Chuyên đề tốt nghiệp: Kế toán chi phí và tính giá thành Công ty Cổ phần Sông Đà 909 - Pdf 11

lời nói đầu
Trong giai đoạn hiện nay, Việt Nam đang bớc vào thời kỳ Công nghiệp
hoá - hiện đại hoá với tốc độ phát triển nhanh của nhiều ngành nghề. Một
trong các ngàng phát triển nhanh và mạnh là ngành xây dựng cơ bản. Xây
dựng cơ bản là một ngành sản xuất ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế
quốc dân, tăng cờng quốc phòng cho đất nứơc. Nó đã góp phần quan trọng vào
giai đoạn phát triển mới của đất nớc
Ngành xây dựng cơ bản dùng nguồn vốn khá lớn trong tổng chi ngân
sách nhà nớc nên trong quản lý kinh tế viêc quản lý chi phí trong xây dựng cơ
bản là vấn đề cần đợc hết sức quan tâm.
Thực tế hiện nay, cùng với yêu cầu quản lý kinh tế ngày càng cao hạch
toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp xây
lắp-Một ngành sản xuất có đặc thù riêng, vấn đề đặt ra làlà quản lý nguồn vốn
lớn và bỏ ra trong thời gian dài, khắc phục đợc tình trạng thất thoát và lãng phí
trong quá trính sản xuất, giảm chi phí hạ giá thành sản phẩm từ đó nâng cao đ-
ợc tính cạnh tranh của doanh nghiệp. Chính vì vậy, tổ chức công tác kế toán
chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là một vận hành kế toán và có ý
nghĩa lớn đối với doanh nghiệp xây lắp nói riêng và xã hội nói chung.
Nhận thức đợc tầm quan trọng của vấn đề trên, sau thời gian thực tập
tại công ty Cổ phần Sông Đà 909, đợc sự gúp đỡ của cô giáo ThS. Nguyễn Thị
Hoà và các anh chị phòng Tài chinh- Kế toán của công ty em đã đi sâu tìm
hiểu và lựa chọn đề tài:Tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành
sản phẩm tại Công ty Cổ phầm Sông Đà 909 cho chuyên đề tốt nghiệp của
mình. Nội dung cơ bản của chuyên đề gồm 3 chơng:
Chơng 1: Những vấn đề lý luận chung về kế toán chi phí xuất và tính
giá thành sản phẩm tại công ty Cổ phần Sông Đà 909.
Chơng 2: Tình hình thực tế về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành
sản phẩm tại công ty Cổ phần Sông Đà 909.
Chơng 3: Một số ý kiên nhận xét và đề xuất nhằm hoàn thiện công tác
kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần Sông
Đà 909.

hạch toán chi phí, tinh giá thành và tính kết quả thi công cho từng loại sản
phẩm xây lắp riêng biệt (từng công trình, hạng mục công trình, từng nhóm sản
phẩm xây lắp nếu chúng đợc xây dựng theo cùng một thiết kế mẫu và trên một
cùng một địa điểm nhât định).
Sinh viên: Nguyễn Quốc Chởng lớp k3921.10
Mỗi công trình xây dựng gắn liền với vị trí địa lý nhất định, nó đợc cố
đinh tại nơi sản xuất (thi công) còn các điều kiện sản xuất khác nhau nh : Lao
động, vật t thiết bị luôn phải di chuyển theo mặt bằng và vị trí thi công. Do
đó sẽ phát sinh một số chi phí cần thiết khách quan nh. Chi phí điều động
nhân công, điều động máy thi công, chi phí xây dựng các công trình tạm phuc
vụ công nhân và thi công nhân kế toán phải phản ánh chính xác các chi phí
này và tổ chức phân bổ hợp lý. Hơn nữa, mặt bằng thi công thờng nằm rải rác
khắp nơi và cách xa trụ sở đơn vị nên tồn tại một khoảng cách lớn giữa nơi
trực tiếp phát sinh chi phí và nơi hạch toán chi phí gây khó khăn cho công tác
kế toán xây lắp nếu không quản lý chặt chẽ dân tới sơ hở, lãng phí lớn.
Quá trình sản xuất sản phẩm xây dựng lại tiến hành ngoài trời, chịu ảnh
hởng của nhân tố khách quan nh thời tiết, khí hậu nên có thể gặp nhiều rủi
ro tạo nên những thiệt hại bất ngờ nh thiệt hại phá đi làm lại, thiệt hại ngừng
sản xuất. Nhng thiệt hại nay cần đợc tổ chức theo dõi chặt chẽ và phải có ph-
ơng pháp hạch toán phù hợp vơi những nguyên nhân gây ra.
Phơng thc tiêu thụ sản phẩm cũng rất đặc biệt. Sản phẩm xây dựng đợc
đánh giá và xác định là tiêu thụ trớc khi trớc khi tiến hành thi công xây lắp, do
đó sảm phẩm xây lắp mang tính chất tiêu thụ trớc nên tính chất hàng hoá của
no thể hiện không rõ.
Từ nhng đặc điểm trên đòi hỏi công tác kế toán vừa phải đáp ứng yêu
cầu chung về chức năng nhiệm vụ kế toán của một doanh nghiệp san xuất
vừa phải đảm bảo phù hợp với đặc tính riêng của doanh nghiệp xây lắp. Từ đó
cung cấp số liệu chinh xác, kịp thời đánh giá đúng tình hình kế hoạch sản xuất
kinh doanh, cố ván cho lãnh đạo trong việc tổ chức quản lý để đạt hiệu quả
cao trong sản xuất kinh doanh.

giá thành sản phẩm xây lắp.
-Tổ chức kế toán chi phí xây lắp theo đúng đối tợng và phơng pháp đã
đợc xác định trên sổ sách kế toán.
-Xác định đúng chi phí xây lắp dở dang làm căn cứ để tính giá thành.
-Thực hiện tính giá thành sản phẩm xây lắp hoàn thanh trong kỳ một
cách đầy đủ chính xác.
-Phân tích tình hình thực hiện định mác chi phí và giá thành xây lắp để
có quyết định trớc mắt và lâu dài phù hợp.
3. Lý luận chung về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp
3.1. Chi phí sản xuất và phân loại chi phí sản xuất
3.1.1. Khái niệm chi phí sản xuất
Sinh viên: Nguyễn Quốc Chởng lớp k3921.10
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, bất kỳ một doanh nghiệp lớn hay
nhỏ muốn sản xuất kinh doanh dều phải bỏ ra những chi phí nhất định. Chi
phí sản xuất xây lắp phát sinh từ hoạt động xây lắp. Hoạt động xây lắp cần
phải có vật t, lao động, máy móc, công cụ, dụng cụ (đây chính là t liệu lao
động) đối tợng lao động và sức lao động. Quá trình sản xuất là quá trình sử
dụng ba yếu tố đó dẫn đến các hao phí tơng ứng. Các hao phí về đối tợng lao
động , t liệu lao động hình thành nên hao phí lao động vật hoá, hao phí tiền l-
ơng, tiền công hình thành hình thành nên hao phí lao động sống. Trong nền
sản xuất hàng hoá, các hao phí trên đợc biểu hiện bàng tiền gọi là chi phí sản
xuất.
Vậy chi phí sản xuất của doanh nghiệp xây lắp là là biểu hiện bằng tiền
của của toàn bộ về lao động sống, lao động vật hoá và các chi phí khác mà các
doanh nghiệp đã bỏ ra để tiến hành sản xuất thi công trong một thời kỳ nhất
định.
Ngoài ra, chi phí sản xuất còn bao gồm một số khoản mà thực chất là
một phần giá trị mới sáng tạo ra (VD: các khoản trích theo lơng bảo hiểm xã
hội bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn; các loại thuế không đợc hoàn trả nh
thuế giá trị gia tăng không đợc khấu trừ, thuế tài nguyên).

thoại
-Chi phí bằng tiền khác: Là các chi phí bằng tiền không thuộc các yếu
tố chi phí trên mà doanh nghiêp đã chi cho hoạt động sản xuất kinh doanh.
Việc phân loại chi phí sản xuất theo nội dung, tính chất kinh tế giúp nhà
quản lý biết đợc kết cấu, tỉ trọng từng loại chi phí mà doanh nghiệp đã chi ra
trong quá trình sản xuất kinh doanh để lập đợc báo cáo chi phí sản xuất theo
yếu tố của bản Thuyết minh báo cáo tài chính phục vụ yêu cầu thông tin giá
thành sản phẩm và quản trị doanh nghiệp. Hơn nữa, cách phân loại này còn
giúp doanh nghiệp phân tích tình hình thực hiện dự toán chi phí và lập dự toán
chi phí cho kỳ sau.
3.1.2.2. Phân loại chi phí sản xuất theo mục đích, công dụng của chi
phí:
Theo cách phân loại này, căn cứ vào mục đích công dụng của chi phí
sản xuất để chia ra các khoản mục chi phí khác nhau, mỗi một khoản mục chi
phí chỉ bao gồm những chi phí có cùng mục đích và cùng công dụng, không
phân biệt chi phí đó có nội dung kinh tế nào. Vì vậy, cách phân loại này còn
gọi là phân loại chi phí theo khoản mục. Toàn bộ chi phí phát sinh phát sinh
trong kỳ đợc chia làm các khoản mục chi phí sau:
Sinh viên: Nguyễn Quốc Chởng lớp k3921.10
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Gồm toàn bộ giá trị nguyên vật liệu
sử dụng trực tiếp cho thi công công trình mà đơn vị xây lắp bỏ ra (vật liệu
chính, vật liệu phụ, các cấu kiện, các bộ phận kết cấu công trình, vật liệu luân
chuyển) tham gia cấu thanh thực thể công trình xây lắp hoặc giúp cho việc
hoàn thành khối lợng xây lắp. Chi phí này không bao gồm các thiết bị do chủ
đầu t ban bàn giao, không bao gồm chi phí về mặt vật t phục vụ máy thi công (
xăng, dầu)
-Chi phí nhân công trực tiếp: Gồm toàn bộ tiền lơng, tiền công phải trả
cho số ngày công lao động của công nhân trực tiếp thực hiện khối lợng công
tác xây lắp, công nhân phục vụ xây lắp, kể cả công nhân vận chuyển, bốc dỡ
vật liệu trong phạm vi mặt bằng thi công và công nhân chuẩn bị, kết thúc thu

trong xây dựng cơ bản là dự toán đợc cho từng đối tợng xây dựng theo các
khoản mục giá thành nên phơng pháp phân loại chi phí theo khoản mục là ph-
ơng pháp đợc sử dụng phổ biến trong các doang nghiệp xây dựng cơ bản.
Trên đây là các cách phân loại chi phí thờng dùng trong các doanh
nghiệp xây dựng cơ bản. Ngoai ra, trong kế toán quản trị ngời ta còn phân loại
chi phí thành định phí và biến phí, chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp.
3.2. Giá thành sản phẩm xây lắp và các loại giá thành :
3.2.1. Giá thành sản phẩm xây lắp :
Trong sản xuất chi phí chỉ là một mặt thể hiện sự hao phí. Để đánh giá
chất lợng sản xuất kinh doanh của cá tổ chức sản xuất kinh tế, chi phí sản xuất
phải đợc xem xét trong mối quan hệ chặt chẽ với kết quả sản xuất, đó cũng là
một mặt của quá trình sản xuất. Quan niệm so sánh đó hình thành nên khái
niêm giá thành sản phẩm.
Nh vậy, về bản chất, chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là hai khái
niệm giống nhau: Chúng đều là các hao phí về lao động và các chi phí khác
của doanh nghiệp. Tuy vậy giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm cũng
có sự khác nhau:
-Nói đến chi phí sản xuất là nói đến hao phí trong một thời kỳ, còn nói
đến giá thành sản phẩm là xem xét, đề cập đến mối quan hệ chi phí đối với
quá trình công nghệ chế tạo sản xuất tạo sản phẩm (và đã hình thành ). Đó là 2
mặt của một quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nh
trong doanh nghiệp xây lắp, để hoàn thành một sản phẩm xây lắp có thể phải
mất thời gian dài , một năm hoặc hơn nữa đó là đặc điểm của ngành xây dựng
-Về mặt lợng, chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có thể khác nhau
khi có sản phẩm sản xuất dở dang cuối kỳ hoặc đầu kỳ. Sự khác nhau về mặt
lợng và mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm thể hiện ở
công thức:
Z= D
đk
+ C - D

sản xuất, xây dựng, giá thành kế hoạch là mục tiêu phấn đấu của doanh
nghiệp, là căn cứ để sánh, phân tích, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch hạ
giá thành của doanh nghiệp
+Giá thành thực tế: Là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ chi phí thực tế hoàn
thành khối lợng xây lắp. Giá thành này đợc tính trên cơ sở số liệu kế toán về
chi phí sản xuất đã tập hợp đợc cho khối lợng xây lắp thực hiện trong kỳ. Giá
thành công trình lắp đặt không bao gồm giá trị thiết bị đa vào lắp đặt, bởi vì
thiết bị này do đơn vị chủ đầu t bàn giao cho doanh nghiệp nhân xây lắp.
So sánh các loại giá thành trên với nhau, ta có thể đánh giá đợc chất l-
ợng sản xuất thi công công trình và quản lý chi phí, quản lý giá thành của
doanh nghiệp xây lắp. Về nguyên tắc phải đảm bảo:
Giá thành dự toán > Giá thành kế hoạch > Giá thành thực tế
3.3. Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp :
Chi phí sản xuất là bêu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí lao động
sống, lao động vật hoá và những chi phí cần thiết khác mà doanh nghiệp phải
bỏ ra trong quá trình sản xuất trong một thời kỳ nhất định. Chi phí sản xuất sẽ
kết tinh dàn trong giá thành sản phẩm. Kết quả cuối cùng là doanh nghiệp có
đợc các công trình hoàn thành. Giá thành các công trình, hạng mục công trình
hoàn thành (sản phẩm xây lắp) là toàn bộ chi phí sản xuất tính cho công trình,
hạng mục công trình đó. Nh vậy, chi phí sản xuất cấu thành nên giá thành sản
phẩm, là cơ sở tính giá thành sản phẩm.
Sinh viên: Nguyễn Quốc Chởng lớp k3921.10
Chi phí sản xuất đều là biểu hiện bằng tiền của những hao phí về lao
động sống và vật hoá phát sinh trong quá trình sản xuất. Tuy nhiên, chi phí
sản xuất và giá thành sản phẩm lại có sự khác nhau thể hiện: Chi phí sản xuất
gắn lion với một thời kỳ nhất định, còn giá thành sản phẩm gắn với khối lợng
xây lắp hoàn thành đợc nghiệm thu và chấp nhận thanh toán. Nội dung chi phí
và giá thành do đó cũng có sự khác biệt.
-Xét trên gốc độ toàn doanh nghiệp, chi phí sản xuất bao gồm toàn bộ
chi phí phát sinh trong kỳ trong quá trình sản xuất thi công, trong khi giá

nguyên tắc, chuẩn mực, chế độ kế toán nói riêng.
-Đảm bảo phù hợp với yêu cầu, trình độ quản lý,trình độ kế toá của đơn
vị.
-Đảm bảo tính khoa học, đồng bộ và tự động hoá cao trong đó phải tính
đến độ tin cậy, an toàn và bảo mật.
-Trang bị đồng bộ cơ sở vật chất, đẩm bảo việc đáp ứng yêu cầu của
việc tổ chức kế toán trên máy, song phải tiết kiệm và hiệu quả.
-Đối với các doanh nghiệp áp dụng kế toán máy cần phải thực hiện một
số công việc để bắt đầu sử dụng phần mềm kế toán vào công tác kế toán ở
doanh nghiệp.
*Tổ chức bộ máy kế toán:
Phân công nhiệm vụ cụ thể, rõ rang chú trọng đến vấn đề quản trị ngời
dùng, phân quyền nhập liệu cũng nh các quyền khác.
*Tổ chức mã hoá và đăng nhập các đối tợng cần quản lý:
Đối với từng phần mềm kế toán, các đối tợng cần đăng nhập và mã hoá
có thể khác nhau song thông thờng các đối tợng sau cần đợc đăng nhập và mã
hoá: Danh mục chứng từ, danh mục tài khoản kế toán, danh mục khách hàng,
danh mục vật t sản phẩm hàng hoá, danh mục tài sản cố định, danh mục đối t-
ợng chi phí
*Tổ chức chứng từ kế toán:
Việc tổ chức chứng từ kế toán phải xây dựng hệ thống danh mục chứng
từ, tổ chức hạch toán ban đầu, tổ choc kiểm tra thông tin trong chứng từ kế
toán và tổ chức luân chuyển chứng từ cho phù hợp.
*Tổ chức hệ thống tài khoản kế toán:
Ngoài việc sử dụng hệ thống tài khoản trong chế độ kế toán hiện hành
cần phải xây dựng các tài khoản chi tiết theo yêu cầu sử dụng thông tin phục
vụ quản trị mọi bộ doanh nghiệp.
*Tổ chức hệ thống sổ, báo cáo kế toán:
Tổ chức hệ thống sổ, báo cáo kế toán tài chính, báo cáo kế toán quản trị
và đăng nhập hệ thống này trên phần mềm kế toán.

sinh chỉ liên quan trực tiếp đến một đối tợng tập hợp chi phí sản xuất.
Phơng pháp tập hợp: Chi phí phát sinh liên quan đến đối tợng nào thì
tiến hành tập hợp chi phí đó, tức là kế toán lấy số liệu ở chứng từ gốc liên
quan đến từng đối tợng tập hợp chi phí sản xuất và ghi thẳng cho đối tợng đó
mà không cần tính toán phân bổ.
4.2.2.2. Phơng pháp phân bổ gián tiếp :
Sinh viên: Nguyễn Quốc Chởng lớp k3921.10
Điều kiện áp dụng: Phơng pháp này chỉ áp dụng khi phát sinh liên quan
đến nhiều đối tợng tập hợp chi phí sản xuất, không thể tập hợp trực tiếp cho
từng đối tợng đợc.
Phơng pháp phân bổ: Khi các chi phí liên quan đến nhiều đối tợng tập
hợp chi phí sản xuất thì kế toán tiến hành tập hợp chi phí sản xuất chi tất cả
đối tợng chịu chi phí liên quan, sau đó sẽ tiến hành phân bổ cho từng đối tợng
theo công thức:
Ti
Ti
C
i
n
i
ì=


=1
C
C
i
: Chi phí sản xuất cho đối tợng thứ i

C

xuất kho.
-Trong điều kiện vật t không thể xác định cụ thể cho từng công trình,
hạng mục công trình thì tập hợp chung cuối kỳ hạhc toán tiến hành phân bổ
theo tiêu thức hợp lý: Có thể tỉ lệ với định mức tiêu hao
-Cuối kỳ hoặc khi công trình hoàn thành phải kiểm kê vật liêu cha sử
dụng hết ở các công trờng, bộ phận sản xuất để tính số vật liệu thực tế sử dụng
cho công trình, đồng thời phải đúng số liệu thu hồi ( nếu có) theo từng đối t-
ợng công trình.
-Kế toán phải sử dụng triệt để hệ thống định mức tiêu hao vật liệu áp
dung trong xây dựng cơ bản và phải tác động tích cực để không ngừng hoàn
thiện hệ thống định mức đó.
Để phản ánh chi phí nguyên vật liêu trực tiếp, kế toán sử dụng tài khoản
TK621- chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.
Tài khoản này đợc mở chi tiết cho từng công trình, từng khối lợng xây
lắp, các giai đoạn quy ớc đạt điểm dừng kỹ thật có dự toán riêng. TK621
không có số d cuối kỳ.
Sinh viên: Nguyễn Quốc Chởng lớp k3921.10
Sơ đồ kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Sinh viên: Nguyễn Quốc Chởng lớp k3921.10
TK liên quan
TK152,153
TK 621
TK 154
Giá thành thực tế vật liệu xuất kho

TK111,11
2
TK334
TK334
TK154
K/c CPNC
L ơng, phụ cấp phải trả CN

TK335
Trích tr ớc tiền l ơng nghỉ phép
TK111
Tiền công trả cho NC thuê ngoài
TK141(1413)
)
Thanh toán TƯ
TƯ KLXL nội bộ
Để phản ánh chi phí sử dụng máy thi công, kế toán sử dụng TK623
Chi phí sử dụng máy thi công. TK này dùng để tập hợp và phân bổ chi phí sử
dụng máy thi công phục vụ trực tiếp cho xây lắp và chỉ sử dụng để hạch tián
đối với những doanh nghiệp thực hiện xây lắp công trình theo phơng pháp thi
công hỗn hợp vừa thủ công, vừa kết hợp bằng máy.Trờng hợp doanh nghiệp
thực hiện xây lắp hoàn toàn bằng máy thi công thì không sử dụng tài khoản
này mà doanh nghiệp hạch toán chi phí xây lắp trực tiếp vào các tài khoản
TK621, 622, 627. Không hạch toán vào tài khoản này các khoản trích theo l-

lẫn nhau giữa các bộ phận trong nội bộ, quan hệ giữa đội máy thi công với
doanh nghiệp xây lắp là quan hệ thanh toán trong nội bộ doanh nghiệp, đợc
tiến hành hạch toán nh sau:
Đội máy thi công
Khi đợc doanh nghiệp thanh toán về ca máy hay khối lợng máy đã hoàn
thành, ghi:
Nợ TK 136- phải thu nội bộ (Nếu cha thu)
Nợ TK111,112 (Nếu đã thu)
Có TK152- Doanh thu nội bộ
Có TK 333 (3331) ( Nếu đã nộp thuế theo phơng
pháp khấu trừ)
Cuối kỳ, kết chuyển giá thành thực tế về ca máy hay hay khối lợng máy
đã hoàn thành, ghi:
Nợ TK 632- Giá vốn hàng bán
Có TK154
Doanh nghiệp xây lắp ghi:
Khi nhận ca hay khối lợng máy thi công đã hoàn thành do đội máy thi
công bàn giao, ghi:
Nợ TK623(6238)
Nợ TK133 (Nếu đợc khấu trừ thuế GTGT)
Có TK 336 (Nếu cha trả tiền)
Có TK111, 112 (Nếu đã trả tiền)
*Nếu Doanh nghiệp xây lắp không tổ chức đội may thiu công riêng biệt
hoặc có tổ chc kế toán riêng cho đội náy thi công:
Sơ đồ kế toán chi phí sử dụng máy thi công
Sinh viên: Nguyễn Quốc Chởng lớp k3921.10
TK 152,153,111
TK 111,112,331
TK334,111
TK623 TK154

4.2.3.4. Kế toán tập hợp chi phí sản xuất chung
Chi phí sản xuất chung là toàn bộ chi phí liên quan đến việc phục vụ
quản lý thi công phát sinh trong các bộ phận, tổ đội sản xuất kinh doanh ở
doanh nghiệp xây lắp: Kế toán chi phí sản xuất chung cần phải tôn trọng
những quy định sau:
-Phải tổ chức hạch toán chi phí sản xuất chung theo từng công trình,
hạng mục công trình, đồng thời phải chi tiết theo từng điều khoản quy định.
Sinh viên: Nguyễn Quốc Chởng lớp k3921.10
-Thờng xuyên kiểm tra việc các định mức chi phí sản xuất chung và các
khoản có thể giảm chi phí sản xuất chung.
-Khi thực hiện khoán chi phí sản xuất chung cho các đội xây dựng thì
phải quản lý tốt định mức đã giao khoán, từ chối không thanh toán cho các đội
nhận khoán số chi phí sản xuất chung ngoài định mức, bất hợp lý.
Để phẩn ánh chi phí sản xuất chung, kế toán sử dụng TK 627 chi phí
sản xuất chung. Tài khoản này đợc mở chi tiết cho từng đội xây lắp, từng
công trình, hạng mục công trình.
Bên nợ: Tập hợp chi phí sản sản xuất chung trong kỳ.
Bên có: Kết chuyển chi phí sản xuất chung vào bên nợ TK154.
*Tài khoản này không có số d và có 6 Tk cấp2:
+TK 6271 chi phí nhân viên đội sản xuất: Gồm tiền lơng, các khoản
phụ cấp phải trả nhân viên quản lý đội, tiền ăn giữa ca của nhân viên quản lý
và công nhâm xây lắp, các khoản trích theo lơng của toàn bộ công nhân viên.
+TK6272 chi phí nguyên vật liệu: Giá trị vật liệu dùng cho quản lý
đội xây dựng
+TK 6273 chi phí dụng cụ sản xuất: Giá trị thực tế công cụ, dụng cụ
xuất dùng cho quản lý đội xây dựng
+TK6274 chi phí khấu hao TSCĐ: Khấu hao TSCĐ dùnh cho quản lý
đội xây dựng
+TK6277 chi phí dịch vụ mua ngoài: ví dụ chi phí điện, nớc, sửa
chữa lớn TSCĐ thuê ngoài

Sản phẩm dở dang trong doanh nghiệp xây lắp có thể là công trình,
hạng mục công trình cha hoàn thành hay khối lợng xây lắp cha đợc chủ dầu t
nghiệm thu hoặc chấp nhận thanh toán:
Đánh giá sản phẩm dở dang là tính toán, xác định phần chi phí sản xuất
mà sản phẩm dở dang cuối kỳ phải chịu.
Sản phẩm dở dang trong xây dựng đợc xác định bằng phơng pháp kiểm
kê khối lợng cuối kỳ. Việc tính giá trị sản phẩm dở dang trong sản xuất xây
dựng phụ thuộc vào phơng thức thanh toán khối lợng công tác xây lắp hoàn
thành giữa ngời nhận thầu và ngời giao thầu.
Sinh viên: Nguyễn Quốc Chởng lớp k3921.10
K/c phân bổ cphí NCTT
K/c phân bổ cphí NVLTT
K/c phân bổ cphí SXC
K/c phân bổ cphí sử dụng máy thi công
TK 621
TK154
TK 622
TK627
TK 623
+Nếu sản phẩm xây lắp theo quy định bàn giao thanh toán sau khi đã
hoàn thành toàn bộ công trình hoặc hạng mục công trình cha bàn giao thanh
toán thì đợc coi là sản phẩm xây lắp dở dang. Toàn bộ chi phí sản xuất phát
sinh thuộc công trình, hạng mục công trình đó đều là chi phí của sản phẩm dở
dang. Khi công trình, hạng mục công trình hoàn thành bàn giao thanh toán thì
toàn bộ chi phí sản xuất đã phát sinh sẽ đợc tính vào giá thành công trình.
+Nếu những công trình hoặc hạng mục công trình đợc bàn giao thanh
toán theo từng giai đoạn xây dựng, lắp đặt thì những giai đoạn xây lắp dở dang
cha bàn giao thanh toán là sản phẩm dở dang.Chi phí sản xuất phát sinh trong
kỳ sẽ đợc tính một phần cho sản phẩm đởang cuối kỳ theo tỷ lệ dự toán công
trình theo công thức:

cuối kỳ theo mức độ
hoàn thành
+
4.4. Kế toán tính giá thành sản phẩm xây lắp
4.4.1. Đối tợng tính giá thành
Để đo lờng hiệu quả hoạt động của mình, các doanh nghiệp phải xác
định đúng, đủ, chính xác gía thành sản phẩm. Và công việc đầu tiên là phải
xác địng đợc đúng đối tợng tính giá thành sản phẩm. Với đặc điểm riêng của
ngành xây dựng cơ bản, đối tợng tính giá thành của sản phẩm xây lắp thờng
trùng với đối tợng hạch toán chi phí sản xuất. Do đó, đối tợng tính giá thành
sản phẩm xây lắp là từng công trình, hạng mục công trình hoàn thành.
4.4.2. Kỳ tính giá thành
Kỳ tính giá thành là khoảng thời gian mà doanh nghiệp thực hiện tính
giá thành . Kỳ tính giá thành trong doanh nghiệp xây dựng cơ bản phụ thuộc
vào đặc điểm tổ chức sản xuất, chu kỳ sản xuất và hình thức nghiệm thu bàn
giao khối lợng sản phẩm hoàn thành. Thông thờng, đối tợng có chu kỳ sản
xuất ngắn, kỳ tính giá thành đợc chọn là tháng, đối với doanh nghiệp xây dựng
có chu kỳ sản xuất dài thì kỳ tính giá thành là thời gian mà sản phẩm xây lắp
đợc hoàn thành nghiệm thu, bàn giao và thanh toán.
4.4.3.Phơng pháp tính giá thành
Căn cứ vào mối quan hệ giữa đối tợng kế toán chi phí sản xuất và đối t-
ợng tính giá thành sản phẩm, căn cứ vào đặc điểm và yêu cầu quản lý tổ chức
sản xuất để xác dịnh phơng pháp tính giá thành cho phù hợp.
Hiện nay, ở các doanh nghiệp xây lắp thờng áp dụng hai phơng pháp
sau:
*Phơng pháp tính gía thàn trực tiếp:
Theo phơng pháp này, giá thành thành sản phẩm là toàn bộ chi phí sản
xuất thực tế đã phát sinh đợc tập hợp cho sản phẩm đó sau khi đã tính chênh
lệch giá trị sản phẩm dở dang đầu kỳ và cuối kỳ. Phơng pháp này đợc áp dụng
chủ yếu trong doanh nghiệp xây lắp có đối tợng tập hợp chi phí sản xuất phù


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status