TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN PHẠM THỊ THÚY EM ẢNH HƯỞNG CỦA HOROMON 17-α-
METHYLTESTOSTERON ĐẾN SỰ CHUYỂN ĐỔI GIỚI
TÍNH CÁ LA HÁN
LUẬN VĂN ĐẠI HỌC
NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
2009
2
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
Em xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học Cần Thơ,
quý thầy cô khoa Thủy sản, thầy cố vấn học tập lớp Nuôi trồng thủy sản K31
đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành chương trình đào tạo ngành của trường.
Em xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy Tiến sĩ Bùi
Minh Tâm đã tận tình hướng dẫn, động viên, tạo mọi điều kiện thuận lợi trong
thời gian em tiến hành thí nghiệm hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Em xin chân thành cảm ơn cán bộ trại thực nghiệm bộ môn Kỹ thuật
nuôi cá nước ngọt-khoa Thủy sản-trường Đại học Cần Thơ đã tạo điều kiện tốt
nhất để em hoàn thành luận văn.
Chân thành cảm ơn các bạn sinh viên trong trại thực nghiệm bộ môn
Kỹ thuật nuôi cá nước ngọt và tập thể lớp Nuôi trồng thủy sản K31 đã giúp đỡ
và đóng góp ý kiến để bài luận văn được hoàn chỉnh hơn.
Do thiếu kinh nghiệm bởi lần đầu trình bày báo cáo luận văn nên không
tránh khỏi sự thiếu sót, kính mong quý thầy cô đóng góp ý kiến để bài luận
văn được tốt hơn.
Em xin chân thành cảm ơn! 4
TÓM TẮT
Cá la hán đực thường có màu sắc sặc sỡ, đầu gù hơn cá la hán cái, cá
đực vừa to, vừa khoẻ, tính khí năng động hung hăng nên ai cũng chỉ thích
được sở hữu cho kỳ được con cá la hán đực. Đề tài này được thực hiện với
mục đích nghiên cứu ảnh hưởng của hormone 17-methyltestosteron (MT)
đến sự chuyển đổi giới tính của cá la hán bằng phương pháp cho cá ăn thức ăn
có trộn hormon MT trong 21 nngày với hàm lượng 30 mg/kg bột cá, 60 mg
MT/kg bột cá và 90 mg MT/kg bột cá và phương pháp ngâm cá trong hormone
2.2.1. Trên thế giới 13
2.2.2. Trong nước 14
2.3. Đặc điểm sinh học của cá la hán 14
2.3.1. Tên cá la hán 14
2.3.2. Nguồn gốc cá la hán 14
2.3.3. Hình thái 15
2.3.4. Sinh trưởng 15
2.3.5. Dinh dưỡng 16
2.3.6. Sinh sản 16
2.4. Phân biệt giới tính ở cá la hán 17
2.4.1. Quan sát phần thân cá 17
2.4.2. Quan sát vây lưng 17
2.4.3. Quan sát vây ngực 17
2.4.4. Quan sát vây đuôi 17
2.4.5. Quan sát phần ức cá 17
2.4.6. Quan sát màu sắc và cái đầu gù 18
2.4.7. Quan sát bộ phận sinh dục 18
2.5. Hormon sinh dục ở cá 18
2.5.1. Hormon sinh dục đực 18
2.5.2. Hormon sinh dục cái 18
2.6. Cơ chế xác định giới tính ở cá 19
2.7. Những thông số cơ bản khi điều khiển giới tính cá bằng steroid sinh dục
21
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
3.1. Vật liệu thí nghiệm 22
3.1.1. Vật liệu 22
3.1.2. Hóa chất 22
3.1.3. Thức ăn cho cá 22
3.1.4. Vật thí nghiệm 22
3.2. Phương pháp thí nghiệm 22
Bảng 2: Tăng trưởng của cá 82 ngày tuổi 26
Bảng 3: Tỷ lệ sống 14, 17, 72 ngày tuổi của cá 29
Bảng 4: Tăng trưởng của cá 72 ngày tuổi 31
Bảng 5: So sánh hiệu quả chuyển đổi giới tính cá la hán giữa 2 phương pháp
cho ăn và ngâm hormone MT 33
8
DANH SÁCH HÌNH
Hình 1: Hình thái bên ngoài cá la hán 15
Hình 2: Tỷ lệ sống của cá ở 25 và 82 ngày tuổi 25
Hình 3: Cá 82 ngày sau nở 26
Hình 4: Chiều dài trung bình của cá 82 ngày tuổi 27
Hình 5: Trọng lượng trung bình của cá 82 ngày tuổi 27
Hình 6: Hệ số tăng trưởng của cá 28
Hình 7: Tỷ lệ đực 29
Hình 8: Tỷ lệ sống của cá 30
Hình 9: Cá 72 ngày tuổi 30
Hình 10: Chiều dài trung bình của cá 72 ngày tuổi 31
Hình 11: Trọng lượng trung bình của cá 72 ngày tuổi 30
Hình 12: Hệ số tăng trưởng của cá 32
Hình 13: Tỷ lệ đực 32
9
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
MT: 17--methyltestosteron
NT: nghiệm thức
ĐC: đối chứng
mãn nhu cầu chơi cá kiểng của các nghệ nhân.
Nếu không có sự tác động của con người thì tỷ lệ giới tính của một đàn
cá được sinh ra là 1:1, khi chuyển được 50% cá đực thành cá cái hoặc thấp
hơn đi nữa thì cũng đã góp phần tăng thêm sự thích thú của các nghệ nhân và
tăng thêm thu nhập cho người nuôi. Một trong những phương pháp đơn giản
để tác động đến sự hình thành giới tính của cá là dùng hormone sinh dục tác
động vào cá trong giai đoạn cá chưa có sự biệt hóa giới tính. Tuy nhiên, việc
sử dụng hormone 17α-methyltestosteron để sản xuất cá la hán đơn tính chưa
được nghiên cứu vì vậy đề tài: “Ảnh hưởng của hormone 17α-
methyltestosteron đến sự chuyển đổi giới tính cá la hán” được thực hiện
nhằm bước đầu khảo sát ảnh hưởng của hormone 17α-methyltestosteron đến
sự chuyển đổi giới tính cá la hán.
11
Mục tiêu
Khảo sát ảnh hưởng của hormon 17α-methyltestosteron đến sự chuyển
đổi giới tính cá la hán.
Nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu ảnh hưởng của hormon 17α-methyltestosteron đến sự
chuyển đổi giới tính cá la hán.
So sánh hiệu quả của hai phương pháp sử dụng hormon 17α-
methyltestosteron để sản xuất cá la hán đơn tính.
12
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Tình hình phát triển nghề cá cảnh
Việt Nam nằm ở khu vực Đông Nam Á là một trong 3 vùng nuôi cá
cảnh nổi tiếng trên thế giới, sự di nhập của nhiều giống cá nước ngoài đẹp và
quí hiếm đã đưa nghề cá cảnh nước ta trở thành nghề đặc trưng mấy chục năm
qua.
13
ăn tự nhiên. Xuất khẩu năm 1985 khoảng 9491.398 con và đạt giá trị 879.323
Ringgit Malaysia. Sau đó tăng lên 227790460 con và đạt giá trị 43749882 RM
vào năm 1994. Các nhóm xuất khẩu chủ yếu là bảy màu, long tong, hoàng
kiếm, cá rô, cá sặc và cá trơn. Cá cảnh ở Mỹ chiếm một tỷ trọng lớn trong nền
kinh tế, chiếm khoảng 1000 triệu hàng năm. Năm 1992, Mỹ nhập khoảng 201
triệu con giá 44.7 triệu USD, trong đó cá nước ngọt chiếm 96% số lượng và
giá trị 80 %. Nguồn cá nhập chủ yếu từ các nước Đông Nam Á, một số ở Nam
Mỹ, Châu Âu, Nhật Bản, Châu Phi, Châu Úc.
2.2. Tình hình nghiên cứu sản xuất đơn tính một số loài cá
2.2.1. Trên thế giới
Tại Thái Lan, Pongthana (1995, 1999) đã cho sinh sản cá mè vinh toàn
cái bằng phương pháp dùng mẫu sinh nhân tạo kết hợp với việc chuyển đổi
giới tính bằng hormone sinh dục. (Đặng Khánh Hồng trích dẫn)
Theo Pandian (1995) (Đặng Khánh Hồng trích dẫn) thì có thể thực hiện
chuyển đổi giới tính khoảng 47 loài cá bằng 31 loại hormone steroid khác
nhau (16 androgen và 15 estrogen) trong đó phổ biến nhất là 17α-
methyltestosteron và 17β-estradiol để đực hóa hay cái hóa bằng phương pháp
cho ăn hoặc ngâm. Đối với những loài có kích thước nhỏ và đẻ trứng thuộc họ
cá rô Anabantidae và cá rô phi Cichlidae cần liều thấp nhất (5-50 mg/ kg thức
ăn).
Nhiều tác giả các công trình sản xuất cá đơn tính bằng các hormone
sinh dục có nhận xét chung rằng: khi dùng liều càng cao thì tỷ lệ sống cá được
xử lý càng thấp. Một hiện tượng có vẻ nghịch lý là khi dùng các hormone sinh
dục đực có khả năng thơm hóa (aromatizable) chẳng hạn stetosteron thì hiệu
quả đực hóa của thuốc chỉ tăng cùng với sự tăng của liều xử lý đến một giá trị
nhất định, vượt quá nó thì sự tăng liều thuốc đực hóa làm cho tỷ lệ cái tăng
lên. (Pandian và Varadaraj, 1990 - Đặng Khánh Hồng trích dẫn, 2006).
Hiện nay, phương pháp để tạo ra toàn cái hoặc toàn đực được sử dụng
Tên tiếng Hoa : Lua Han hay Hua Lua han (Đoàn Đạt, 2007)
Tên Việt Nam : la hán hay Hoa la hán
2.3.2. Nguồn gốc cá la hán
Cá la hán không sống trong hoang dã, chúng là giống cá lai do những
nhà chăn nuôi Malaysia lai tạo trong những năm cuối thế kỷ 20. Có bao nhiêu
loài để tạo nên cá la hán thì vẫn chưa rõ nhưng chắc chắn chúng là con lai của
một số loài cá Nam Mỹ khác nhau thuộc họ Cichlid (Vương Trung Hiếu,
2007).
Về sau, những nhà chăn nuôi Malaysia đã tìm cách tạo ra khá nhiều loài
cá la hán. Một giả thiết đáng tin cậy khác cho rằng dòng cá la hán thứ hai là
kết quả lai tạo chọn lọc của một số giống cá Nam Mỹ khác nhau và có khả
năng là sự kết hợp giữa loài Trimac Cichlid (Amhilophous trimaculatus),
Midas cichlid (Amphilophus citrinellum), Red Devil cichlid (Amphilophus
labiatum), Cichlasoma festae, Tingang blood parrot và những loài khác.
15
Nhưng hiện nay, nhiều loài cá la hán chất lượng tốt hơn đã được lai tạo.
Chúng xuất phát từ những dòng khác nhau như Golden Flower Horn (aka
KamFa), Golden Merary và Coronation Link …(Vương Trung Hiếu, 2007).
Hiện nay, cá có mặt hầu hết trên thế giới nhưng đặc biệt là ở Malaysia
quê hương của cá La hán , ở Trung Quốc và Thái Lan.
2.3.3. Hình thái
Hình 1: Hình thái bên ngoài cá la hán
Theo Vương Trung Hiếu (2007), la hán có thân hình cân đối, gồm có
các dạng như hình vuông, hình chữ nhật, hơi tròn, thuôn và có độ ngắn dài
khác nhau. Đầu gù có bướu gáy, thông thường con đực có đầu gù lớn hơn con
cái. Mõm ngắn hoặc dài tùy loài, phần trên và phần dưới mõm dài bằng nhau,
tuy nhiên cũng có trường hợp ngoại lệ. Mắt có màu vàng, đỏ, trắng, tím…nằm
ở viền ngoài của mắt. Thân có hoa văn thường có màu đen, thường có một
2.3.6. Sinh sản
Thời kì phát dục: khi đạt khoảng 10 – 12 tháng tuổi cá la hán sẽ phát
dục và sinh sản lần đầu đôi khi có những con phát dục sớm hơn. Dấu hiệu
nhận biết cá mái sắp bước vào thời kì sinh sản là bỏ ăn hoặc ăn ít, cơ thể xuất
hiện những sọc đen thẳng đứng, trong khi đó con cái tiến hành dọn sạch một
góc bể bằng miệng, lúc này gai sinh dục cũng lòi ra và có hình chữ U, còn cá
đực khi tham gia sinh sản thì màu sắc trở nên sặc sở, gai sinh dục lòi ra hình
chữ V (Việt Chương và Phúc Quyên, 2007).
Thời gian tái phát dục của cá phụ thuộc vào chất lượng nước và sức
khỏe của cá bố mẹ. Có khi vài ngày nhưng có khi 1 tháng hoặc hơn thế nửa. Ở
cá có độ tuổi càng lớn thì thời gian tái phát dục càng chậm. Muốn phục hồi cá
bố mẹ tốt nhất là cho nghỉ ngơi khoảng 2 tháng và cho ăn uống đều độ và đầy
đủ.
Sức sinh sản của cá la hán tùy thuộc vào từng chủng loại và một số yếu
tố như lứa sinh sản, tuổi sinh sản, mùa sinh sản…Tuy nhiên, trung bình mỗi
lần đẻ khoảng 500 – 1000 trứng có kích cỡ từ 1 – 2 mm màu hơi nhạt (Vương
Trung Hiếu, 2007).
Quá trình sinh sản: sau khi đã chọn được nơi đẻ trứng thông thường cá
đẻ dưới đáy. Sau đó cá trống sẽ bơi tới thụ tinh cho trứng. Quá trình này diễn
ra nhanh hay chậm tùy thuộc vào kích cỡ cá bố mẹ và số lượng trứng, thông
thường cá đẻ trong 1 giờ.
Trong giai đoạn này cá bố mẹ trở nên rất hung hăng, có khi chúng tấn
công lẫn nhau. Nếu bên ngoài có tác động đến chúng thì chúng sẽ ăn hết trứng.
17
Sau khi cá đẻ trứng phải kiểm tra và quan sát biểu hiện của cá bố mẹ,
nếu thấy cá bố mẹ ăn trứng thì bắt chúng sang bể khác, khoảng 3 – 4 ngày sau
khi đẻ trứng sẽ nở thành cá con (Việt Chương và Phúc Quyên, 2007).
2.4. Phân biệt giới tính ở cá la hán
Không riêng gì cá la hán, đối với các giống cá kiểng khác cũng vậy
màu sắc của chúng đã rõ nét. Các tế bào sắc tố này nằm trên bề mặt da. Màu
sắc cá la hán đực trưởng thành thường tươi tắn, đẹp đẽ và châu nhiều hơn cá
cái. Đầu gù của cá đực cũng lớn hơn, gồ ghề hơn cá cái.
2.4.7. Quan sát bộ phận sinh dục
Cá la hán khi đã trưởng thành cơ quan sinh dục của chúng đã phát triển
hoàn chỉnh. Vì vậy, chỉ cần quan sát bộ phận sinh dục bên ngoài của cá là biết
đích xác giới tính của chúng. Cơ quan sinh dục của cá đực có dạng chữ V, còn
cơ quan sinh dục của cá cái có dạng hình chữ U. Giữa hình chữ V và chữ U
coi vậy mà đôi khi sự khác biệt không rõ nét lắm, dễ dẫn đến lầm lẫn.
Ngoài những chi tiết chính yếu vừa kể trên có thể quan sát thêm ở
những bộ phận khác trên thân cá lớn này. Chẳng hạn, quan sát phần đầu cá
cũng thấy hàm dưới cá đực dày và rộng hơn cá cái…(Việt Chương và Phúc
Quyên, 2007)
2.5. Hormon sinh dục ở cá
2.5.1. Hormon sinh dục đực
- Hormon sinh dục đực là testosteron
- Tác dụng: kích thích phát triển của cơ thể, kích thích sự phát triển của
các đặc điểm sinh dục phụ.
- Hormon sinh dục ở cá do tế bào kẽ của tinh sào tiết ra.
Hoạt động nội tiết của tuyến sinh dục chịu sự chỉ huy của tuyến yên
thông qua hormon hướng sinh dục: FSH, LTH, LH,…Hoạt động của hormon
hướng dục lại chịu sự điều khiển của vùng dưới đồi, thông qua các yếu tố giải
phóng LH-RF, FSH-RF (Đỗ Thanh Hương và Trần Thanh Hiền, 2000).
2.5.2. Hormon sinh dục cái
- Hormon sinh dục cái là oestrogen và progesteron
+ Oestrogen do tế bào áo trong của nang trứng tiết ra số lượng tăng dần
theo quá trình phát triển của nang trứng và giảm theo quá trình thoái hóa của
nó. Tác dụng đảm bảo sự phát triển bình thường của cơ quan sinh dục cái, xuất
hiện và phát triển cơ quan sinh dục phụ, thúc đẩy thận tái hấp thu muối và
nước, tăng nồng độ glucoza trong máu, tăng sinh lớp tế bào hạt của nang
trực tiếp theo hướng cái hoặc đực.
- Các loài biệt hóa gián tiếp thì tuyến sinh dục biệt hóa theo hướng cái, đực
thông qua mầm tuyến sinh dục lưỡng tính nguyên thủy.
Hormon sinh dục là các yếu tố cảm ứng của cá xương. Tuy nhiên, sự
biệt hóa tuyến sinh dục bằng cơ chế di truyền thông qua hệ thống nội tiết tố
của phôi trong quá trình biệt hóa, các yếu tố bên trong và bên ngoài có thể làm
20
thay đổi giới tính đã được biệt hóa về mặt duy truyền của phôi (Trịnh Đình
Đạt trích dẫn, 2002).
Theo Nguyễn Tường Anh (1998) cũng giống như ở động vật có vú
khác, sự kiểm soát giới tính ở đa số cá có bộ nhiễm sắc thể giới tính là XY
được chia thành 2 giai đoạn. Giai đoạn đầu được gọi là sự định đoạt giới tính
và giai đoạn sau là sự hình thành tuyến sinh dục hay biệt hóa giới tính.
Sự định đoạt giới tính xãy ra khi thụ tinh, do trứng được thụ tinh bởi
loại tinh trùng nào, loại mang nhiễm sắc thể X hay loại mang nhiễm sắc thể Y.
Một cách tương ứng, phôi cái hoặc phôi đực được hình thành.
Ở cá tuyến sinh dục được hình thành trong giai đoạn hậu phôi, sau khi
ấu trùng nở ra từ trứng (ở các lớp động vật có xương sống khác trừ cá và
lưỡng cư, giới tính hình thành trong quá trình phát triển phôi hoặc trong vỏ
trứng hoặc trong dạ con của mẹ). Do đó, người ta có thể dễ dàng can thiệp vào
giai đoạn này để đưa sự phát triển của tuyến sinh dục vào hướng mong muốn.
Đối với những cá bất thụ do bị cắt tuyến sinh dục thì androgen có khả
năng khôi phục giới tính đực còn estrogen không có khả năng khôi phục tính
cái. Việc dùng hormon để đổi giới tính ở cá có thể dẫn đến tỷ lệ sống thấp ở
giới tính đồng giao tử (XX hoặc ZZ) ở liều thích hợp thì cá đổi giới tính thuộc
họ cá chép và rô phi có thể lớn nhanh gấp đôi hoặc thậm chí gấp 3. Tuy nhiên,
ở những cá đổi giới tính thì khả năng sinh sản sẽ bị hạn chế.
Theo Phạm Thanh Liêm và ctv (2007) có 9 cơ chế xác định giới tính đã
biết được trên cá, trong đó có 8 kiểu giới tính được điều khiển bởi nhiễm sắc
đực hoặc gen cái nằm trên nhiễm sắc thể thường.
Mặc dù sự xác định giới tính chủ yếu được điều khiển bằng các yếu tố
di truyền, các nhân tố môi trường như: nhiệt độ, chu kỳ sáng, nồng độ muối và
mật độ quần thể có thể ảnh hưởng đến sự xác định giới tính ở cá. Khả năng
điều khiển sự xác định giới tính bằng trung gian là các tác động môi trường đã
được ứng dụng rất nhiều trong nghề nuôi cá. Việc sử dụng hormone để tạo ra
quần thể đơn tính cho nuôi thịt là một trong những hoạt động của lĩnh vực này.
2.7. Những thông số cơ bản khi điều khiển giới tính cá bằng steroid sinh
dục
Theo Nguyễn Tường Anh (1998) chỉ có thể đổi được giới tính của cá
khi cá non được xử lý một cách thích hợp. Những phần căn bản trong phương
pháp xử lý gồm loại hoạt chất cùng với liều lượng, cách đưa vào cơ thể cá,
ngoài ra còn có các yếu tố thời gian: Thời điểm bắt đầu và thời lượng xử lý.
Khi điều khiển giới tính cá bằng các hormon sinh dục khi dùng liều càng cao
thì tỷ lệ sống của cá được xử lý càng thấp.
Một hiện tượng có vẻ như nghịch lý là khi dùng các hormon sinh dục
đực có khả năng thơm hóa chẳng hạn testosteron thì hiệu quả đực hóa của
thuốc chỉ tăng cùng với sự tăng của liều xử lý đến một giá trị nhất định, vượt
quá nó thì sự tăng liều thuốc đực hóa làm cho tỷ lệ cái tăng lên. Có thể giải
thích hiện tượng này là ở liều cao quá ngưỡng một số hormon sinh đực được
chuyển hóa thành hormon sinh dục cái nhờ enzym aromataza (Nguyễn Tường
Anh, 1998).
22
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Vật liệu thí nghiệm
3.1.1. Vật liệu
- Bể kính
- Thước thẳng
- Kính hiển vi
+ Nghiệm thức 4: 90 mg MT/kg bột cá
Mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần. Thí nghiệm được bố trí trong bể
kính thể tích 45 L có sục khí. Hệ thống nuôi thí nghiệm gồm 12 bể kính 50 x
30 x 30 cm và mỗi bể chứa 20 L nước. Mật độ bố trí 45 con/bể.
Chăm sóc và cho ăn: Khi cá gần hết noãn hoàng (khoảng 4 ngày sau
nở) bắt đầu cho cá ăn bột cá có trộn hormone với các liều lượng tương ứng với
các nghiệm thức, cho ăn 4 lần/ngày ở các thời gian 7h30, 11h, 14h30, 17h.
Cách 1 lần cho ăn thay nước 1 lần, mực nước thay 50% lượng nước trong bể.
Sau khi cho cá ăn thức ăn có trộn hormone 21 ngày thì chuyển sang cho cá ăn
trùn chỉ và thức ăn viên dạng hạt nhỏ, cho ăn 3 lần/ngày cho đến lúc thu mẫu.
Cách trộn hormone vào bột cá:
+ Hòa hormon MT vào 110 ml cồn.
+ Phơi thức ăn ngoài nắng trong vài giờ cho bay hết hơi cồn trước
khi sử dụng.
+ Sau đó cho vào túi nylon, giữ lạnh cho cá ăn từ từ.
- Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng của 3 nồng độ hormon đến sự chuyển đổi giới
tính cá la hán-phương pháp ngâm
+ Nghiệm thức 1: nghiệm thức đối chứng
+ Nghiệm thức 2: 3 ppm
+ Nghiệm thức 3: 5 ppm
+ Nghiệm thức 4: 8 ppm.
Hệ thống thí nghiệm được bố trí trong bể kính có thể tích 65 L, có sục
khí. Mỗi bể chứa 30 L nước. Mật độ bố trí lúc đầu 150 con/bể.
Khi cá sắp hết noãn hoàng, bố trí cá ra bể kính đã được cho trứng nước
sẵn, khi cá được 14 ngày tuổi bắt đầu ngâm cá trong hormone với các nồng độ
như trên. Trong thời gian ngâm hormone cho cá ăn bình thường, ngày cho ăn 3
lần bằng trứng nước. Sau khi xử lý hormone xong chuyển sang cho cá ăn trùn
chỉ, chế độ chăm sóc giống như thí nghiệm 1.
3.3. Phương pháp thu thập, tính toán và xử lý số liệu
3.2.1. Xác định sự tăng trưởng của cá
đối cao. Tuy nhiên, sự khác biệt về tỷ lệ sống giữa các nghiệm thức không có
ý nghĩa thống kê (p<0.05).
Bảng 1: Tỷ lệ sống của cá 25 và 82 ngày tuổi
Tỷ lệ sống (%)
ĐC 30 mg 60 mg 90 mg
25 ngày tuổi 83.70±4.63
a
84.44±3.85
a
88.15±1.28
a
82.96±2.56
a
82 ngày tuổi 70.37±9.25
a
72.59±3.40
a
74.07±7.14
a
71.11±2.22
a
Ghi chú: Giá trị trong bảng trên là giá trị trung bình và độ lệch chuẩn
Giá trị có cùng chữ cái trong một hàng khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p<0.05)
83.7
84.44
88.15
82.96
70.37
72.59