Dự án xây dựng khu BTTN Bắc Hướng Hoá
1
Dự án xây dựng khu BTTN
Bắc Hướng Hoá
0
43'22’’ đến 16
0
59'55’’ vĩ độ Bắc
+ Từ 106
0
33'00’’ đến 106
0
47'03’’ kinh độ Đông
Khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hóa có ranh giới phía tây giáp với nước
Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Lào khoảng 6 km ; phía bắc giáp với tỉnh Quảng Bình
khoảng 20 km ;phía nam giáp các xã Hướng Phùng, Hướng Sơn và Hướng Linh; phía
đông giáp với 3 huyện Vĩnh Linh (1,5 km), Gio Linh và Đakrông. Rừng khu vực đã
và đang đóng vai trò phòng hộ đầu nguồn quan trọng của 4 hệ thủy lớn là sông Bến
Hải, sông Cam Lộ (sông Hiếu), sông Rào Quán (sông Quảng Trị) và sông Xê Păng
Hiêng (chảy vào sông Mê Kông bên Lào). Đặc biệt quan trọng là hệ thủy Rào Quán
nơi có công trình thủy điện Rào Quán, sắp hoàn thành. Theo kết quả tính toán độ che
phủ rừng tự nhiên trong khu bảo tồn lên tới 83,5%. Về đa dạng sinh học, các kết quả
khảo sát bước đầu của Tổ chức BirdLife Quốc tế Chương trình Việt Nam cho thấy
đây là điểm nóng về đa dạng sinh học mang tầm vóc quốc gia và quốc tế. Đây là nơi
sinh sống của các loài động thực vật có ý nghĩa bảo tồn quốc tế. Thú lớn và linh
trưởng có các loài: Saola, Bò tót, Mang lớn, Vooc Hà Tĩnh, Vượn đen má trắng,
Vooc vá chân nâu. Đây là nơi đã phát hiện nhiều loài chim đặc hữu và đang bị đe dọa
ở cấp quốc gia và quốc tế như: Gà lôi lam mào trắng, Trĩ sao, Hồng hoàng, Niệc nâu,
Gà so trung bộ và nhiều loài chim phân bố hẹp khác.
Nhận thức rõ tầm quan trọng của khu vực trong nhiều lĩnh vực, Ủy Ban Nhân
Dân tỉnh Quảng Trị đã đề nghị Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn thành lập
mới hai khu rừng đặc dụng thuộc tỉnh Quảng Trị là Bắc Hướng Hóa và Khu bảo vệ
cảnh quan đường Hồ Chí Minh huyền thoại, theo công văn số 2036/TT-UB, ngày
TÊN CÔNG TRÌNH, MỤC ĐÍCH VÀ CƠ SỞ XÂY DỰNG DỰ ÁN ĐẦU TƯ
1.1 Tên công trình
Dự án xây dựng khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị
1.2 Mục đích, nội dung của dự án
Mục đích
Xây dựng một khu bảo tồn thiên nhiên mới cho tỉnh Quảng Trị nhằm bảo vệ đa dạng
sinh học tiêu biểu của vùng và duy trì và phát triển chức năng phòng hộ quan trọng
của rừng Bắc Hướng Hóa đối với phát triển kinh tế của địa phương và của vùng.
Nội dung
Dự án đầu tư khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hóa bao gồm các nội dung chính
sau:
Mô tả các đặc điểm tự nhiên và kinh tế xã hội khu vực có liên quan đến vùng dự
án
Đánh giá các giá trị của khu vực về môi trường và bảo tồn đa dạng sinh học của
Khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hóa
Xác định và đề xuất phương án quy hoạch về ranh giới khu bảo tồn thiên nhiên
Bắc Hướng Hóa
Xác định các mục tiêu của khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hóa
Xây dựng các chương trình hoạt động để định hình khu bảo tồn thiên nhiên Bắc
Hướng Hóa
Khái toán vốn đầu tư cho các chương trình hoạt động của khu bảo tồn thiên nhiên
Bắc Hướng Hóa
Hiệu quả đầu tư mong đợi từ các chương trình đầu tư
Kết luận và kiến nghị
Kết quả nghiên cứu về đa dạng sinh học tại Bắc Hướng Hóa các năm 2004 và
2005 của Tổ chức BirdLife Quốc tế Chương trình Việt Nam phối hợp với Chi cục
Kiểm lâm Quảng Trị đã đánh giá rằng rừng và tài nguyên rừng của Bắc Hướng Hóa
có tính đa dạng sinh học cao; diện tích rừng tự nhiên trong phạm vi khu bảo tồn đề
xuất chiếm 83,5% tổng diện tích dự kiến; khu vực hiện có quần thể của nhiều loài
quý hiếm có liên quan đến bảo tồn như: Saola (Pseudoryx nghetinhesis), Bò tót (Bos
gaurus), Voọc Hà tĩnh (Semnopithecus laotum hatinhensis) Voọc vá chân nâu
(Pygathrix nemaeus), Vượn đen má trắng (Nomascus leucogenys) và thỏ vằn.
Rừng Bắc Hướng Hóa là một phần của khu vực chim đặc hữu của Vùng đất
thấp Miền Trung Việt Nam, là điểm nóng về đa dạng sinh học, tại đây đã phát hiện
nhiều loài chim đặc hữu và quý hiếm như Gà lôi lam mào trắng, Gà so trung bộ, Trĩ
sao, Hồng hoàng, Niệc nâu và nhiều loài chim có vùng phân bố hạn hẹp.
Rừng của Bắc Hướng Hóa đã và đang đóng vai trò phòng hộ đầu nguồn quan
trọng của ba con sông lớn của tỉnh Quảng Trị là sông Bến Hải, sông Cam Lộ (sông
Hiếu) và sông Rào Quán (sông Quảng Trị) và là một chi lưu phòng hộ của sông Mê
Kông (Xê Păng Hiêng). Đặc biệt quan trọng là phòng hộ đầu nguồn, điều tiết cung
cấp nước cho công trình thủy lợi, thủy điện Rào Quán chuẩn bị hoàn thành.
Rừng và thảm thực vật Bắc Hướng Hóa còn có giá trị kinh tế to lớn đối với
cộng đồng địa phương đang sống trong và xung quanh ranh giới khu bảo tồn như
cung cấp cây thực phẩm, các sản phẩm phi gỗ bao gồm cả cây làm thuốc, gỗ củi v.v
Dự án xây dựng khu BTTN Bắc Hướng Hoá
6
Chương 2
ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, SINH HỌC VÀ KINH TẾ XÃ HỘI
mạnh, độ dốc cao phổ biến từ 15-25
o
, có nhiều nơi, nhiều chỗ dốc đứng. Trong khu
vực có các đỉnh cao điển hình như: Động Sa Mù (1550m) gần đỉnh đèo Sa Mù và
Động Voi Mẹp/Voi nằm (1771m) ở phía đông nam khu bảo tồn. Trong khu vực ngoài
đồi, núi đất chiếm đa số còn lại có hai dãy núi đá vôi. Ở gần trung tâm là dãy đá vôi
chạy theo hướng Đông-Tây, ranh giới hai xã Hướng Lập và Hướng Việt, gần trung
tâm xã Hướng Việt có dãy núi đá vôi chạy theo hướng Bắc-Nam.
2.1.3 Địa chất
Khu vực nghiên cứu nằm trên hệ địa máng-uốn nếp Caledon Việt Lào ở Bắc
Trung Bộ, giới hạn bởi đứt gãy sâu Sông Mã ở phía bắc và đứt gãy sâu Tam Kỳ-Hiệp
Đức ở phía nam. Các phức hệ địa máng phát triển từ kỷ Cambri (có thể từ Sini) cho
đến cuối Silur hoặc đầu Đevon. Trên chúng đã hình thành các lớp phủ nền trẻ
Dự án xây dựng khu BTTN Bắc Hướng Hoá
7
Epicaledon Paleozoi giữa-muộn, cũng như các võng chồng hoạt hoá-tạo núi trong
Mesozoi-Kainozoi. Hầu hết các núi trung bình được cấu tạo bởi đá Granit phân bố
khá phổ biến trong vùng. Các núi thấp được cấu tạo bởi đá trầm tích lục nguyên tuổi
Ocdovic-Silur gồm có cát kết Mica, cát kết phân phiến, bột kết và sét kết phân phiến
bị biến chất yếu ở dạng Xirixit. Ngoài đá Granit nêu trên là các đá biến chất yếu tuổi
Cambri-Ordovic hạ bao gồm phiến thạch kết tinh, phiến thạch Xirixit, Pyrit, cát kết bị
quarzit hoá (Theo bản đồ địa chất Việt Nam).
2.1.4 Đất
Trong phạm vi khu vực nghiên cứu có các loại đất sau:
C, còn trên các vùng có độ cao từ 400-500 m trở lên thường xuống dưới
20
o
C và nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất xuống dưới 15
o
C ở Khe Sanh vào tháng
12 và tháng 1. Ngược lại mùa hè do có sự hoạt động của gió Tây nên rất nóng và khô.
Có tới 3-4 tháng (từ tháng 1 đến tháng 5) nhiệt độ không khí trung bình lớn hơn 25
o
C,
tháng nóng nhất thường là tháng 4 hoặc tháng 5 nhiệt độ trung bình lên tới 29
o
C.
Nhiệt độ cao nhất tuyệt đối lên tới 39-40
o
C. Độ ẩm trong các tháng này cũng xuống
rất thấp, dưới 30%.
Chế độ mưa ẩm
Vùng nghiên cứu có lượng mưa rất lớn, lượng mưa trung bình năm đạt tới
2400-2800mm hoặc lớn hơn và tập trung chủ yêú trong mùa mưa, hai tháng có lượng
mưa lớn nhất là tháng 9 và 11, chiếm tới 45% tổng lượng mưa toàn năm. Mưa ít bắt
Dự án xây dựng khu BTTN Bắc Hướng Hoá
8
đầu từ tháng 5, kết thúc vào tháng 11, tuy vậy lượng mưa trung bình của tháng 5 ở
Khe Sanh cũng đạt tới 157,4 mm.
Độ ẩm không khí trong vùng đạt tới 85-90%, trong mùa mưa độ ẩm lên tới
91%. Mặc dù vậy những giá trị cực đoan thấp vẫn đo được trong thời kỳ khô nóng
giao thông đang mở rộng và nâng cấp thường xảy ra sạt lỡ đất, đôi khi lũ quét cục bộ
trong những tháng mùa mưa. Nhìn chung đây là một trong những vùng khí hậu ít
thuận lợi ở nước ta.
2.1.6 Thuỷ văn
Do có địa hình có độ dốc lớn nên sông suối xuất phát từ đây thường ngắn, dốc đổ
ra biển theo hướng đông hoặc đông bắc. Trong vùng nghiên cứu có các hệ thống sông
chính sau:
Phía đông bắc là sông Bến Hải, tất cả các con suối bắt nguồn từ sườn đông đều
chảy vào sông Bến Hải và đổ ra biển đông ở Cửa Tùng.
Phía tây bắc và nam của khu bảo tồn là thượng nguồn sông Xê Păng Hiêng chảy
qua Lào vào sông Mê Kông.
Phía đông nam, bao gồm bắc Động Sa Mùi và đông Động Voi Mẹp là thượng
nguồn của sông Cam Lộ (gọi là nguồn Rào) và đổ ra biển Đông tại Cửa Việt.
Phía nam là hệ thống suối của sông Rào Quán, là một chi lưu của sông Quảng Trị
(Thạch Hãn). Nơi đây có công trị thủy điện Rào Quán đang xây dựng. Dự án xây dựng khu BTTN Bắc Hướng Hoá
9
2.2 Thảm và khu hệ thực vật
2.2.1 Thảm thực vật rừng
Toàn bộ khu vực được bao phủ bởi các kiểu rừng kín thường xanh. Ở độ cao
dưới 600 m là rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới và từ 600m trở lên là kiểu
rừng kín thường xanh á nhiệt đới. Nhưng trải qua quá trình tác động lâu dài của con
người như đốt nương làm rẫy, khai thác lâm sản và ảnh hưởng của chiến tranh, đặc
biệt là chiến tranh hoá học đã làm thay đổi nhiều diện mạo của rừng thường xanh ở
khu vực Bắc Hướng Hóa.
Bảng 2: Diện tích các loại đất đai khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hóa
3,90
Rừng phục hồi (rừng non)
2.268,19,00
Rừng tre nứa
3,00,01
Rừng trên núi đá
1.311,05,20
Đất trống cây gỗ rải rác
2.224,28,82
Đất trống cỏ cây bụi
860,9
đây), thành phần thực vật có tính đa dạng cao; Trong tổ thành có sự tham gia của rất
nhiều họ thực vật nhiệt đới ẩm, cây lá rộng xanh quanh năm, cây to, tán lớn, tròn.
Những họ thường gặp là: Họ Xoan (Meliaceae), họ Bồ hòn (Sapindaceae), họ Trám
(Burceraceae), họ Côm (Eleocarpaceae), họ Sim (Myrtaceae), họ Thị (Ebenaceae), họ
Na (Annonaceae), họ Đậu (Fabaceae), họ Dẻ (Fagaceae), họ Ba mảnh vỏ
(Euphorbiaceae), họ Long não (Lauraceae), họ Dung (Simplocaceae), họ Trôm
(Sterculiaceae), họ Trúc đào (Apocynaceae), họ Mùng quân (Flacoutiaceae), họ Nhân
sâm (Araliaceae), họ Cà phê (Rubiaceae), họ Dâu tằm (Moraceae). Nhóm dây leo gỗ
thường to và dài, có thể dài đến 20-30m, đường kính có thể đạt tới 10cm. Thường gặp
Dự án xây dựng khu BTTN Bắc Hướng Hoá
10
các loài thuộc các họ: họ Trúc đào (Apocynaceae), họ Na (Annonaceae), họ Đậu
(Fabaceae), họ Nho (Vitaceae), họ Thiên lý (Aslepiadaceae), họ Cau dừa
(Arecaceae). Cây gỗ nhỏ, cây bụi dưới tán thường gặp các loài trong họ Cà phê
(Rubiaceae), họ Ôrô (Acanthaceae), họ Mua (Melastomataceae), họ Ngũ gia bì
(Araliaceae), họ Cau dừa (Arecaceae), Dương xỉ mộc (Cyatheaceae). Trong tầng cỏ
quyết: phổ biến gặp là các loài Dương xỉ (Polypodyophyta), nhiều loài thuộc họ Môn
ráy (Araceae), họ Gai (Urticaceae), họ Dứa gai (Pandanaceae), họ Đao dong
(Maranthaceae), họ Riềng (Zingiberaceae), họ Thài lài (Commelinaceae), họ Đơn
nem (Myrsinaceae). Ở những khoảng trống nhiều ánh sáng có thể có sự có mặt nhiều
loài của chi Hedyotis họ Cà phê (Rubiaceae), nhiều loài cỏ thuộc họ Hòa thảo
(Poaceae), một số loài thuộc họ Cúc (Asteraceae). Trên các khe, vách nơi ẩm gặp một
số loài họ Thu hải đường (Begoniaceae).
Đặc trưng về tầng tán: thể hiện rõ sự phân tầng; rừng này thường thấy có 5 tầng.
Tầng 1 (Tầng vượt tán/tầng nhô). Trên khu vực núi đất trong tầng vượt tán có
chiều cao 20-25m đôi chỗ có thể có cây cao trên 25m. Các loài thường gặp trong tầng
này là các cây gỗ cao to, đường kính dao động từ 40 – 80cm. đôi chỗ có thể có cây
đạt tới đường kính 1-1,2m. Tuy nhiên độ phủ của tầng này không cao chỉ ở mức 15-
Dự án xây dựng khu BTTN Bắc Hướng Hoá
11
nên tầng cỏ quyết phát triển yếu, thưa thớt, chỉ ở những khu vực ven suối thung lũng
thấp, nơi có ánh sáng, tầng này mới thể hiện rõ, ưu thế của tầng này thuộc về các loài
Dương xỉ (Polypodyophyta), nhiều loài thuộc họ Môn ráy (Araceae), họ Gừng
(Zingiberaceae), họ Đao dong (Maranthaceae), họ Gai (Urticaceae), họ Thài lài
(Commelinaceae), họ Hòa thảo (Poaceae).
Kiểu phụ thảm thực vật rừng kín cây lá rộng thường xanh mưa mùa nhiệt đới trên
núi đá vôi.
Do đặc trưng về lập địa: thường các dãy núi đá vôi có thành rất dốc, có chỗ vách
đá dựng đứng, chóp nhọn, tầng đất mặt rất mỏng hay không có, phần chân thoải.
Rừng trên núi đá vôi có độ che phủ thấp, không tạo được một màn khép tán liên tục
như kiểu rừng trên núi đất. Về mặt cấu trúc tầng tán: Vẫn thể hiện 5 tầng; Nhưng điều
khác biệt cơ bản của kiểu phụ thảm thực vật trên núi đá vôi so với kiểu phụ trên núi
đất là thành phần hệ thực vật. Ưu thế trong các tầng của kiểu thảm này là những loài
chịu khô, phát triển trên nền đá vôi với những loài đặc trưng không gặp trên vùng núi
đất. Với những họ thường gặp có số cá thể khá phong phú là các loài trong chi Lòng
mang (Pterospermum) họ Trôm (Sterculliaceae); Nhiều loài thuộc chi Trâm
(Syzygium) họ Sim (Myrtaceae), nhiều loài thuộc chi Thị rừng (Diospyros) họ Thị
(Ebenaceae); chi Bứa (Garcinia) họ Măng cụt (Guttiferae). Nhiều loài thuộc chi Cóc
rừng (Spondias), Dâu gia xoan chi Allospondias; Xuyên cóc chi Choerospondias,
Sưng đào chi Semecarpus; họ Đào lộn hột (Anacardiaceae). Nhiều loài Bình linh chi
Bình linh (Vitex) họ Cỏ roi ngựa (Verbenaceae). Một số loài thuộc họ Gai
(Ulmaceae). Chi Sếu (Celtis); Nhiều loài họ Đay (Tiliaceae). Đặc biệt phải kể đến cây
Phay rất thường gặp ở các thung lũng ven suối núi đá vôi (Duabanga sonneratoides)
họ Bần (Sonneratiaceae) và một số loài thuộc chi Đùng đình (Caryota) họ Cau dừa
(Arecaceae). Nhiều loài thuộc chi Lụi (Rhapis), loài Đùng đình (Caryota
nàn; Tầng tán đơn giản, chỉ thấy rõ 3 tầng.
Tầng đất mặt rất mỏng, gió thường xuyên, lại có mù luôn xuất hiện nên chỉ thấy
rải rác có cây bụi và ưu thế là những loài họ Hòa thảo (Poaceae), Chè vè (Miscanthus
floridulus), Chít (Thysanoloena maxima) hay Trúc gai (Sinarundinaria griffithiana)
phát triển mạnh.
Những khác biệt lớn phân biệt kiểu thảm này với kiểu thảm thực vật thường
xanh mưa mùa nhiệt đới là sự có mặt của các loài khỏa tử. Thường tới độ cao 600m
thấy xuất hiện một số loài khỏa tử. Rất phổ biến trong khu vực này là loài Thông tre
lá dài (Podocarpus neriifolius), Thông nàng – Thông lông gà (Dacrycarpus
imbricatus), Thông tre lá ngắn (Podocarpus pilgeri). Trong kiểu thảm này ưu thế
tuyệt đối về các loài Dẻ thuộc họ Dẻ (Fagaceae) ở một số vị trí Dẻ ưu thế chiếm đến
50 - 60% cá thể trong quần xã. Trong kiểu thảm này còn có sự có mặt của một số loài
thuộc họ Thích (Aceraceae), một số loài Chẹo thuộc chi Chẹo (Engelhardtia) họ Óc
chó (Juglandaceae); Loài Chắp tay (Symingtonia populnea) thuộc họ Sau sau
(Hamamelidaceae). Nhiều loài thuộc chi Eurya, Adinandra, Camellia, Godonia, Vối
thuốc – Chò sót (Schima wallichii) thuộc họ Chè (Theaceae); Dưới tán rừng cũng chỉ
ở đai này mới gặp loài Trúc gai (Sinarundinaria griffithiana) có cá thể nhiều, những
nơi sáng chiếm ưu thế tuyệt đối. Cũng trong kiểu thảm này gặp nhiều loài gỗ có giá
trị: Giổi lá nhẵn (Michelia faveolata), Giổi găng (Paramichella baillonii) họ Mộc lan
(Magnoliaceae), Sến (Madhuca pasquieri) họ Hồng xiêm (Sapotaceae). Tại khu vực
đèo Sa mù dưới tán kiểu thảm này ở độ cao 1200m có gặp loài Lan hài
(Paphiopedilum amabile) có số lượng cá thể khá, là loài quí hiếm.
2.2.1.2 Thảm thực vật thứ sinh
Nhìn chung cả đai thấp dưới 600m và đai cao 600m trở lên có thể nơi nhiều, nơi
ít nhưng không tránh khỏi sự tác động của con người, sự tác động mạnh mẽ nhất là
canh tác nương rẫy, thể hiện rõ ở đai thấp dưới 600m, tiếp đến là khai thác gỗ và lâm
sản khác. Ở đai cao từ 600m trở lên ít bị tác động bởi canh tác nương rẫy. Một số nơi
thảm thực vật nguyên sinh bị hủy diệt do chất độc hóa học (trước năm 1975) và một
số nơi khác là những căn cứ quân sự (Nơi đóng quân, hầm hào, lô cốt). Đó là nguyên
Bưởi bung (Acronychia pedunculata) họ Cam chanh (Rutaceae), Ngát lông
(Gironniera subaequalis), Hu đay (Trema orientalis), Sếu (Centis sinensis) họ Sếu
(Ulmaceae). Một số loài họ Đậu (Fabaceae); họ Bồ hòn (Sapindaceae), họ Đào lộn
hột (Anacardiaceae). Những khu vực ẩm là các loài thuộc chi Sung vả (Ficus) họ Dâu
tằm (Moraceae).
Tầng 2 (Tầng gỗ nhỏ cây bụi). Có chiều cao 5 - 7m. Thường gặp các loài thuộc
họ Cà phê (Rubiaceae), chi Chè (Camellia), chi Súm (Eugenia) họ Chè (Theaceae).
Một số loài chi Cò ke (Grewia) họ Đay (Tilliaceae).
Tầng 3 (Tầng cây bụi dưới tán). Tầng này không dày rậm, thường gặp một số
loài họ Mua (Melastomataceae) , họ Cà phê (Rubiaceae), chi Lồng đèn
(Clerodendron) họ Cỏ doi ngựa (Verbenaceae), cây Lụi (Rapis excelsa) họ Cau dừa
(Arecaceae), có nơi có số lượng cá thể nhiều.
Tầng 4 (Tầng cỏ quyết) Trong tầng này của rừng thứ sinh gặp rất ít các loài
dương xỉ. Phổ biến hơn là các họ Gừng (Zingiberaceae); Các loài Môn ráy họ Môn
ráy (Araceae). Những nơi có ánh sáng nhiều, gặp một số loài cỏ họ Hòa thảo
(Poaceae), nơi ẩm có thể gặp một số loài họ Cà phê (Rubiaceae) chi Cỏ vừng
(Hydeotis), một số loài thuộc họ Ôrô (Acanthaceae) chi Staurogyne và chi
Strobilanthes.
Nét đặc trưng của rừng thứ sinh sau nương rẫy là hệ dây leo nói chung, dây leo
gỗ nói riêng rất ít. Tầng cỏ quyết đơn điệu, nghèo nàn, độ phủ tầng này rất thấp. Tầng
bì sinh (Phong lan, dương xỉ sống bám) hầu như không có; có lẽ do độ ẩm thấp và
chưa đủ thời gian cho những loài bì sinh, dương xỉ hay Phong lan phát triển trở lại.
Trảng cây bụi, cỏ cao
Kiểu thảm này có diện tích đáng kể trong khu vực Bắc Hướng Hóa, tỉnh Quảng
Trị. Phân bố ở đai thấp dưới 600m và trên 600m. Thảm này cần có những nghiên cứu
sâu nguyên nhân hình thành kiểu thảm này, đặc biệt là những diện tích bị rải chất diệt
cỏ (trước 1975). Qua khảo sát tại một số khu vực chúng tôi thấy có 4 nguyên nhân:
1. Phát nương làm rẫy
2. Cháy rừng
phát triển mạnh tạo nên các bụi, cụm lớn độ phủ cao. Có nơi độ phủ cao đạt tới 70 –
80%.
Những diện tích rừng nguyên sinh bị rải chất độc hóa học trước đây và sau đó
cháy đi cháy lại nhiều lần: ưu thế tuyệt đối thuộc những loài cỏ cao họ Hòa thảo
(Poaceae) Chè vè (Misclanthus floridulus), Chít (Thysanolaena maxima), Cỏ tranh
(Imperata cylindrica), Lau (Imperata conferta) phát triển kém hơn, cằn cỗi, cao 1 -
1,5m, rải rác có cây bụi gỗ nhỏ; Thường là những loài chịu khô, chịu cháy, sống trên
đất thoái hóa nghèo mùn.Phổ phiến là các loài họ dẻ (Fagaceae), Họ Óc chó
(Juglandaceae), Họ chè (Theaceae), Họ Nhựa ruồi (Aquifoliaceae), một số loài họ
Long não (Lauraceae), họ Côm (Eleocarpaceae).
Trảng thứ sinh tre nứa (Trúc sặt) phân bố ở độ cao 600m trở lên
Ở độ cao 700 – 1200m có một diện tích khá nhiều Trảng thứ sinh Trúc sặt
(Arundiunria peteloti). Cây cao từ 3 - 5m có mật độ khá dầy, mọc tản (không hình
thành bụi cụm) ưu thế tuyệt đối 60 – 70% độ phủ. Rải rác có cây gỗ thuộc họ Dẻ
(Fagaceae), họ Chè (Theaceae), họ Bồ đề (Styraceae), họ Nhựa ruồi (Aquifoliaceae),
họ Côm (Eleocarpaceae), một hai loài họ Mộc lan (Magnoliaceae), họ Thích
(Aeraceae). Tuy nhiên cây gỗ trong kiểu trảng này thưa thớt. Kiểu trảng thứ sinh này
rất đặc trưng , thường phân bố ở độ cao từ 800 – 1500m gặp ở Ba Vì, Tam Đảo, Phan
Xi Phăng. Có lẽ do một tác động nào đó (cháy rừng, chất độc hóa học) làm cho thảm
thực vật rừng ẩm thường xanh á nhiệt đới núi thấp bị mất đi. Loài Trúc sặt
(Arundinaria petelotii) – một loài thuộc họ Hòa thảo (Poaceae) ưa sáng thân ngầm
lan nhanh, phát triển mạnh, ưu thế tuyệt đối nhờ sức cạnh tranh đã chiếm lĩnh nhanh
Dự án xây dựng khu BTTN Bắc Hướng Hoá
15
chóng diện tích rừng nguyên sinh á nhiệt đới núi thấp bị mất. Cây gỗ, cây bụi, tái sinh
phát triển chậm, sức cạnh tranh kém cũng bị loại, tạo nên kiểu trảng thứ sinh Trúc sặt
gần như thuần loài, dầy đặc, độc đáo ổn định.
2.2.2 khu hệ thực vật
Điều tra ban đầu đã ghi nhận được 920 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc
518 chi và 130 họ (tham khảo Bảng 3 và phụ lục). Trong đó có 17 loài quý hiếm được
ghi trong sách đỏ Việt Nam và 23 loài được ghi trong sách đỏ Thế Giới (IUCN 1994).
Về kinh tế trong tổng số những loài thống kê được có 125 loài cây cung cấp gỗ, 161
loài cây làm thuốc, 44 loài cây làm cảnh và 89 loài cây làm thực phẩm (ăn được).
Bảng 3: Thành phần thực vật khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hóa
Ngành Thực Vật Họ Chi Loài
Ngành Thông Đất (Lycopodiophyta) 2 2
6
Equisetophyta – Ngành Mộc tặc 1 1
1
Ngành Dương Xỉ (Polypodiophyta) 11 31
68
Ngành Thông (Pinophyta) 4 6
9
Ngành Mộc Lan (Magnoliophyta) 112 478
836
- Lớp Mộc Lan (Magnoliopsida) 91 388 707
Dự án xây dựng khu BTTN Bắc Hướng Hoá
16
- Lớp Hành (Liliopsida) 21 90 129
Tổng Số 130 518 920
Đa dạng của một số họ thực vật tại Bắc Hướng Hoá, tỉnh Quảng Trị
Kết quả ở Bảng 4 cho thấy: có 13 họ có tính đa dạng cao về số lượng chi và loài.
Xét về số lượng chi có 12 họ có số chi từ 7 – 20 chi. Họ Cà phê (Rubiaceae), họ Hoà
thảo (Poaceae), họ Lan (Orchidaceae) có số lượng chi cao nhất từ 16 – 20 chi. Họ
loài; Hoà thảo (Poaceae) 23 loài; Các họ : Mua (Melastomataceae), Đơn nem
(Myrsinaceae), Cam chanh (Rutaceae), Gai (Urticaceae), Cỏ doi ngựa (Verbenaceae)
có xấp xỉ 20 loài.
Những số liệu trong báo cáo này mới chỉ phản ánh phần nào tính đa dạng thực
vật khu vực Bắc Hướng Hoá tỉnh Quảng Trị. Với diện tích lớn xấp xỉ 40.000 ha, đa
dạng về địa hình, địa chất, khí hậu, hệ thực vật chưa bị tác động nhiều; chắc chắn Hệ
thực vật ở khu vực này có số lượng taxon bậc chi và loài có thể cả bậc họ sẽ có số
lượng cao hơn nhiều so với báo cáo này, hy vọng sẽ được tìm hiểu bổ sung trong
tương lai. Dự án xây dựng khu BTTN Bắc Hướng Hoá
17
Đa dạng Hệ thực vật Bắc Hướng Hoá so với các khu vực lân cận
Tìm hiểu sâu hơn về Hệ thực vật: Bạch mã, Đakrông và Bắc Hướng Hoá đã có
khác biệt nhau ít nhiều về số lượng các taxon (bậc họ; bậc chi; bậc loài). Nhưng ba
khu vực này có những nét tương đồng về Hệ thực vật, có tới 90% các họ gặp ở cả 3
khu vực. Sự khác biệt về mặt số lượng chính bởi sự hạn chế về mức độ nghiên cứu tại
mỗi vùng. Điều này cũng chỉ ra tại Đăkrông và Bắc Hướng Hoá có Hệ thực vật đa
dạng không kém so với Vườn Quốc gia Bạch mã, cần có những nghiên cứu xa hơn
nữa trong quá trình quản lý khu bảo tồn sau này mới có thể khẳng định.
Bảng 5: So sánh tính đa dạng thực vật Bắc Hướng Hoá với các khu bảo tồn trong vùng
Ghi chú: BHH= Bắc Hướng Hóa, Đak= Đakrông, BM= Bạch Mã
Giá trị về nguồn gen quý hiếm
Bảng 6. Danh sách các loài quý hiếm được ghi trong Sách đỏ Việt Nam và Thế giới
3 Podocarpus pilgeri Foxw. Thông tre lá ngắn R
4 Podocarpus neriifolius D.Don Thông tre lá dài CR
5
Nageia wallichiana (C. Presl.) O. Kuntze
Kim giao núi đ
ất
V
CR
6 Alstonia scholaris (L.) R. Br. Mò cua CR
7 Amoora dasyclada (How. & Chen) C. V. Wu Gội đỏ VU
8
Aquilaria crassna Pierre ex
Lec
Dó tr
ầm
E
CR
9
Ngành Thụng đất
(Lycopodiophyta)
2 2 2 2 2 3 6 3 16
Ngành Mộc tặc
(Equisetophyta)
1 0 1 1 0 1 1 0 1
Ngành Dương xỉ
(Polypodiophyta)
11 11 24 31 15 68 68 30 162
Ngành Hạt trần
(Gymnospermae)
4 3 7 6 6 11 9 10 20
Ngành Hạt kớn
(Angiospermae)
122 114 156 487 505 669 836 1009 1448
-Lớp hai lỏ mầm
(Dicotyledones)
91 93 130 388 404 411 707 857 1103
-Lớp một lỏ mầm
(Monocotyledones)
21 21 26 90 101 158 129 152 345
130 130 190 518 528 752 920 1055 1547Dự án xây dựng khu BTTN Bắc Hướng Hoá
18
17 Dipterocarpus grandiflorus Blco Dầu hoa to CR
18 Dipterocarpus hasseltii Bl. Dầu CR
19
Dipterocarpus kerrii King
D
ầu c
à luânCR
20 Engelhartia spicata Lesch. ex Bl. Chẹo bông CR
21 Erythrophleum fordii Oliv. Lim EN
22
Knema globularia (Lamk.) Warb.
Máu chó c
ầuCR
23
Mangifera foetida Lour.
Xoài hôi
30
Calamus poilanei Conr.
Mây b
ột
K31 Dendrobium amabile (Lour.) O'brien Thuỷ tiên hường R
32 Livistona tonkinensis Magalon Kè bắc DD
Ghi chú: Tình trạng Sách đỏ Việt nam (1996): Endangered (E) - Đang bị đe doạ tuyệt
chủng; Vulnerable (V) – Sắp bị đe doạ tuyệt chủng; Rare (R) – Loài hiếm; Threatened (T) -
Bị đe doạ tuyệt chủng; Insufficiently know (K) - Biết không chính xác để xếp vào các cấp đe
dọa trên.
Bảng 7 : Danh sách các loài thực vật quý hiếm theo các mức độ đe dọa ở KBTTN Bắc
Hướng Hóa
CR EN VU DD (K) R T Tổng %
IUCN (1994)
14
2
3
4
Megamuntiacus vuquangensis, Bò tót và Sơn dương (Bảng 8).
Bảng 8: Các loài thú bị đe dọa ở cấp quốc gia và quốc tế ghi nhận ở Bắc Hướng Hoá
TT
Tên phổ thông Tên khoa học
Tình trạng
Qu
ốc gia
Th
ế giới
1 Tê tê Java Manis javanica V NT
2
Kh
ỉ mặt đỏ
Macaca arctoides
V
VU
3 Voọc vá chân nâu Pygathrix nemaeus E EN
4 Voọc Hà Tĩnh Semnopithecus laotum
hatinhensis
E DD
5
9 Sơn dương Naemorhedus sumatraensis V VU
10
Sao la
Pseudoryx nghetinhensis
E
EN
11 Bò tót Bos gaurus V VU
12
Th
ỏ vằn
Nesolagus timminsiDD
Ghi chú: Tình trạng quốc gia: E = Nguy cấp; V = Sắp nguy cấp theo Anon. (2000).
Tình trạng toàn cầu: EN = Nguy cấp; VU = Sắp nguy cấp; NT = Gần bị đe dọa; DD =
Chưa đủ dữ liệu theo IUCN (2004).
Các loài quan trọng đối với công tác bảo tồn
Phần này trình bày chi tiết các ghi nhận về các loài bị đe dọa ở cấp độ quốc gia
và quốc tế theo IUCN (2004) và Anon.(2000) trong lần khảo sát 2004 và 2005. Ngoài
một đàn lớn 30 cá thể, ngày 17/10/2004 tại khu vực Dốc Mang, một đàn khác 10 cá
thể cũng nhìn thấy ở khu Rào Thép, ngày 14/11/2004. Đợt khảo sát tháng 10/2005, đã
quan sát 3 con trong một đàn di chuyển trên đường mòn cách bên giới Việt-Lào
khoảng 1km.
Vượn đen má trắng Nomascus leucogenis
Khu vực Thôn Cợp có ít nhất 3 đàn vượn, hai đàn ở phía tây và một đàn ở phía
đông đường Hồ Chí Minh. Một đàn 3 cá thể đã quan sát thấy ngày 3/11/2005 ở khu
vực Khe Cợp, trong đó 1 con đực, 1 con cái và 1 con non (tọa độ: 0670237 N,
1872190 E). Thông tin bổ sung từ Nhóm giám sát cộng đồng cho thấy: Đã nhìn thấy
3 con ở Khe Suốt, ngày 16/11/2004 và 2 con khác cũng nhìn thấy vào tháng 10/2004.
Voọc Hà Tĩnh Semnopethecus laotum hatinhensis
Tên địa phương gọi loài này là con Cùng (con khỉ đen, đuôi dài sống ở lèn đá).
Một đàn 12 cá thể đã quan sát thấy tại sườn núi đá vôi có cây gần bản Trăng vào lúc
15h ngày 4/11/2005. Sáng ngày 5/11 lại quan sát thấy loài này trên các mỏm đá cùng
vị trí. Vào giữa tháng 12 quan sát thấy một cá thể trên mỏm đá cùng vị trí trên (Trải
quan sát). Dãy núi đá vôi nơi đang có đàn voọc sinh sống kéo dài từ bản Trăng về
phía đông khoảng 6-7 km với nhiều đỉnh và vách đá dốc đứng nối tiếp nhau, trên
sườn núi có nhiều cây gỗ và dây leo, cây bụi. Phía sau bản Trăng cũ có một hang đá
vòm cao, rộng trên đỉnh núi là nơi thích hợp loài voọc trú ngụ qua đêm và khi thời
tiết khắc nghiệt. Với điều kiện tự nhiên như vậy có thể số lượng đàn và cá thể voọc
đen ở đây còn nhiều hơn nếu được điều tra kỹ. Đây là loài phụ linh trưởng đặc hữu
của Việt Nam. Đây là lần đầu tiên ghi nhận cho tỉnh Quảng Trị, trước đây loài này chỉ
được biết từ vùng núi Phong Nha-Kẻ Bàng và Kim Lũ Tuyên Hóa tỉnh Quảng Bình.
Gấu ngựa Ursus thibetanus
Các dấu móng cào của loài này được ghi nhận trên các cây gỗ (16°55'51”N,
106°35'22”E), và dấu móng và phân mới được cho là của loài này được phát hiện ở
vùng rừng nguyên sinh khu vực Khe cựp (16°55'40”N, 106°35'46”E) vào ngày
Bò tót Bos gaurus
Nhóm hỗ trợ bảo tồn tại bắc Hướng Hoá do Dự án MacArthur thành lập trong
khi đi tuần tra vào 18/10/2004 đã nhìn thấy 1 con đực ở Khe Cuồi; 1 con khác nhìn
thấy ở Dốc Mang ngày 5/11 và Khe Tà Nạp vào ngày 8/11/2004. Nhóm giám sát
khẳng định trong vùng có một đàn Bò tót 3 cá thể, nhiều lúc tách ra ăn rải rác, trong
các tháng cuối năm 2004 thường thấy 3 con kiếm ăn tập trung.
Sao la Pseudoryx nghetinhensis
Đồng bào Vân Kiều gọi loài này là con La Ràng. Loài này gần đây được ghi
nhận tại xã Kim Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình (tiếp giáp về phía bắc của xã
Hướng Lập) bởi Lê Mạnh Hùng et al. (2002). Các thợ săn ở các thôn Khe cựp và
Thôn Cuồi đều mô tả Sao la một cách chính xác và khẳng định loài này hiện vẫn còn
phân bố ở khu vực Khe cựp - Thôn Cuồi. Những người được hỏi còn cung cấp thông
tin về một con Sao la (khoảng 70 kilôgram) đã bị ông Vương ở thôn Khe cựp bẫy vào
năm 2003, và một con Sao la khác (khoảng 100 kilôgram) đã bị một thợ săn tên là Hồ
Sy bắn ở vùng rừng Thôn Cuồi vào tháng 11/2003 và sau đó sừng của cá thể này
được đem cho ông Hồ Sam. Khi được hỏi, ông Hồ Sam cũng khẳng định thông tin
này là đúng. Đã quan sát và chụp ảnh sừng của loài này tại nhà Ông Hồ Sâm ngày
15/9/2004 (Lê Trọng Trải và Vũ Văn Dũng. pers. obser.). Nhiều vết ăn trên cây môn
thục cùng dấu chân còn mới của Saola quan sát thấy dọc khe cạn của Khe Rào Thép
vào giữa tháng 12/2005 (Trải quan sát).
Thỏ vằn Nesolagus timminsi
Ngày 20/1/2005, trên đường từ Bắc Hướng Hoá ra Khe Sanh nhìn thấy 1 con
Thỏ vằn chạy ngang qua đường khu vực gần đèo Sa Mù, độ cao khoảng 900 m
(Tordoff pers observ.). Tháng 5/2005 nhóm khảo sát thú Viện Động vật Peterburg
(Nga) thu được mẫu sọ thỏ rừng tại lán thợ săn ( toạ độ 0671516N, 1871475E) trong
khu vực rừng giữa 2 thôn Cuồi-Cợp. Thợ săn cho biết đã bắt được 4 con thỏ trong
khoảng 20 ngày ở khu vực này (10-30/4/2005).
Tên Việt Nam Tên khoa học IUCN (2004) SĐVN (2000)
1.
Gà so Trung bộ Arborophila merlini RRS En
2.
Gà lôi lam mào trắng Lophura edwardsi EN, RRS En
3.
Gà lôi hông tía L. diardi NT T
4.
Trĩ sao Rheinardia ocellata VU T
5.
Gõ kiến xanh cổ đỏ Picus rabieri NT, RRS
6.
Thầy chùa đít đỏ Megalaima lagrandieri RRS
7.
Niệc nâu Anorrhinus tickelli NT T
8.
Hồng hoàng Buceros bicornis NT T
9.
Bồng chanh rừng Alcedo hercules NT T
10.
Tình trạng của một số loài quí hiếm ở khu vực nghiên cứu
Gà lôi lam mào trắng Lophura edwardsi
Dự án xây dựng khu BTTN Bắc Hướng Hoá
23
Tên địa phương (tiếng Vân Kiều) gọi loài này con Cà Lừng. Trong hai đợt khảo
sát 2004, 2005 chưa quan sát được loài này. Tuy nhiên Nhóm giám sát cộng đồng
nhìn thấy 2 con trống (con đực) ở vùng Rào Thép, ngày 17/10/2004. Trước đây, năm
1996, tại làng Kreng (16
0
35’N; 107
0
05’E), xã Hướng Hiệp (phía đông bắc của khu
vực) thợ săn địa phương đã bẫy được một cặp (trống và mái) của loài này, con mái bị
chết, con trống được chuyển về nuôi tại Vườn thú Hà Nội (Lê Trọng Trải và cộng sự
1999). Mối đe dọa lớn nhất của loài này hiện nay là săn bẫy với mục đích làm thực
phẩm, đôi khi bán trong vùng với giá đắt hơn gà nhà chút ít. Trong phạm vi khu bảo
tồn, sinh cảnh rừng thích hợp của Gà lôi lam mào trắng là rừng thường xanh trên đất
thấp dưới 600 m còn khá lớn.
Gà so Trung Bộ Arborophila merlini
Gà so Trung Bộ là loài đặc hữu có vùng phân bố giới hạn trong Vùng Chim
Đặc hữu (EBA) Đất thấp Trung Bộ. Trong lần khảo sát năm 2005 đã quan sát được
loài này ở khu vực Suối Cha Lỳ, nhiều tiếng kêu của loài này cũng nghe thấy dọc
theo đường mòn từ Cha Lỳ đi cột mốc 25 giữa Việt Nam và Lào. Đe dọa lớn nhất của
loài này cũng như các loài khác trong Bộ gà là săn bẫy.
Trĩ sao Rheinardia ocellata
24
họ và 1 bộ và 31 loài Bò sát thuộc 8 họ và 2 bộ. Kết quả nghiên cứu cũng ghi nhận
mới một số loài cho khu vực như: 2 loài ếch cây thuộc giống Theloderma spp., Ếch
cây Hymalayan Rhacophorus bipunctatus, Rắn ri cá (H. buccata), Rắn khuyết (L.
ruhstrati), Rắn lục cườm (Trimeresurus mucrosquamatus), Rắn cạp nia thường
(Bungarus bungaroides) vvv. Hơn thế nữa, đã phát hiện 3 loài có thể chúng là loài
mới cho học thuộc 3 giống sau: Nhái cây (Philautus), Rắn sãi (Amphiesma) và Rắn
khiêm (Oligodon). Về giá trị bảo tồn chưa thống kê cụ thể nhưng có nhiều loài quý
hiếm trong sách đỏ Việt Nam và Thế Giới như: Tắc kè, Rồng đất, Cạp nia nam, Cạp
nia thường, Rắn lục volgel, Rùa đất Sêpôn, Cóc rừng, Ếch gai sần vvv. (Hồ Thu Cúc
2005. báo cáo tóm tắt gửi Chi cục kiểm lâm Quảng Trị).
2.4 Đặc điểm kinh tế-xã hội
2.4.1 Dân số và sự phân bố dân cư
Các thông tin về kinh tế xã hội được thu thập ở 5 xã có liên quan đến quy hoạch
Khu BTTN Bắc Hướng Hoá thuộc tỉnh Quảng Trị. Năm xã có liên quan bao gồm:
Hướng Lập, Hướng Phùng, Hướng Sơn, Hướng Việt và Hướng Linh (huyện Hướng
Hóa) và Hướng Hiệp (huyện Đakrông), trong đó xã Hướng Việt mới được thành lập
theo Nghị định số 08/NĐ-CP ngày 02 tháng 01 năm 2004 của Chính Phủ. Tổng số dân
là 9.151 người, 1.915 hộ, trong đó có 1.308 hộ là người Vân Kiều (chiếm 68,3 % tổng
số hộ của 5 xã), dân tộc Pacô chỉ có 1 hộ, còn lại là người Kinh. Kết quả thống kê tình
hình dân số, diện tích và mật độ dân số năm 2004 của vùng nghiên cứu được trình bày
ở Bảng 10.
Bảng 10: Thống kê tình hình dân số, diện tích và mật độ dân số trong khu vực năm 2004
Hạng mục
Hướng
Lập
+ Vân Ki
ều
182
180
351
254
341
1.308
+ Pacô 0
0
0
0
0 0
+ Khác 0
0
1
1668
742
952 4.440
Lao động 426
422
1.634
592
763 3.837
+ Nam
212
218
862
300
385 1.617
+ N
ữ
66,5
22,26
M
ật độ dân
số(người/km2)
7,4
15,9
28,2
7,5
16,3
15,06
Diện tích tự nhi
ên
(km2)
155,37
65,2
124,79
204,56
116,55
của người dân trong vùng vẫn còn gặp nhiều khó khăn, cơ sở hạ tầng phục vụ cho
công tác giảng dạy còn thiếu, điều kiện giao thông đi lại khó khăn đặc biệt là vào mùa
mưa.
2.4.3 Công nghiệp và dịch vụ
Tình hình phát triển các ngành công nghiệp, thương mại và dịch vụ ngoài quốc
doanh trong vùng nói chung còn kém phát triển và số lượng còn ít. Cụ thể là, tổng số
cơ sở công nghiệp ngoài quốc doanh trong vùng là 21 cơ sở, tổng sổ cơ sở thương
mại và dịch vụ ngoài quốc doanh là 51 cơ sở (Niên giám thống kê năm 2004 huyện
Hướng Hoá).
2.4.4 Giao thông và y tế
Mạng lưới giao thông trong vùng khá phát triển, các xã trong vùng đều có
đường ô tô đến tận trụ sở UBND. Tuy nhiên vào mùa mưa giao thông đi lại giữa các
xã trong vùng là rất khó khăn. Mạng lưới y tế đã có tới các xã, 100% các xã trong
vùng đều có trạm y tế nhà cấp 4 trở lên, nhưng nhìn chung công tác chăm sóc sức
khoẻ cho nhân dân còn nhiều hạn chế, thuốc chữa bệnh còn thiếu, và đội ngũ cán bộ y
tế chăm sóc sức khỏe cho nhân dân vẫn còn thiếu.
2.4.5 Chăn nuôi gia súc
Tình hình chăn nuôi gia súc trong vùng nói chung là tương đối phát triển cả về
số lượng và chất lượng. Theo thông tin từ niên giám thống kê từ năm 2000 đến nay số
lương các đan gia súc ở tất cả các xã đều tăng đã góp một phần đáng kể thu nhập cho
nhiều hộ gia đình. Tuy vậy chủ yếu là chăn thả rông nên chất lượng đàn gia súc ở đây
không được cao.
Bảng 11: Tổng đàn gia súc trong vùng nhiên cứu năm 2004
Đơn vị: con
Hạng mục
Hướng
782
Ngựa 3 0 2 3 1
9