Luận văn:
“Công tác xử lý tài sản bảo đảm tiền vay
của NHTM”
LỜI MỞ ĐẦU
Hoạt động cho vay luôn là một trong những hoạt động cơ bản có ý nghĩa đặc biệt quan trọng
đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi ngân hang. Đối với hầu hết các ngân hàng ,khoản mục
cho vay chiếm quá nửa giá trị tổng tài sản và tạo ra từ ½ đến 2/3 nguồn thu của ngân hang.
Đồng thời ,rủi ro trong hoạt động ngân hang có xu hướng tập trung vào danh mục các khoản
cho vay.Tình trạng khó khăn về tài chính của một ngân hang thường phát sinh từ các khoản
cho vay khó đòi,bắt nguồn từ một số nguyên nhân sau :Quản lý yếu kém ,cho vay không tuân
thủ nguyên tắc tín dụng,chính sách cho vay không hợp lý và tình trạng suy thoái ngoài dự kiến
của nền kinh tế.Vì thế , chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi ta thấy thanh tra ngân hang thường
xuyên kiểm tra cẩn thận danh mục cho vay của ngân hang.Và trong quá trình khách hang sử
dụng tiền vay của ngân hang , ngân hang không thể kiểm soát trực tiếp được các hoạt động của
nhiều yếu tố khách quan và chủ quan,có thể gặp khó khăn trong việc tră nợ ngân hang.Vì vậy
,một khoản vay dù được đánh giá tốt nhưng vẫn hàm chứa một mức độ rủI ro nhất định, nằm
ngoài khả năng phân tích và giám sát của ngân hang.
Như vậy để tránh rủi ro xảy ra trong hoạt động cho vay , các ngân hang thường quan tâm đến
vấn đề bảo đảm tiền vay.Tuy bảo đảm tiền vay không phảI là mục đích của ngân hang khi ra
quyết định cho vay nhưng nó có thể hạn chế được một phần nào rủi ro , nâng cao hiệu quả kinh
doanh cho ngân hang.Khi khách hang không trả được nợ cho ngân hang thì những tài sản bảo
ro vỡ nợ tương đối cao. Sự gia tăng trong thu nhập của người tiêu dung và sự cạnh tranh trong
cho vay đã hướng các ngân hang tới người tiêu dung như một khách hang tiềm năng .Bên cạnh
cho vay truyền thống là cho vay ngắn hạn , các ngân hang ngày càng trở nên năng động trong
việc tài trợ tín dụng trung và dài hạn cho các dự án như tài trợ xây dựng nhà máy , phát triển
ngành công nghệ cao…
Căn cứ theo hình thức bảo đảm thì có 2 loại : cho vay không có tài sản bảo đảm và cho
vay có tài sản bảo đảm . Cho vay không cần tài sản bảo đảm có thể được cấp cho những khách
hang có uy tín , thường là những khách hàng làm ăn thường xuyên có lãi , có tình hình tài
chính vững mạnh , ít xảy ra tình trạng nợ nần dây dưa hoặc món vay tương đối nhỏ so với vốn
của người vay . Trong trường hợp này , có thể nói uy tín , tình hình tài chính lành mạnh và khả
năng thành công của dự án của khách hang chính là những tài sản bảo đảm . Ngoài ra các
khoản cho vay theo chỉ thị của Chính phủ mà Chính phủ yêu cầu , các khoản cho vay đối với
các tổ chức tài chính lớn , các công ty lớn , hoặc những khoản cho vay trong thời gian ngắn mà
ngân hang có khả năng giám sát việc bán hang … cũng có thể không cần tài sản bảo đảm Trong những trường hợp còn lại , khi cho vay ngân hang thường yêu cầu khách hang phải
có tài sản bảo đảm . Lý do là khách hang luôn phải đối đầu với rủi ro trong kinh doanh , có thể
mất khả năng trả nợ cho ngân hang . Những biến cố không mong đợi có thể gây cho ngân hang
những tổn thất lớn , vì vậy mà ngân hang muốn có được nguồn tài trợ thứ hai khi nguồn trả nợ
thứ nhất là thu nhập từ hoạt động kinh doanh không bảo đảm trả nợ
Căn cứ theo kỳ hạn trả nợ : các khoản cho vay của ngân hàng có thể được phân loại thành
cho vay ngắn hạn , cho vay trung hạn và cho vay dài hạn . Cho vay ngắn hạn là khoản cho vay
từ 12 tháng trở xuống tài trợ cho tài sản lưu động ; cho vay trung hạn là khoản cho vay từ 1
năm đến 5 năm tài trợ cho các tài sản cố định như phương tiện vận tải , một số cây trồng vật
nuôi , trang thiết bị chống hao mòn ; cho vay dài hạn là khoản cho vay trên 5 năm tài trợ cho
công trình xây dựng như nhà , sân bay, đường , máy móc thiết bị có giá trị lớn và có thời gian
sử dụng lâu.
Việc xác định thời hạn trên cũng chỉ có tính chất tương đối vì nhiều khoản cho vay không
xác định trước được chính xác thời hạn. Tuy vậy , sự phân chia này có ý nghĩa quan trọng đối
Bảo đảm tiền vay được thực hiện dưới hai hình thức:
1. Bảo đảm tiền vay trong trường hợp cho vay không có bảo đảm bằng tài sản:
Khoản 2 Điều 3 Nghị định 178 đã quy định những biện pháp bảo đảm tiền vay trong trường hợp
cho vay không có bảo đảm bằng tài sản như sau:
- Ngân hàng chủ động lựa chọn khách hàng vay để cho vay không có bảo đảm bằng tài
sản.
Để thực hiện hính thức này, Ngân hàng cần phải xem xét tình hình tài chính, kinh
doanh, khả năng thanh toán, của khách hàng. Hình thức cho vay này dựa trên cơ sở tín nhiệm
trong quan hệ tín dụng đối với khách hàng.
- Ngân hàng được cho vay không có bảo đảm theo chỉ định của Chính phủ.
- Ngân hàng cho cá nhân, hộ gia đình nghèo vay có bảo lãnh bằng tín chấp của tổ chức
đoàn thể chính trị - xã hội.
Thông thường biện pháp bảo đảm tiền vay không có tài sản bảo đảm được áp dụng đối
với khu vực kinh tế quốc doanh. Hình thức này có nhiều ưu điểm: thúc đẩy mối quan hệ làm ăn
lâu dài giữa Ngân hàng và khách hàng, giảm bớt quy trình tín dụng khi thực hiện một món vay
nhưng đương nhiên là rủi ro lớn đối với Ngân hàng.
2.Bảo đảm tiền vay bằng tài sản: Đối với vấn đề bảo đảm tiền vay bằng tài sản, theo khoản 1 Điều 3 Nghị định 178, khi
vay vốn tại Ngân hàng, khách hàng có thể dùng tài sản bảo đảm cho khoản vay của mình theo
các phương thức:
- Cầm cố, thế chấp bằng tài sản của khách hàng vay
- Bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba
- Bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay.
Việc đảm bảo tiền vay bằng tài sản không chỉ mang lại cho Ngân hàng sự chứng thực
rằng Ngân hàng không bị mất hoàn toàn khoản vay mà còn cho Ngân hàng quyền ưu tiên khi
người vay thanh lý tài sản đó. Nếu giá trị vật bảo đảm vượt quá khoản vay, khi thanh lý do vỡ
nợ, khoản chênh lệch sẽ được trả lại cho người vay. Trong trường hợp vật bảo đảm không đủ
trả nợ, Ngân hàng có thể tịch biên thêm một số tài sản theo sự phán quyết của toà án.
- Tài sản phải có sẵn thị trường tiêu thụ : Tính dễ tiêu thụ của tài sản bảo đảm làm cho việc
xử lý tài sản nhanh , thu hồi nợ tốt .
- Tài sản đủ cơ sở pháp lý : Tài sản bảo đảm phải thuộc sở hữu hợp pháp của người đi vay
hoặc người bảo lãnh , được cho phép giao dịch , để bên cho vay dễ dàng xử lý để thu nợ
khi người vay không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ
Quy trình thực hiện bảo đảm tiền vay bằng tài sản 1.2.2 Các loại tài sản bảo đảm
1.2.2.1 Tài sản cầm cố
Tài sản cầm cố là tài sản mà khách hang vay chuyển quyền kiểm soát tài sản sang cho ngân
- Quyền đối với phần vốn góp trong doanh nghiệp , kể cả trong doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài.
- Quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên theo quy định của pháp luật.
- Tàu biển theo quy định của Bộ Luật Hàng hải Việt Nam , tàu bay theo quy định của Luật
hang không dân dụng Việt Nam trường hợp được cầm cố.
- Tài sản hình thành trong tương lai là động sản hình thành sau thời điểm ký kết giao dịch
cầm cố và sẽ thuộc quyền sở hữu của bên cầm cố như hoa lợi , lợi tức , tài sản hình thành
từ vốn vay , các động sản khác mà bên cầm cố có quyền nhận.
- Các tài sản khác theo quy định của pháp luật.
Lợi tức và các quyền phát sinh từ tài sản cầm cố cũng thuộc tài sản cầm cố , nếu các bên có
thoả thuận hoặc pháp luật có quy định , trường hợp tài sản cầm cố được bảo hiểm thì khoản
tiền bảo hiểm cũng thuộc tài sản cầm cố.
1.2.2.2 Tài sản thế chấp
Tài sản thế chấp là tài sản được người đi vay dung để bảo đảm cho khoản vay của mình tại
ngân hang bằng cách trao cho ngân hang giấy tờ sở hữu ( hoặc sử dụng ) các tài sản đó trong
thời gian cam kết và xác nhận cho ngân hang quyền phát mại tài sản khi khách hang không trả
đựơc nợ.
Nhiều tài sản của khách hang trở thành đảm bảo cho các khoản tài trợ của ngân hang song
vẫn phải tham gia vào quá trình hoạt động . Những tài sản này ngân hang không thể cầm cố .
Vì vậy đảm bảo bằng thế chấp rất phổ biến , đặc biệt đối với doanh nghiệp và người tiêu dung . Do giá trị của tài sản này thường lớn , vì vậy doanh nghiệp có thể vay ngân hang với quy mô
lớn.
Các tài sản dung làm tài sản thế chấp bao gồm:
- Nhà ở , công trình xây dựng gắn liền với đất , kể cả các tài sản gắn liền với nhà ở , công
trình xây dựng và các tài sản khác gắn liền với đất.
- Giá trị quyền sử dụng đất mà pháp luật về đất đai quy định được thế chấp.
- Tàu biển theo quy định của Bộ luật Hàng hải Việt Nam , tàu bay theo quy định của Luật
hang không dân dụng Việt Nam trong trường hợp được thế chấp.
Bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba là việc bên bảo lãnh cam kết với ngân hang về việc sử
dụng tài sản thuộc quyền sở hữu , giá trị quyền sử dụng đất của mình , đối với doanh nghiệp
Nhà nước là tài sản thuộc quyền quản lý , sử dụng để thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho khách
hang vay nếu đến hạn trả nợ mà khách hang vay không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ . Trong
trường hợp này , ngân hang có thể coi bên bảo lãnh là con nợ của mình . Do đó , tài sản của
bên bảo lãnh dung để bảo đảm nghĩa vụ bảo lãnh cho khách hang vay cũng tương tự như tài
sản sử dụng để cầm cố hoặc thế chấp.
Không phải bất cứ ai cũng có thể đứng ra bảo lãnh cho khách hang vay vốn của ngân hang
mà phải có điều kiện như sau để tránh rủi ro cho ngân hang :
- Có năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự.
- Có khả năng về vốn , tài sản để thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh.
- Tài sản phải có đủ điều kiện để tham gia bảo đảm tiền vay.
- Bên bảo lãnh phải sử dụng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo lãnh cho khách hang vay
vôn.
1.2.3 Điều kiện của tài sản bảo đảm tiền vay:
Theo Điều 5 Nghị định 165 và Điều 2 Mục 2 Chương II Thông tư 06 thì tài sản dùng để
bảo đảm cho khoản vay của khách hàng phải thoả mãn các điều kiện sau:
Trước hết, muốn dùng tài sản để cầm cố, thế chấp làm vật bảo đảm cho khoản nợ thì
khách hàng vay vốn phải có quyền sở hữu tài sản đó. Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu,
sử dụng và định đoạt. Khách hàng phải chứng minh quyền sở hữu của mình bằng các giấy tờ
sở hữu hợp pháp theo đúng quy định của pháp luật.
Thứ hai, tài sản đó phải được phép giao dịch, có nghĩa là tài sản mà pháp luật cho phép
hoặc không cấm mua, bán, tặng cho, chuyển đổi, chuyển nhượng, cầm cố, thế chấp, bảo lãnh
và các giao dịch khác. Đồng thời khi dùng tài sản để cầm cố thế chấp, tài sản đó phải được
đăng ký giao dịch bảo đảm theo Điều 10, 11, 12 của Nghị định 08 về đăng ký giao dịch bảo đảm. Người yêu cầu đăng ký giao dịch bảo đảm có thể là bên bảo đảm, bên nhận bảo đảm hoặc
người được uỷ quyền. Nội dung đơn yêu cầu phải có đầy đủ nội dung về bên bảo đảm, bên
nhận bảo đảm và phải mô tả rõ về tài sản bảo đảm.
Thứ hai : bên bảo đảm vi phạm hợp đồng tín dụng và bị tổ chức tín dụng thu hồi vốn trước
hạn song họ không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ vay trước hạn thì sẽ bị sử lý tài sản bảo đảm
để thu hồi nợ . Trong bất kỳ hợp đồng tín dụng và hợp đồng bảo đảm nào cũng để quy định rất
cụ thể về nghĩa vụ của các bên khi tham gia hợp đồng . Ví dụ như nghĩa vụ của bên vay là phải
sử dụng vốn vay đúng mục đích nhưng họ đã sử dụng vốn vay vào mục đích khác thì ngân
hang sẽ tiến hành thu hồi nợ trước hạn . Nếu bên bảo đảm không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì
ngân hang có quyền xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ .
Thứ ba : pháp luật quy định tài sản bảo đảm phải được xử lý để bên bảo đảm thực hiện nghĩa
vụ khác khi đã đến hạn . Một tài sản có thể cùng một lúc bảo đảm cho nhiều khoản nợ vay
nhưng giá trị của tài sản bảo đảm phải lớn hơn giá trị của tổng giá trị của khoản vay . Khi một
trong số những khoản vay có cùng tài sản bảo đảm đến hạn mà bên bảo đảm không thực hiện
nghĩa vụ trả nợ cho ngân hang thì ngân hang sẽ tiến hành bán tài sản bảo đảm để thu hồi nợ .
Thứ tư : khách hang vay là doanh nghiệp bị toà án tuyên bố phá sản , bị giải thể theo quyết
định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền , khi đó dù nghĩa vụ trả nợ tuy chưa đến hạn cũng
được coi là đến hạn , nếu khách hang không trả được nợ thì ngân hang sẽ xử lý tài sản bảo đảm
để thu hồi nợ .
Ngoài ra còn có các trường hợp khác do các bên thoả thuận hoặc pháp luật quy định như
đối với doanh nghiệp hợp nhất , sáp nhập , chuyển đổi , cổ phần hoá ; tài sản bảo đảm cho các
khoản nợ của doanh nghiệp trước khi hợp nhất , sáp nhập , chuyển đổi , cổ phần hoá được tiếp
tục dung làm tài sản bảo đảm cho các khoản nợ đó của các doanh nghiệp mới sau khi hợp nhất
, sáp nhập , chuyển đổi , cổ phần hoá . Trường hợp doanh nghiệp mới sau khi không thực hiện
được biện pháp này , thì tổ chức tín dụng có quyền xử lý tài sản bảo đảm tiền vay để thu hồi nợ
trước khi thực hiện nghĩa vụ chia , tách , hợp nhất , sáp nhập , chuyển đổi , cổ phần hoá.
Tuy nhiên không phải lúc nào khách hang không trả được nợ là ngân hang tiến hành xử lý
tài sản ngay mà ngân hang vẫn tiếp tục xem xét khả năng trả nợ của khách hang và cho gia hạn
nợ nếu xét thấy khách hang vẫn có khả năng thanh toán . Thậm chí ngân hang có thể cấp thêm
vốn cho khách hang để tiếp tục duy trì sản xuất nếu dự án còn khả thi và nguyên nhan là do
khách hang thiếu vốn để sản xuất . Mục tiêu của ngân hang không phải là bất nợ khách hang
mà cố gắng tối đa để khách hang trả được nợ cho khách hang.
Khi ngân hang buộc phải xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ, thời điểm xử lý được áp
Quá trình xử lý tài sản bảo đảm các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm tạo
điều kiện , hỗ trợ các bên xử lý tài sản bảo đảm tiền vay để thu hồi nợ cho ngân hang . Việc
xử lý tài sản bảo đảm tiền vay là biện pháp để thu hồi nợ , không phải là hoạt động kinh
doanh tài sản của ngân hang. c. Tuân thủ nguyên tắc công khai , nhanh chóng , thuận tiện.
Việc xử lý tài sản bảo đảm phải tuân thủ nguyên tắc công khai , thủ tục đơn giản , thuận
tiện , nhanh chóng , bảo đảm quyền , lợi ích của các bên và tiết kiệm chi phí.
Trong trường hợp chủ sở hữu tài sản bảo đảm bị khởi tố về một hành vi phạm tội không
liên quan đến việc vay vốn của ngân hang hoặc không liên quan đến nguồn gốc hình thành tài
sản bảo đảm , thì tài sản bảo đảm của người đó không bị kê biên và được xử lý.
Khi ký kết hợp đồng bảo đảm , các bên thoả thuận phương thức xử lý tài sản khi bên bảo
đảm không trả được nợ vay theo hợp đồng tín dụng đã cam kết . Trong trường hợp các bên
không xử lý được tài sản bảo đảm theo phương thức đã thoả thuận , thì ngân hang có quyền
chủ động áp dụng các phương thức xử lý tài sản bảo đảm.
Các bên có thể thoả thuận sửa đổi , bổ sung hoặc thoả thuận mới về việc xử lý tài sản bảo
đảm và việc thoả thuận này phải lập thành văn bản.
1.3.2.3 Các phương thức xử lý tài sản bảo đảm
Các phương thức xử lý tài sản để thu hồi nợ cho các ngân hang bao gồm :
- Là bán các tài sản bảo đảm : bán tài sản bảo đảm là việc các ngân hang hoặc bên bảo đảm
hoặc các bên phối hợp để bán tài sản trực tiếp cho người mua hoặc uỷ quyền cho bên thứ
ba bán tài sản cho người mua . Hợp đồng bán tài sản được thành lập văn bản giữa bên
bán tài sản bảo đảm và bên mua tài sản bảo đảm.
Trong trường hợp các bên thỏa thuận thực hiện phương thức bán tài sản bảo đảm tiền vay
thì bên được bán tài sản có thể là khách hang vay hoặc bên bảo lãnh bán , ngân hang bán ,
hai bên phối hợp cùng bán , uỷ quyền cho bên thứ ba bán . Bên được bán tài sản có thể
trực tiếp bán cho người mua , uỷ quyền cho trung tâm bán đấu giá tài sản hoặc doanh
nghiệp bán đấu giá tài sản thực hiện việc bán tài sản bảo đảm tiền vay.
- Là nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm :
trong phạm vi được uỷ quyền.
Các ngân hang sẽ lập biên bản nhận các khoản tiền , tài sản giữa ngân hang , bên bảo đảm
và bên thứ ba . Biên bản nhận các khoản tiền , tài sản phải ghi rõ việc bàn giao , tiếp nhận
các khoản tiền , tài sản , việc định giá tài sản và thanh toán nợ từ việc xử lý tài sản.
Trong trường hợp bên thứ ba không giao các khoản tiền , tài sản nói trên theo yêu cầu của
ngân hang thì ngân hang có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng thủ
tục buộc bên thứ ba phải giao tài sản hoặc khởi kiện ra toà án.
1.3.2.4 Các thủ tục khi xử lý tài sản bảo đảm
Trước khi xử lý tài sản bảo đảm , các ngân hang phải thực hiện những thủ tục sau :
Bước 1 : Thông báo cho bên bảo đảm về việc xử lý tài sản bảo đảm Thông báo bằng văn bản cho bên bảo đảm về việc xử lý tài sản bảo đảm và đăng ký thông báo
yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm ( nếu
giao dịch bảo đảm đó đã được đăng ký ).
Văn bản thông báo xử lý tài sản bảo đảm có các nội dung chủ yếu sau đây :
- Lý do xử lý tài sản bảo đảm
- Giá trị nghĩa vụ đươc đảm bảo
- Loại tài sản xử lý : đặc điểm , chất lượng , số lượng
- Thời điểm xử lý tài sản bảo đảm
- Thời hạn và địa điểm chuyển giao tài sản bảo đảm ( nếu có )
Cùng lúc đó , các ngân hàng cũng ấn định thời điểm xử lý tài sản bảo đảm trong thông báo xử
lý tài sản bảo đảm , nhưng không được sớm hơn 15 ngày kể từ ngày đăng ký thông báo yêu cầu
xử lý tài sản bảo đảm tại cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm . Đối với giao dịch bảo đảm
không phải đăng ký hoặc chưa đăng ký do cơ quan đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm chưa
hoạt động , thì thời hạn nêu trên được tính từ ngày ngân hang gửi thông báo xử lý tài sản cho
bên bảo đảm . Trong trường hợp tài sản bảo đảm có nguy cơ dễ hư hỏng thì ngân hang được xử
lý tài sản ngay sau khi thông báo xử lý tài sản bảo đảm.
Bên bảo đảm phối hợp với ngân hang thực hiện các biện pháp chuẩn bị cho việc xử lý tài
sản bảo đảm như bàn giao tài sản bảo đảm cho ngân hang, bàn giao giấy tờ có liên quan đến tài
bảo đảm tại thời điểm xử lý tài sản và lâp biên bản thoả thuận việc định giá tài sản . Trường
hợp các bên không thoả thuận được về giá xử lý tài sản bảo đảm thì trước khi tổ chức tín
dụng quyết định gía xử lý tài sản bảo đảm , tổ chức tín dụng thuê tổ chức tư vấn , tổ chức
chuyên môn xác định giá hoặc tham khảo giá đã được tổ chức tư vấn , tổ chức chuyên monn
xác định giá thực tế tại địa phương vào thời điểm xử lý , giá quy định của nhà nước ( nếu có )
và các yếu tố khác về giá.
Bước 3 : Ngân hang lựa chọn phương thức xử lý tài sản bảo đảm
Trong trường hợp các bên thoả thuận thực hiện phương thức bán tài sản bảo đảm tiền vay thì
bên được bán tài sản có thể là khách hang vay hoặc bên bảo lãnh bán , ngân hang bán , hai
bên phối hợp cùng bán , uỷ quyền cho bên thứ ba bán. Bên được bán tài sản bảo đảm có thể
trực tiếp bán cho người mua , uỷ quyền cho Trung tâm bán đấu giá tài sản hoặc doanh nghiệp
bán đấu giá tài sản thực hiện việc bán tài sản bảo đảm tiền vay.
Tuỳ theo từng điều kiện cụ thể , các ngân hang có quyền thực hiện xử lý tài sản bảo
đảm tiền vay như theo các hình thức trực tiếp bán cho người mua hoặc uỷ quyền việc bán đấu
giá tài sản cho Trung tâm bán đấu giá tài sản hoặc doanh nghiệp bán đấu giá tài sản theo quy định của pháp luật về bán đấu giá tài sản hoặc uỷ quyền hoặc chuyển giao cho tổ chức có
chức năng được mua bán tài sản để bán.
Trong trường hợp ngân hang nhận chính tài sản bảo đảm tiền vay để thay thế cho nghĩa
vụ trả nợ thì tài sản đó được chuyển quyền sở hữu cho ngân hang . Đối với trường hợp bên
thứ ba có nghĩa vụ trả tiền hoặc tài sản cho khách hang vay , bên bảo lãnh thì ngân hang được
trực tiếp nhận các khoản tiền hoặc tài sản từ bên thứ ba.
Trong thời gian tài sản bảo đảm tiền vay chưa xử lý được , ngân hang được quyền khai
thác , sử dụng tài sản bảo đảm .Số tiền thu được từ việc khai thác , sử dụng tài sản bảo đảm
sau khi trừ các chi phí cần thiết , hợp lý cho việc khai thác , sử dụng tài sản sẽ được dung để
thu hồi nợ.
Quá trình xử lý tài sản bảo đảm nếu các bên có tranh chấp và khởi kiện , thì tài sản bảo
đảm tiền vay được xử lý theo bản án có hiệu lực pháp luật của Toà án hoặc quyết định của cơ
quan Nhà nước có thẩm quyền.
Theo quy định hiện nay , việc thanh toán thu nợ phải được tiến hành theo thứ tự . Đầu tiên là
thanh toán cho các chi phí bảo quản , quản lý , định giá , quảng cáo bán tài sản , bán tài sản ,
tiền hoa hồng , chi phí , lệ phí bán đấu giá và các chi phí cần thiết , hợp lý khác liên quan đến
xử lý tài sản bảo đảm. Tiếp đó là thanh toán các khoản thuế và các khoản phí nộp ngân sách
nhà nước ( nếu có ). Sau cùng mới đến thanh toán cho các khoản nợ gốc , lãi vay , lãi quá hạn
tính đến ngày bên bảo đảm hoặc bên giữ tài sản giao tài sản cho ngân hang để xử lý.
Trong trường hợp ngân hang ứng trước để thanh toán các chi phí xử lý tài sản hoặc các
khoản thuế , phí nộp ngân sách nhà nước , thì ngân hang sẽ được thu hồi lại số tiền ứng trước
này trước khi thanh toán nợ gốc , lãi vay , lãi quá hạn , trừ trường hợp bên bảo đảm đã thanh
toán lại số tiền ứng trước cho ngân hang.
Trong trường hợp số tiền thu được khi bán tài sản và các khoản thu từ việc khai thác , sử
dụng tài sản bảo đảm trong thời gian chưa xử lý ( sau khi trừ đi các chi phí cần thiết cho việc
khai thác , sử dụng tài sản ) lớn hơn số nợ phải trả , thì phần chênh lệch thừa được trả lại cho
bên bảo đảm . Bên bảo đảm có nghĩa vụ tiếp tục trả nợ nếu khoản tiền thu được không đủ để
thanh toán khoản nợ phải trả và những chi phí liên quan đến việc xử lý tài sản bảo đảm.
Trường hợp ngân hang nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa
vụ hoặc nhận các khoản tiền và tài sản mà bên thứ ba phải giao cho bên bảo đảm , thì phần
chênh lệch thừa giữa giá xử lý tài sản bảo đảm và các khoản thu từ việc khai thác , sử dụng
tài sản bảo đảm trong thời gian chưa xử lý ( sau khi trừ đi các chi phí cần thiết cho việc khai
thác , sử dụng tài sản ) với số nợ phải trả được trả lại cho bên bảo đảm . Bên bảo đảm có nghĩa vụ tiếp tục trả nợ nếu các khoản thu trên nhỏ hơn số nợ gốc , lãi , lãi quá hạn và các chi
phí liên quan đến việc xử lý tài sản bảo đảm.
Đối với những tài sản bảo đảm bên mua không có khả năng thanh toán ngay để trả nợ ,
các ngân hang được áp dụng phương thức thu nợ từ từng phần theo khả năng thanh toán của
người mua . Ngân hang xác định số nợ gốc , lãi , lãi quá hạn và các chi phí phải thu tính đến
ngày ngân hang tiếp nhận tài sản bảo đảm.
Trong trường hợp một tài sản được sử dụng đê bảo đảm cho nhiều nghĩa vụ tại một ngân
hang , nếu phải xử lý tài sản để thực hiện một nghĩa vụ trả nợ đến hạn , thì các nghĩa vụ trả
vay cũng như xử lý các tài sản bảo đảm của khác hang nên ngân hang có thể coi là nhân tố
mang tính quyết định va có ảnh hưởng đến hiệu quả của công tác xử lý tài sản bảo đảm.Chính
vì thế các nhân tố liên quan đến ngân hang la những nhân tố chủ quan ảnh hưởng rất lớn đến
công tác xử lý tài sản bảo đảm cụ thê :
a Chất lượng nhân sự của ngân hang
Để có thể định giá , xả lý tài sản bảo đảm một cách thành công và có hiệu quả thì
năng lực , trình độ cán bộ tín dụng là điều cần phải xem xét đến đầu tiên . Chỉ có những cán bộ
tín dụng có năng lực và trình độ chuyên môn mới biết được đâu là những khách hang có uy tín
, có khả năng trả nợ ; đâu là những dự án đầu tư đem lại hiệu quả kinh tế cao.Từ đó , các ngân
hang mới có thể đưa ra quyết định cho vay hay không , nếu cho vay thì với số tiền là bao nhiêu
, lãi suất , thời hạn cho vay và các điều kiện khác.
Đặc biệt đối với những khoản có tài sản bảo đảm thì càng đòi hỏi năng lực và trình độ
của cán bộ tín dụng phải càng cao .Hơn nữa , nếu cán bộ tín dụng có khả năng phân tích tình
hình biến động của thị trường sẽ giúp cho việc định giá tài sản bảo đảm được chính xác , không
gây ảnh hưởng cho ngân hang khi xử lý tài sản để thu hồi nợ.
Bên cạnh chuyên môn giỏi thì đạo đức của cán bộ tín dụng cũng là một nhân tố ảnhhưởng quan
trọng đến công tác xử lý tài sản bảo đảm . Đây là vấn đề rất cần được quan tâm bởi vì môi
trường làm việc của ngân hang luôn tiếp xúc với nền tiền nên dễ làm con người sa ngã , dẫn
đến tình trạng móc ngoặc giữa cán bộ tín dụng và khách hang để rút tiền của ngân hàng.
Nếu cán bộ tín dụng đánh giá không đúng giá trị thực của tài sản bảo đảm , cho khách hang
vay một số tiền lớn hơn so với giá trị thât của tài sản bảo đảm thì sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng
đến công tác xử lý tài sản bảo đảm sau này nếu khoản nợ đó không có khả năng được hoàn trả
.Do vậy , các cán bộ tín dụng cần có đầy đủ năng lực cũng như đạo đức thì mới đem lại hiệu
quả cao cho hoạt động kinh doanh của ngân hang.
b. Thông tin về tài sản bảo đảm Thực tế chứng minh rằng , việc tập hợp những dữ liệu thông tin đầy đủ chính xác của khách
hang vay và phân tích khoa học những thông tin đó sẽ tạo điều kiện nâng cao hiệu quả công tác
tín dụng , bảo đảm an toàn nợ vay cũng như xử lý tài sản để thu hồi nợ vay trong trường hợp
thuộc rất nhiều vào thái độ của khách hang . Nếu khách hàng có thiện chí , tôn trọng và
hợp tác với ngân hàng để đưa ra các biện pháp xử lý tài sản bảo đảm se dễ dàng hơn
.Ngược lại , nếu khách hàng cố tình gây khó khăn cho ngân hang như chây ỳ , không tự
nguyện bàn giao tài sản cho ngân hang , đe doạ đến sức khoẻ và tính mạng của cán bộ
ngân hang khi làm nhiệm vụ phát mại tài sản của họ thì việc thu nợ của ngân hang sẽ bị
kéo dài , tốn thêm nhiều chi phí.
- Ngài ra công tác xử lý tài sản bảo đảm cũng chịu nhiều anh hưởng bởi môi trường pháp
lý . Các đường lối , chủ trương , chính sách phát triển trong mỗi thời kỳ của Đảng và Nhà
nước sẽ tác động đến việc sử dụng các biện pháp bảo đảm tiền vay cũng như cơ chế xử lý
những tài sản bảo đảm đó.
- Tài sản bảo đảm được coi như là nguồn tài trợ thứ hai khi khách hang không đủ khảnăng
để trả khoản nợ ban đầu . Các ngân hang thường bán các tài sản bảo đảm đó đi để bù đắp
vào khoản vốn đã mất . Tài sản càng dễ bán thì chi phí bán càng thấp , vốn thu lại càng
nhanh. Điều này phụ thuộc rất nhiều vào môi trường kinh tế hiện tại.Môi trường kinh tế
dù theo chiều hướng nào cũng đều tác động đến hoạt động của ngân hang. Ví dụ như việc
phát triển kinh tế theo từng lĩnh vực và khuyến khích mở rộng ngành nghề nào sẽ khiến
cho các ngân hang có thể bán được tài sản bảo đảm thuộc về ngành nghề và lĩnh vực đó
.Hay như vấn đề về nhu cầu và thị hiếu của dân chúng đến việc phát triển các thị trường
thế chấp như thị trường bất động sản , thị trường đất đai và một số tài sản khác tạo điều
kiện cho các ngân hang xử lý tài sản thế chấp được dễ dàng hơn…
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XỬ LÝ TÀI SẢN BẢO ĐẢM TIỀN VAY TẠI NHNT THÀNH
CÔNG
2.1 Tổng quan về NHNT Thành Công
2.1.1 Cơ cấu tổ chức và mạng lưới hoạt động
NHNT Thành Công có tổng số 105 cán bộ công nhân viên chức làm việc tại chi nhánh,3
Kinh
doanh
dịch vụ
Phòng
Ngân
quỹ
Phòng
quản lý
rủi ro
Phòng
kế toán
thanh
to
án
Phòng
tổng
hợp
Phòng
Hành
chính
nh
â
n s
ự
Phòng
kiểm
tra nội
b