Thiết kế phẳng khác thiết kế mô
phỏng như thế nào?
Trong nhiều tháng nay có thể bạn đã nghe nhiều về cụm từ thiết kế phẳng (Flat
Design) khi nó được cho là thay đổi lớn nhất trên iOS 7 sắp ra mắt.
Để giải thích cho triết lý thiết kế này, nhiều người gắn liền nó với giao diện Metro UI
trên Windows 8nhưng phần lớn chúng ta vẫn chưa hiểu rõ cũng như tại sao nó lại trở
thành xu hướng thiết kế hiện tại. Thiết kế phẳng nhấn mạnh vào sự đơn giản tối đa và đi
ngược lại hoàn toàn so với triết lý thiết kế mô phỏng (Skeuomorphic ) đề cao cái đẹp và
đồ họa phức tạp. Thiết kế phẳng ra đời từ trước khi Microsoft phát triển Windows 8
nhưng không thể phủ nhận rằng Microsoft đã góp phần phổ biến nó rộng rãi hơn.
Thiết kế phẳng là gì?
Thiết kế phẳng (Flat Design) được coi là một triết lý thiết kế theo chủ nghĩa tối giản,
tức mọi thành phần đồ họa được làm cho đơn giản nhất với những đặc tính như màu sắc
rõ ràng, góc cạnh, không gian mở và tất cả được thể hiện dạng hai chiều.
Một ví dụ điển hình về giao diện phẳng mà bạn có thể thấy rõ nhất là Metro UI trên hệ
điều hành Windows 8 của Microsoft hoặc giao diện trên hệ điều hành Windows Phone. Ở
màn hình chính, bạn sẽ thấy một giao diện với những mảng màu tách biệt nhau hoàn
toàn, chúng không được thiết kế dạng ba chiều hay dạng mô phỏng (skeuomorphic) mà ở
đó sự đơn giản được đặt lên hàng đầu.
Triết lý thiết kế này ra đời gắn liền với phong cách tối giản (Minimalist) tuy nhiên sự đơn
giản không có nghĩa thiết kế phẳng gây nhàm chán cho người dùng. Trong tri
ết lý thiết kế
phẳng, những thành phần đồ họa đẹp mắt và chi tiết được xem như là không cần thiết.
Nếu một yếu tố nào đó coi như không có tác dụng thì nó sẽ gây rắc rối cho trải nghiệm
người dùng. Đây chính là lý do mà sự tối giản được đề cao trong thiết kế phẳng. Hơn thế
nữa, các màu sắc có độ tương phản cao sẽ gây sự chú ý tốt hơn và hướng mắt người dùng
tới vị trí đó.
Thiết kế mô phỏng là gì?
và hiệu quả hơn.
Những năm 1984 khi Apple giới thiệu giao diện đồ họa người dùng (GUI) đầu tiên thì
thiết kế mô phỏng bắt đầu được ứng dụng nhiều để giúp người dùng quen với các khái
niệm lạ lẫm trên máy tính (hãy nghĩ tới thư mục, desktop, thùng rác ) nhưng sau này,
khi máy tính đã quá phổ biến thì người ta không cần tới những mô phỏng để hiểu chức
năng của một biểu tượng hay một nút nào đó. Thiết kế mô phỏng bắt đầu trở nên thừa
thãi. Những người theo chủ nghĩa hiện đại cho rằng đừng nên thêm những chi tiết mà
không có chức năng gì vào trong một thiết kế ngày nay.
Những nguyên tắc của thiết kế phẳng
Cái tên thiết kế phẳng bắt nguồn từ hình dạng của nó, tức hai chiều và dạng phẳng đơn
thuần. Ý tưởng về triết lý này được hình thành mà không có các thành ph
ần bao gồm hiệu
ứng đổ bóng, góc xiên, đường gờ rập nổi, nền dạng hạt (không mịn) hoặc những công cụ
khác tạo chiều sâu cho thiết kế đó. Không có bất cứ thành phần nào bên trên được cho
vào trong thiết kế phẳng nhằm mục đích mô phỏng thực tế cả. Thiết kế phẳng không có
những hiệu ứng thêm vào.
Thiết kế phẳng sử dụng nhiều thành phần giao diện người dùng đơn giản như các nút
chức năng hay các biểu tượng chương trình (icon). Những nhà thiết kế chủ yếu dùng các
dạng hình phổ biến gồm hình chữ nhật, hình tròn hoặc hình vuông cho thiết kế phẳng,
điều này giúp chúng có thể đứng riêng bi
ệt với nhau. Không nhất thiết phải cắt góc vuông
mà những dạng hình trong triết lý thiết kế này có thể được uốn cong mềm mại. Người
dùng có thể dễ dàng chạm hoặc bấm vào những thành phần giao diện này mà không gặp
rắc rối gì, nó được làm cho trực quan để người dùng không có nhiều kiến thức về thiết kế
có thể hiểu được. Thành phần đơn giản được sử dụng chủ yếu trong thiết kế phẳng.
Vì tính đơn giản trong các thành phần thiết kế phẳng nên việc sắp xếp ký tự nghệ
thuật (Typography) cũng đặc biệt quan trọng. Kiểu typeface phải phù hợp với giao diện