chymotripsin trong dung dỉch procain
0.25-0.55% xung quanh vết thương, hoặc phun chymotripin bột lên vết
thương.
- Theo tây y: khi bị rắn cắn cỏ thể tiêm huyết thanh kháng nọc độc. Hiện nay
tại bệnh viện Chợ Ray thành phổ Hồ Chí Minh cỏ loại thuôc này.
- Những biện pháp cụ thể trong xử lí cấp cứu nạn nhân bị răn độc căn sẽ
giúp hạn chê những tác hại do nọc độc gây ra và tạo điều kiện cho các bước
điều trị tiếp theo đạt hiệu quả cao.
Việc xử lí cần có sự linh hoạt và khéo léo trong sự phối hợp các vị thuốc
cũng như tận dụng tốt các biện pháp hiện có tùy thuộc yàọ hoàn cảnh và
điều kiện cụ thể.