TCNCYH 25 (5) - 2003
Hội chứng hellp trong bệnh lý nhiễm độc thai nghén
Ngô Văn Tài
Bộ môn Phụ sản - Đại học Y Hà Nội
Nghiên cứu 320 thai phụ bị nhiễm độc thai nghén (NĐTN) tại Viện Bảo vệ Bà mẹ và Trẻ
sơ sinh trong năm 2002, cho thấy: tỷ lệ bệnh nhân bị hội chứng HELLP (H: Hemolysis; EL:
Elevated liver enzymes; LP: Low platelets) là 31/320 (9,7%). Đây là một biến chứng nặng
của hội chứng NĐTN do Weinstein mô tả lần đầu tiên tại Hoa Kỳ từ năm 1982. Cho đến nay,
nguyên nhân của hội chứng này vẫn cha đợc sáng tỏ. Bệnh đợc đặc trng bởi sự tan máu
vi thể; tăng các enzym của gan và số lợng tiểu cầu giảm. Về mặt lâm sàng, bệnh nhân có
đau vùng thợng vị; buồn nôn hoặc nôn; có thể có tụ máu dới bao gan và thờng có suy
thận cấp tính tạo nên nhiều biến chứng của hội chứng này. Theo nhiều tác giả thì đây là một
cấp cứu sản khoa, cần đỉnh chỉ thai nghén; tỷ lệ tử vong mẹ và tử vong chu sinh tơng đối
cao. Theo nghiên cứu này thì biến chứng chảy máu do đông máu rải rác trong lòng mạch
(CIVD) là 9/31 (29%); suy thận cấp là 100%; sản giật là 6/31 (19,4%); suy gan là 100%, suy
tim là 4/31 (13%); không có phù phổi cấp và không có tử vong mẹ. Đối với sơ sinh: thai chết
lu trong tử cung là 9/31 (29%); thai chết chu sinh là 5/31 (14%); số thai nhi sống đều có cân
nặng dới 2500g (17/31 - 54,8%). Kết luận: Hội chứng HELLP là một biến chứng nặng của
hội chứng NĐTN, là tiền sản giật nặng, cần đình chỉ thai nghén.
I. Đặt vấn đề
Hội chứng nhiễm độc thai nghén gây ra
nhiều biến chứng cho thai phụ và thai nhi,
một trong những biến chứng đó là hội chứng
HELLP (Hemolysis Elevated Liver enzymes
Low Platelets). Đây là một biến chứng nặng
và về phơng diện lâm sàng, hội chứng này
đợc coi nh tiền sản giật nặng với các biểu
hiện sau: tan máu vi thể với biểu hiện vàng
- Những biểu hiện lâm sàng và cận lâm
sàng của hội chứng này.
- Thái độ xử trí trớc một thai phụ bị
NĐTN có biến chứng hội chứng HELLP.
II. Đối tợng và phơng pháp
nghiên cứu
1. Đối tợng:
Những bệnh nhân bị NĐTN có biến
chứng thành hội chứng HELLP trong tổng số
320 thai phụ bị NĐTN trong 2 năm 2001 -
2002 tại Viện bảo vệ Bà mẹ và trẻ sơ sinh.
2. Phơng pháp nghiên cứu:
63
TCNCYH 25 (5) - 2003
áp dụng phơng pháp nghiên cứu mô tả
cắt ngang.
- Mỗi thai phụ sẽ đợc theo dõi:
+ Huyết áp
+ Phù
+ Protêin niệu
- SGOT; SGPT; Bilirubin toàn phần; u rê
huyết thanh; crêatinin huyết thanh.
- Axit uric huyết thanh; số lợng tiểu cầu.
3. Xử lý số liệu
Sử dụng chơng trình phần mềm EPI -
INFO 6.0 so sánh sự khác biệt giữa các kết
quả nghiên cứu bằng test 2 với độ tin cậy
95% (p < 0,05)
IV. Kết quả
của hội chứng HELLP
Dấu hiệu lâm sàng n %
Tăng huyết áp (>
140/90 mmHg)
31 100
Phù 31 100
Vàng da 31 100
Đau vùng thợng vị 31 100
Số lợng nớc tiểu dới
400ml/24 giờ
31 100
Nhận xét: Tất cả những thai phụ bị hội
chứng HELLP đều bị tăng huyết áp, ít nhất
là ở mức từ 140/90 mmHg trở lên. Trong số
này, có 19 thai phụ có huyết áp từ 160/110
mmHg trở lên. Kết quả nghiên cứu cũng cho
thấy 100% các trờng hợp bị phù, vàng da
và đau vùng thợng vị ở các mức độ khác
nhau. Có 100% bệnh nhân có lợng nớc
tiểu dới 400ml/24 giờ, trong đó có 8 bệnh
nhân hoàn toàn vô niệu cần chạy thận nhân
tạo.
Bảng 4: Xét nghiệm hoá sinh có liên
quan tới hội chứng HELLP
Các xét nghiệm hoá sinh n %
Protêin niệu (> 5g/l) 28 90
U rê huyết thanh (> 7mmol/l) 31 100
Crêatinin huyết thanh (>106àmol/l)
31 100
S.GOT (> 70 UI/l) 31 100
Các biến chứng n %
Đông máu rải rác trong
lòng mạch
9 29
Suy thận cấp 31 100
Sản giật 6 19
Suy gan 31 100
Suy tim 4 13
Phù phổi cấp 0 0
Tử vong mẹ 0 0
Nhận xét: có 9 bệnh nhân bị chảy máu
nặng do đông máu rải rác trong lòng mạch
(29%). Có 100% bệnh nhân bị suy thận cấp
và suy gan, 6/31 (19,4%) bệnh nhân bị lên
cơn sản giật. Không có thai phụ nào bị phù
phổi cấp và cũng không có bệnh nhân nào
bị tử vong.
Bảng 6: Những biến chứng do hội
chứng HELLP gây ra cho sơ sinh
Các biến chứng n %
Tử vong chu sinh 5 14
Thai chết lu trong tử cung 9 29
Cân nặng dới 2500gam 17 59
Nhận xét: Biến chứng nhiều nhất do hội
chứng HELLP gây ra cho sơ sinh là trẻ đẻ ra
có trọng lợng cơ thể nặng dới 2500gam
(54,8%). Có 9/31 (29%) thai nhi bị chết lu
trong tử cung và đây cũng là biến chứng
nặng nề nhất đối với thai nhi do hội chứng
HELLP gây ra. Có 5/31 (14%) trẻ chết chu
Hội chứng HELLP là một biến chứng hiếm
gặp. Theo Bousaba [2] thì tỷ lệ xuất hiện hội
chứng này vào khoảng từ 2 đến 12%. Kết quả
nghiên cứu của chúng tôi là 9,7%. Đa số các
tác giả coi đây là tiền sản giật nặng với các
triệu chứng lâm sàng điển hình của bệnh cảnh
nhiễm độc thai nghén. Tuy nhiên, Geer và
cộng sự [3] cũng nh một số tác giả khác lại
coi hội chứng HELLP là hình thái đông máu rải
rác trong lòng mạch (CIVD) do lợng fibrinogen
< 300 mg/dl; tỷ lệ prothombin giảm dới 40%
(thay đổi từ 4 đến 38% trờng hợp bị hội chứng
HELLP). Theo Sibai [6] thì hội chứng HELLP
đợc định nghĩa hoàn chỉnh nh sau: Tan máu
đợc xác định bởi có vỡ hồng cầu trên lam kính
ở máu ngoại vi và có tăng lợng bilirubin (>
1,5mg/dl). Lợng LDH (> 600UI/l) tăng các
enzyme của gan (lợng SGOT và SGPT tăng
trên 700 UI/l). Số lợng tiểu cầu giảm dới
65
TCNCYH 25 (5) - 2003
100.000/mm
3
máu. Nghiên cứu của chúng tôi
cho thấy những thay đổi hoá sinh của những
bệnh nhân bị hội chứng HELLP trong nghiên
cứu này đều cho kết quả tơng tự nh nghiên
cứu của Sibai và cộng sự. Các enzyme của
gan tăng lên là do có sự hủy hoại tế bào gan;
chứng HELLP. Chúng tôi cho rằng mổ lấy thai
là biện pháp an toàn nhất cho những bệnh
nhân này nhằm rút ngắn chuyển dạ (nếu thai
phụ đã chuyển dạ), sau khi thai nhi đợc lấy ra
khỏi tử cung, chúng ta sẽ có thời gian và điều
kiện để hồi sức cho thai phụ đợc tốt hơn, điều
này cũng phù hợp với quan điểm của
Weinstein [7]. Tuy nhiên, theo một số tác giả
[1, 6] thì cần theo dõi thêm nếu tình trạng bệnh
nhân cha quá nặng và các tác giả này cho
rằng thai nhi cần ở trong buồng tử cung để cho
phổi trởng thành hơn, tránh bị bệnh màng
trong khi trẻ đợc sinh ra. Trong những trờng
hợp ấy, ngời ta sử dụng corticoides để làm
tăng sự trởng thành của phổi thai nhi [5].
Đối với thai nhi, kết quả nghiên cứu của
chúng tôi cho thấy có tới 9/31 (29%) thai nhi bị
chết lu trong tử cung; 14% chết chu sinh và
54,8% thai nhi có cân nặng dới 2500gam.
Nh vậy, hội chứng HELLP là một tiền sản giật
nặng và thai nhi là đối tợng chịu ảnh hởng
sớm; nhất là tuổi thai dới 34 tuần. Theo
nghiên cứu của Sibai [6] thì tỷ lệ tử vong mẹ
thay đổi từ 0 đến 24% và tỷ lệ chết chu sinh
thay đổi từ 7,7 đến 60%. Nghiên cứu của
chúng tôi cho thấy không có tử vong mẹ. Tử
vong chu sinh trong nghiên cứu này (14%)
cũng nằm trong khoảng tỷ lệ tử vong mà Sibai
đã công bố.
V. Kết luận
chăm sóc đặc biệt của chuyên khoa sản kết
hợp với các chuyên khoa khác nh gây mê, hồi
66
TCNCYH 25 (5) - 2003
sức, tim mạch, tiết niệu, tiêu hoá mới hy vọng
cứu sống bệnh nhân trong những trờng hợp
nặng.
Tài liệu tham khảo
1. Barton J.R (1991): care of the
pregnacy complicated by HELLP syndrome.
Obstet Gynecol. clin. north Am, 1991. 18, 165
- 179.
2. Bousaba C (1999): Sydrome HELLP
un défi thésrapeutique. Rev. Fr. Gynécol.
Obstét, 1999, 94: 1, 35 - 39.
3. Greer I. A (1985): HELLP syndrome :
Pathologic entity or technical inadequacy.
Am.J. Obtet. Gynecol, 1985, 152 (1), 113 -
114.
4. Lavery J. P (1983): Sybcapsular
hematoma of the liver during pregnancy.
Southern Medical Journal, 1983 (12), 1568 -
1570
5. Antepartum corticosteroides: Disease
stabilisation in patients with the syndrome of
hemolysis, elevated liver enzymes, and low
platelets (HELLP). Am. J. Obstet. Gynecol,
1994, 171, 1148 - 1153.
6. Sibai B.M (1990): The HeLLP
67