Đề tài: “Giải pháp khắc phục ô nhiễm môi trường trên sông Thị Vải-Đồng Nai”
1.1. KHÁI NIỆM, PHÂN LOẠI NGỌAI TÁC:
1.1.1. Khái niệm:
Ngoại tác là những hành động của các cá nhân hoặc doanh nghiệp làm ảnh
hưởng đến người khác, doanh nghiệp khác mà các cá nhân và doanh nghiệp này
không phải trả tiền hoặc không được trả tiền về những ảnh hưởng kia.
Ngoại tác là một trong những thất bại của thị trường.
1.1.2. Phân loại:
Ngoại tác tích cực: là ngọai tác có lợi đối với người khác.
Ví dụ: chủng ngừa ngăn chặn bệnh truyền nhiễm, phòng cháy, giáo dục, nâng
cấp nhà ở,…
Ngoại tác tiêu cực: là ngoại tác có hại đối với người khác.
Ví dụ: chất thải công nghiệp, khói thuốc lá, ô nhiễm và ùn tắc ôtô, hàng xóm ồn
ào,…
1.2. HẬU QUẢ CỦA NGOẠI TÁC:
- Việc phân bổ nguồn lực sẽ không hữu hiệu.
- Mức sản xuất và chi tiêu cho việc kiểm soát ngoại tác khó thực hiện đúng.
Ví dụ: Doanh nghiệp có thể bỏ ra chi phí để làm giảm bớt ô nhiễm môi trường.
Điều này có lợi cho xã hội nhưng lợi ích cá nhân không cao.
- Khi có ngoại tác tiêu cực thì chi phí xã hội biên lớn hơn chi phí cá nhân cận
biên và cân bằng thị trường sẽ làm gia tăng quá mức hàng hóa. Trong vấn đề nguồn
lực chung thì lợi ích xã hội cận biên nhỏ hơn lợi ích cá nhân cận biên.
1.3. KHẮC PHỤC NGOẠI TÁC TIÊU CỰC:
1.3.1. Nội bộ hóa ngoại tác:
Đây là giải pháp không cần có sự can thiệp của Chính phủ. Có nghĩa là hình
thành các đơn vị kinh tế có quy mô thích hợp để phần lớn hậu quả của hành vi ngoại
tác diễn ra trong khuôn khổ đơn vị đó.
Ví dụ: Chủ vườn táo trở thành người nuôi ong. Điều này chỉ có thể làm được
khi vườn táo đủ lớn để ong chỉ ở trong vườn táo.
1.3.2. Tổ chức hoạt động hợp tác của các cá nhân với nhau:
Trong một số trường hợp, mọi người có thể tự giải quyết được vấn đề ảnh
tình trạng ô nhiễm, xã hội phải so sánh giữa chi phí và ích lợi để quyết định loại hình
và mức độ ô nhiễm cho phép.
b. Đánh thuế Pigou:
Chính phủ ngăn cản các hoạt động không có hiệu quả về mặt xã hội bằng cách
điều chỉnh hành vi. Hoặc có thể ảnh hưởng ngoại tác thông qua sử dụng thuế Pigou.
Chính phủ có thể khắc phục ngọai tác tiêu cực bằng cách đánh thuế. Thuế đóng
vai trò là công cụ sửa chữa các ngọai tác tiêu cực gọi là thuế Pigou.
Các nhà kinh tế thường thích sử dụng thuế Pigou hơn so với việc sử dụng các
quy định khi giải quyết các vấn đề ô nhiễm, bởi vì nó có thể làm giảm ô nhiễm với chi
phí thấp nhất cho xã hội.
Thứ nhất, họ chỉ ra rằng thuế có tác dụng như một quy định điều chỉnh việc cắt
giảm tổng mức ô nhiễm. Họ có thể đạt bất kỳ mức ô nhiễm nào họ muốn bằng cách áp
mức thuế thích hợp. Thuế càng cao, mức ô nhiễm càng thấp. Trên thực tế, nếu thuế
cao đến mức nhất định, các nhà máy sẽ đóng cửa và không còn gây ra ô nhiễm môi
trường nữa.
Lý do làm cho các nhà kinh tế thích sử dụng thuế là nó cắt giảm mức ô nhiễm
theo các hiệu quả hơn. Chính sách điều tiết thường yêu cầu mỗi nhà máy phải cắt
giảm sản lượng như nhau, nhưng việc cắt giảm ô nhiễm một lượng bằng nhau không
nhất thiết là biện pháp ít tốn kém nhất để làm sạch nguồn nước
• Ưu điểm việc đánh thuế:
Việc đánh thuế ô nhiễm làm cho giá tăng và buộc người sản xuất phải giảm sản
lương đến mức hiệu quả.
Lợi về hiệu quả xã hội với gỉa định rằng mức thuế được định đúng.
Lợi về công bằng cho những người bị ảnh hưởng.
Làm tăng nguồn thu cho chính phủ.
GVHD: PGS.TS Nguyễn Ngọc Hùng 2 / 20
Đề tài: “Giải pháp khắc phục ô nhiễm môi trường trên sông Thị Vải-Đồng Nai”
• Nhược điểm việc đánh thuế:
Chúng không phổ biến.
Chúng đòi hỏi nhiều thông tin để định đúng mức thuế.
Nai đổ ra Vịnh Gành Rái chảy qua Tp.Hồ Chí Minh và tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. Có độ
rộng 300-600m, nhưng độ sâu lớn (10-30m), ít bị bồi lắng nên rất thuận lợi cho việc
xây dựng các cảng nước sâu và hoạt động của tàu từ 10.000 đến 50.000 DWT.
Dòng sông có khả năng pha loãng và phân hủy chất ô nhiễm, làm sạch nước
thải. Quá trình này được gọi là sự “đồng hóa” hoặc “tự làm sạch”. Phụ thuộc vào khả
năng tự làm sạch tự nhiên các dòng sông có khả năng bị ô nhiễm với mức độ khác
nhau khi tiếp nhận khối lượng chất ô nhiễm như nhau.
Từ nghiên cứu mô hình chất lượng nước kết hợp số liệu phân tích Nguyễn Tất
Đắc và CTV (1994, 1997, 2001) đã kết luận sông Thị Vải có hệ số tự làm sạch là 1,0 –
5,0. (Theo tính toán trong tài liệu nước ngoài dòng sông có hệ số tự làm sạch trong
khoảng 2,0 – 4,0 là có khả năng tự làm sạch ở mức trung bình, và nếu hệ số này trên
4,0 -10 là có khả năng tự làm sạch tốt).
Trạm H
max
H
min
V
max
+
(m/s)
V
max
-
(m/s)
€Q
+
(m
3
/s)
€Q
dã là điểm du lịch sinh thái, nghiên cứu khoa học lý thú đặc biệt là khu Dự trữ sinh
quyển Cần Giờ.
- Rừng ngập mặn và các bãi lầy ngập mặn góp phần vào việc xử lý nguồn nước
ô nhiễm từ Đồng Nai, TP.Hồ Chí Minh, Bình Dương, Long An, bảo vệ môi trường
nước cho các khu du lịch và khu nuôi trồng thuỷ sản ở Cần Giờ (TP.Hồ Chí Minh),
Tân Thành (Bà Rịa-Vũng Tàu), Cần Giuộc (Long An).
GVHD: PGS.TS Nguyễn Ngọc Hùng 4 / 20
Đề tài: “Giải pháp khắc phục ô nhiễm môi trường trên sông Thị Vải-Đồng Nai”
Sông Thị Vải nằm trong vùng ven biển lưu vực sông Đồng Nai – Sài Gòn có
trên 220 km bờ biển và có độ sâu cao nên có điều kiện phát triển một hệ thống cảng
biển làm nhiệm vụ tiếp nhận, xuất và trung chuyển hàng hóa quốc tế.
2.2. THỰC TRẠNG Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG TRÊN SÔNG THỊ VẢI ĐỒNG
NAI:
Tuy nhiên, đến nay hệ sinh thái con sông Thị Vải suy giảm mạnh. Việc chuyển
vùng đất ngập mặn ven sông Thị Vải thành đất công nghiệp và đô thị đã tác động xấu
đến môi trường tự nhiên và các ngành kinh tế mũi nhọn: thuỷ sản và du lịch của Bà
Rịa-Vũng Tàu, TP.Hồ Chí Minh.
Các KCN đang hoạt động hoặc đã được quy hoạch ở vùng kinh tế trọng điểm
phía Nam và sông Thị Vải là nơi nhận nguồn nước thải cuối cùng:
Stt Khu công nghiệp Diện tích
(ha)
Loại hình khu
công nghiệp
Tỉnh Đồng Nai
1 Gò Dầu 184 Nhẹ
2 Nhơn Trạch I 430 Nặng / nhẹ
3 Nhơn Trạch II 350 Nhẹ
4 Nhơn Trạch III 368 Nặng / nhẹ
Cộng 1.332
án xử lý ô nhiễm môi trường sông Thị Vải do các công
trình công nghiệp lân cận gây ra” được chủ trì thực hiện bởi Viện Sinh thái Tài
nguyên và Môi trường, Viện Sinh học Nhiệt đới, Trung tâm Khoa học Tự nhiên và
Công nghệ Quốc gia (tháng 10-1997), ngoài lượng NH+4 (amoni), COD (nhu cầu ô
xy sinh hóa), BOD (nhu cầu ô xy hóa học) cao, nước thải còn chứa những hợp chất
hữu cơ có nguồn gốc từ thực vật.
Trong điều kiện dung dịch nước thải có chứa hàng
loạt gốc axít với vi sinh có trong tự nhiên sẽ chuyển thành
các hợp chất chứa lưu huỳnh. Qua các quá trình phân hủy, phản ứng hóa học tạo ra
các chất kết tủa có màu đen trong nước; đồng thời làm giảm lượng ôxy hòa tan trong
nước khiến các loài thủy sinh không thể sống được. Chưa hết, các sulfur kim loại
nặng kết tủa sẽ lắng xuống đáy sông lẫn trong bùn. Sự tích tụ này có hại cho chất
lượng môi trường. Qua hai đợt khảo sát mẫu bùn vào năm 1996 và 1997 ở cảng Gò
Dầu (gần nhà máy Vedan), kết quả cho thấy hàm lượng H2S rất cao. Khi hàm lượng
H2S trong nước tăng cao, không một sinh vật nào có thể tồn tại. Cụ thể, các mẫu
bùn lấy vào thời điểm tháng 9-1997 đã không tìm thấy loài động vật đáy nào sinh
sống. Theo kết luận điều tra của các nhà khoa học thuộc các cơ quan trên, sông Thị
Vải đã chìm sâu trong ô nhiễm hữu cơ với mức độ ô nhiễm tăng suốt từ năm 1994 đến
nay. Các nguồn chất hữu cơ xả vào sông Thị Vải đã biến một đoạn sông (ở trung lưu)
thành “nồi lên men vi sinh khổng lồ” và thành “bể nuôi cấy các loại tảo thích nghi ô
nhiễm bẩn”. Điều đáng lưu ý là các sinh vật gây bệnh tiết ra nhiều loại chất độc như
một số tảo lam. Cảng Gò Dầu được xác định là trung tâm ô nhiễm. Từ đây chất bẩn
phát tán đi khắp chiều dài sông.
+ Thiệt hại về kinh tế:
- Trước đây sông Thị Vải cá tôm nhiều vô kể mỗi lần kéo được cả trăm ký lô và
người dân ven khu vực sông sống nhờ vào nghề nuôi tôm, cá.
Nên đời sống khá giả. Nhưng vài năm gần đây, cá tôm bị tuyệt
chủng, nhiều hộ dân nuôi cá, tôm ở vùng ven sông Thị Vải, điêu
đứng vì cá, tôm của họ chết hàng loạt, nổi và dạt trắng cả bờ.
Nhiều người khẳng định hiện tượng cá, tôm chết như vậy là do
tiếp từ dòng sông Thị Vải. Xã có khoảng 1.000 hộ với hơn 70% người dân sống bằng
nghề đánh bắt thuỷ hải sản, làm muối và nuôi tôm sú. Nhưng 2-3 năm gần đây ít nhất
50% hộ dân lỗ từ 7-8 triệu đồng hoặc mất trắng khi lấy nước từ sông vào để nuôi tôm.
- Sông Thị Vải không chỉ ô
nhiễm nước bề mặt, mà nguồn nước
ngầm cũng bị ô nhiễm. Do nước
giếng người dân khoan dùng hàng
ngày gần đây có mùi tanh, múc lên
để qua đêm nước đổi màu đen.
- Tình trạng ô nhiễm trên sông
Thị Vải cũng ảnh hưởng trì trệ đến
hoạt động sản xuất kinh doanh của
các doanh nghiệp trong KCN Gò
Dầu. Ông Shinya Kajita - Tổng giám đốc – Công ty phân bón Việt Nhật, ông Nguyễn
Hữu Hiếu – Giám đốc Nhà máy Shell đều phản ánh nhiều hãng tàu Nhật Bản từ chối
vận chuyển hàng hóa cũng như nguyên vật liệu cho công ty qua cảng Gò Dầu, do
nước sông ô nhiễm ăn mòn thân tàu. Các hãng tàu Singapore cũng từ chối vận chuyển
qua sông Thị Vải. Theo báo cáo của Công ty cổ phần cảng Đồng Nai số lượt tàu
Singapore cập cảng chiếm 34% (200/600 lượt).
- Chi phí làm sạch dòng sông cao. Hơn 10 năm qua,
số nước thải chưa qua xử lý khoảng hơn 10 triệu m
3
. Theo
ông Nguyễn Tôn, Chủ tịch Hội Cấp thoát nước VN, việc
tính toán chi phí xử lý nguồn nước thải từ sản xuất công
nghiệp được căn cứ vào chất lượng nước thải, nồng độ ô
nhiễm và công nghệ xử lý. Với mức độ ô nhiễm trung
bình, giá thành xử lý 1m
3
nước thải sau khi làm sạch sẽ
Sông Thị Vải bị ô nhiễm dẫn đến rừng
ngập mặn bị mất. Mất rừng ngập mặn sẽ dẫn tới suy giảm ngành thuỷ sản, đặt biệt là
nghề nuôi tôm cá của nhân dân Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu và TP. Hồ Chí Minh.
2.2.2. Nguyên nhân ô nhiễm môi trường trên sông Thị Vải:
- Các thông số oxy hoà tan (DO) và nhu cầu oxy sinh hóa (BOD) đực sử dụng
để đánh giá mức độ ô nhiễm nguồn nước do các chất hữu cơ kém bền vững. Sông Thị
Vải đang bị ô nhiễm hữu cơ với các mức độ khác nhau:
+ Khu vực Gò Dầu - Cảng Vedan về thượng lưu: ô nhiễm nghiêm trọng giá trị
DO thường <2,0 mg/l và giá trị BOD là 10-20 mg/l, có thời điểm lên trên 50 mg/l.
+ Từ cảng Vedan về hạ lưu (Cái Mép) mức độ ô nhiễm giảm nhanh với giá trị
DO tăng dần từ 3,0 mg/l đến 5,5 mg/l và giá trị BOD giảm rõ rệt từ 4-8 mg/l từ Phú
Mỹ đến Gò Da.
Sông Thị Vải có lượng phù sa thấp: hàm lượng chất rắn lơ lửng ở Cái Mép chỉ
khoảng 20-50 mg/l vào mùa khô và 100-150 mg/l vào mùa mưa. Tuy nhiên do ảnh
hưởng của chất thải công nghiệp tại khu vực Gò Dầu –Vedan có nhiều thời điểm
lượng chất thải lên đến 200 mg/l.
Hàm lượng tổng coliform sông Thị Vải vượt giá trị 10.000 MPN/100ml (Tiêu
chuẩn cho phép đối với nguồn loại B).
Nguyên nhân cơ bản việc ô nhiễm sông Thị Vải do việc xả thải của các khu
dân cư, cơ sở sản xuất công nghiệp từ các khu công nghiệp:
* Tại khu công nghiệp Mỹ Xuân A, huyện Tân Thành đã phát hiện DNTN
Liêm Chính (hoạt động từ năm 2001) trong lĩnh vực luyện và kéo cán thép xây dựng
với nguyên liệu là sắt, thép phế liệu nhưng không đấu nối vào hệ thống thoát nước thải
của khu công nghiệp. Lúc kiểm tra doanh nghiệp ngừng hoạt động nhưng các thùng
phuy chứa dầu, giẻ lau nhiễm dầu, thùng đựng hoá chất (chất thải nguy hại) để bừa
bãi, không có mái che theo quy định.
GVHD: PGS.TS Nguyễn Ngọc Hùng 8 / 20
Váng vàng dày đặc mặt sông Thị Vải. (Ảnh: CTV)