Tiểu luận kinh tế đề tài một số vấn đề về phá sản doanh nghiệp - Pdf 12

Đề tài “Một số vấn đề về phá sản doanh nghiệp”
LỜI MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường, do sự tác động của quy luật kinh tế
trong đó có quy luật cạnh tranh nên đã làm nảy sinh các mối quan hệ mới
mà bản thân kinh tế kế hoạch hoá không hàm chứa được. Đó là hiện tượng
phá sản.
Tuy nhiên phá sản là một vấn đề từ lý luận đến thực tiễn là một quá
trình tìm hiểu và nghiên cứu bởi khi một doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản
nó sẽ ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế và đặc biệt là quyền lợi của người
lao động ít nhiều sẽ bị xáo trộn như tiền lương, các chế độ, việc làm và các
vấn đề tiêu cực phát sinh và các khoản nợ của doanh nghiệp và hợp tác xã.
Khi một doanh nghiệp, hợp tác xã bị lâm vào tình trạng phá sản đã
làm nảy sinh nhiều mối quan hệ phức tạp cần được giải quyết. Chẳng
những quan hệ nợ nần giữa các chủ nợ với doanh nghiệp mắc nợ, quan hệ
giữa doanh nghiệp mắc nợ với người lao động do tình trạng mất khả năng
thanh toán nợ gây ra. Vì vậy việc giải quyết kịp thời các vấn đề đó có ý
nghĩa rất quan trọng nhằm thiết lập một trật tự cần thiết để thúc đẩy sự phát
triển kinh tế đồng thời đảm bảo quyền chủ thể của các mối quan hệ hay các
bên liên quan.
Đối với nước ta việc phá sản vẫn là một vấn đề mới mẻ. Cho nên
thực tiễn giải quyết phá sản của nước ta trong thời gian qua còn gặp không
ít khó khăn vướng mắc. Chính vì vậy mà việc nắm bắt, hiểu biết đầy đủ về
thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản của doanh nghiệp là sự cần
thiết và cấp bách. Vì những lý do trên nhóm chúng tôi quyết định chọn đề
tài: “Một số vấn đề về phá sản doanh nghiệp” nhằm để tìm hiểu thêm
một phần nào đó về luật phá sản của nước ta hiện nay. Vì vậy mà việc tìm
hiểu về những việc làm của doanh nghiệp, hợp tác xã trước khi lâm vào
tình trạng phá sản là một vấn đề quá sâu rộng mà trong thời gian ngắn ngủi
nhóm của chúng em không thể nào tìm hiểu được hết, mà chúng em chỉ cố
gắng nắm bắt được một phần nào đó về luật phá sản của doanh nghiệp, hợp
tác xã. Trong thời kỳ kinh tế hiện nay của nước ta thì càng phải biết rõ

doanh không đem lại kết quả, con nợ vi phạm cam kết hoặc Hội nghị chủ
nợ không chấp nhận kế hoạch phục hồi hoặc con nợ không có kế hoạch thì
lúc đó Tòa án mới có thể quyết định chuyển sang tuyên bố phá sản với con
nợ và thanh lý tài sản của nó. Giải quyết mối quan hệ giữa hai thủ tục phục
hồi và thanh lý như vậy là cứng nhắc và máy móc.
Thực tế cho thấy trong nhiều trường hợp tại thời điểm thụ lý đơn yêu
cầu giải quyết tuyên bố phá sản đã có nhiều con nợ ngừng hoạt động, hoàn
toàn không còn khả năng phục hồi nhưng do Luật quy định, thẩm phán vẫn
phải tuần tự thực hiện các quy định của thủ tục phục hồi. Điều này chỉ làm
kéo dài thời gian vô ích, không có ý nghĩa gì cả.
Điểm tiến bộ được khá nổi bật trong Luật phá sản 2004 chính là
những quy định về mối quan hệ đặc thù giữa các thủ tục cấu thành trong
thủ tục phá sản. Điều này cho phép Tòa án giải quyết yêu cầu tuyên bố phá
sản một cách uyển chuyển tùy thuộc vào những tình huống cụ thể. Tòa án
có thể quyết định tuyên bố phá sản với con nợ ngay mà không cần thụ lý
đơn yêu cầu tuyên bố phá sản (khoản 1 Điều 87 Luật phá sản 2004: Trong
Đề tài tiểu luận nhóm 2– ĐHKT04TC
Đề tài “Một số vấn đề về phá sản doanh nghiệp”
thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày hết thời hạn nộp tiền tạm ứng phí phá
sản do Tòa án ấn định, chủ doanh nghiệp hoặc đại diện hợp pháp của doanh
nghiệp, hợp tác xã nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản không còn tiền và
tài sản khác để nộp tiền tạm ứng phí phá sản thì Toà án ra quyết định tuyên
bố doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản).
Hoặc sau khi thụ lý (khoản 2 Điều 87: Sau khi thụ lý đơn yêu cầu
mở thủ tục phá sản và nhận các tài liệu, giấy tờ do các bên có liên quan gửi
đến, Toà án ra quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản,
nếu doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản không còn tài sản
hoặc còn nhưng không đủ để thanh toán phí phá sản.) hoặc khi đình chỉ thủ
tục thanh lý tài sản (Điều 86: Thẩm phán ra quyết định tuyên bố doanh
nghiệp, hợp tác xã bị phá sản đồng thời với việc ra quyết định đình chỉ thủ

Đề tài “Một số vấn đề về phá sản doanh nghiệp”


Giải thể doanh nghiệp
- Giải thể xuất phát chủ yếu từ ý chí chủ quan của chủ sở hữu Doanh
nghiệp tư nhân, tất cả các thành viên hợp danh (Công ty hợp danh), Hội
đồng thành viên, chủ sở hữu Công ty (Công ty TNHH), Đại hội đồng cổ
đông (Công ty cổ phần) khi doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, không tìm được
hướng đi mới.
- Giải thể theo quyết định của chủ Doanh nghiệp (Doanh nghiệp tư
nhân), tất cả các thành viên hợp danh ( Công ty hợp danh), Hội đồng thành
viên, chủ sở hữu Công ty (Công ty TNHH), Đại hội đồng cổ đông (Công ty
cổ phần).
- Doanh nghiệp giải thể chỉ đơn thuần là giải quyết dứt điểm tình trạng
công nợ, Thanh lý tài sản chia cho các cổ đông, trả giấy phép.
- Doanh nghiệp giải thể sau khi thực hiện xong các nghĩa vụ tài sản
vẫn có thể chuyển sang một ngành nghề kinh doanh khác nếu có thể.
- Giám đốc doanh nghiệp giải thể có thể đứng ra thành lập, điều hành
công ty mới.
B. Giải quyết việc phá sản theo pháp luật hiện hành (thủ tục giải
quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp)
I. Những đối tượng có quyền và nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu tuyên bố
phá sản doanh nghiệp :
*Đối tượng có quyền:
-Chủ nợ có bảo đảm một phần: là chủ nợ có khoản nợ được bảo đảm
bằng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã hoặc của người thứ ba mà giá trị
tài sản bảo đảm ít hơn khoản nợ đó.
-Chủ nợ không có bảo đảm: là chủ nợ có khoản nợ không bảo đảm
bằng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã hoặc người thứ ba.
-Người lao động: Trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã không

công ty cổ phần lâm vào tình trạng phá sản thì cổ đông hoặc nhóm cổ đông
có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản theo quy định của điều lệ
công ty).
Điều 17. Quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của các cổ đông
công ty cổ phần
1. Khi nhận thấy công ty cổ phần lâm vào tình trạng phá sản thì cổ
đông hoặc nhóm cổ đông có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
theo quy định của điều lệ công ty; nếu điều lệ công ty không quy định thì
việc nộp đơn được thực hiện theo nghị quyết của đại hội cổ đông. Trường
hợp điều lệ công ty không quy định mà không tiến hành được đại hội cổ
đông thì cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu trên 20% số cổ phần phổ
thông trong thời gian liên tục ít nhất 6 tháng có quyền nộp đơn yêu cầu mở
thủ tục phá sản đối với công ty cổ phần đó.
2. Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, các giấy tờ, tài liệu gửi kèm theo
đơn yêu cầu được thực hiện theo quy định tại Điều 15 của Luật này, trừ các
giấy tờ, tài liệu quy định tại các điểm d, đ và e khoản 4 Điều 15 của Luật
này.
*Đối với nghĩa vụ:
Theo điều 15 Luật phá sản (khi nhận thấy doanh nghiệp, hợp tác xã
lâm vào tình trạng phá sản thì chủ doanh nghiệp hoặc đại diện hợp pháp
Đề tài tiểu luận nhóm 2– ĐHKT04TC
Đề tài “Một số vấn đề về phá sản doanh nghiệp”
của doanh nghiệp, hợp tác xã có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá
sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã).
Điều 15. Nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của doanh
nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản:
1. Khi nhận thấy doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản
thì chủ doanh nghiệp hoặc đại diện hợp pháp của doanh nghiệp, hợp tác xã
có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp
tác xã đó.

Đề tài tiểu luận nhóm 2– ĐHKT04TC
Đề tài “Một số vấn đề về phá sản doanh nghiệp”
g) Những tài liệu khác mà Toà án yêu cầu doanh nghiệp, hợp tác xã
phải cung cấp theo quy định của pháp luật.
5. Trong thời hạn ba tháng, kể từ khi nhận thấy doanh nghiệp, hợp tác
xã lâm vào tình trạng phá sản, nếu chủ doanh nghiệp hoặc đại diện hợp
pháp của doanh nghiệp, hợp tác xã không nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá
sản thì phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật.
II. Cơ quan có thẩm quyền giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản
doanh nghiệp và t hủ tục tuyên bố phá sản :
Thẩm quyền của tòa án:.
Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nhận đơn và
giải quyết yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp được thành lập
và hoạt động theo Luật doanh nghiệp; Hợp tác xã theo Luật hợp tác xã đã
đăng ký kinh doanh tại cơ quan đăng ký kinh doanh thành phố.
Toà án nhân dân huyện, quận có thẩm quyền nhận đơn và giải quyết
yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với hợp tác xã đã đăng ký kinh doanh tại cơ
quan đăng ký kinh doanh cấp huyện, quận đó.
Những người có quyền nộp đơn:
- Chủ nợ
- Người lao động trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã không trả
được lương, các khoản nợ khác cho người lao động.
- Chủ sở hữu doanh nghiệp nhà nước
- Các cổ đông công ty cổ phần
- Thành viên hợp danh công ty hợp danh.
Những người có nghĩa vụ nộp đơn:
- Doanh nghiệp, Hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản.
▪ Hồ sơ cần thiết:
I. Người nộp đơn là chủ nợ
Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản phải có các nội dung chính sau đây:

hợp tác xã đó.
2. Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản phải có các nội dung chính sau
đây:
a) Ngày, tháng, năm làm đơn;
b) Tên, địa chỉ của doanh nghiệp, hợp tác xã;
c) Căn cứ của việc yêu cầu mở thủ tục phá sản.
3. Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản phải được gửi cho Toà án có
thẩm quyền quy định tại Điều 7 của Luật phá sản.
4. Phải nộp kèm theo đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản các giấy tờ, tài
liệu sau đây:
a) Báo cáo tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp
tác xã, trong đó giải trình nguyên nhân và hoàn cảnh liên quan đến tình
trạng mất khả năng thanh toán; nếu doanh nghiệp là công ty cổ phần mà
pháp luật yêu cầu phải được kiểm toán thì báo cáo tài chính phải đựơc tổ
chức kiểm toán độc lập xác nhận;
Đề tài tiểu luận nhóm 2– ĐHKT04TC
Đề tài “Một số vấn đề về phá sản doanh nghiệp”
b) Báo cáo về các biện pháp mà doanh nghiệp, hợp tác xã đã thực
hiện, nhưng vẫn không khắc phục được tình trạng mất khả năng thanh toán
các khoản nợ đến hạn;
c) Bảng kê chi tiết tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã và địa điểm
nơi có tài sản nhìn thấy được (mẫu 1).
d) Danh sách các chủ nợ của doanh nghiệp, hợp tác xã trong đó ghi rõ
tên, địa chỉ của các chủ nợ; ngân hàng mà chủ nợ có tài khoản; các khoản
nợ đến hạn có bảo đảm và không có bảo đảm; các khoản nợ chưa đến hạn
có bảo đảm và không có bảo đảm (mẫu 2).
đ) Danh sách những ngươì mắc nợ của doanh nghiệp, hợp tác xã
trong đó ghi rõ tên, địa chỉ của họ; ngân hàng mà họ có tài khoản; các
khoản nợ đến hạn có bảo đảm và không có bảo đảm; các khoản nợ chưa
đến hạn có bảo đảm và không có bảo đảm (mẫu 3).

2. Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, các giấy tờ, tài liệu gửi kèm theo
đơn yêu cầu đợc thực hiện:
▪ Thời gian giải quyết:
- Ra quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản: 30 ngày kể từ
ngày toà án thụ lý hồ sơ.
- Niêm yết danh sách chủ nợ, người mắc nợ: 60 ngày kể từ ngày toà
án ra quyết định mở thủ tục phá sản.
- Khiếu nại và giải quyết khiếu nại danh sách chủ nợ: 15 ngày kể từ
ngày niêm yết.
- Hội nghị chủ nợ: 15 ngày kể từ ngày khoá sổ danh sách chủ nợ.
▪ Địa điểm tiếp nhận:
- Tổ thụ lý, Văn phòng TAND ĐỊA PHƯƠNG
III. Hội nghị chủ nợ :
Hội nghị chủ nợ là cơ quan quyền lực cao nhất của các chủ nợ do Tòa
án triệu tập và chủ trì. Hội nghị này được lập ra nhằm giúp cho các chủ nợ
và doanh nghiệp có cơ hội đàm phán với nhau để đi đến vấn đề thanh toán
ổn thỏa: có 2 trường hợp
- Phục hồi: nếu hội nghị chủ nợ lần thứ nhất thông qua nghị quyết
đồng ý với giải pháp tổ chức lại hoạt động kinh doanh , kế hoạch thanh
toán nợ cho các chủ nợ thì doanh nghiệp sẽ được hoạt động trong tối đa 3
năm có sự giám sát của chủ nợ. Thẩm phán sẽ ra quyết định công nhận
nghị quyết của hội nghị chủ nợ.Nghị quyết này có hiệu lực đối với tất cả
các bên có liên quan. Sau 3 năm , nếu doanh nghiệp hoàn tất nợ đúng hạn
thì doanh nghiệp đó tiếp tục hoạt động.
- Thanh lý tài sản của doanh nghiệp: nếu nghị quyết của hội nghị
chủ nợ không đồng ý cho doanh nghiệp cơ hội phục hồi hoặc hội nghị chủ
nợ không thành thì Tòa sẽ quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản. Thứ tự
thanh lý tài sản như sau:
+ Các khoản phí , lệ phí , chi phí phá sản
+ Các khoản lương , trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội theo quy định

V. Tuyên bố phá sản doanh nghiệp và phân chia giá trị tài sản của
doanh nghiệp
Tài sản phá sản là tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình
trạng phá sản được xác định từ thời điểm tòa án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ
tục phá sản. Tuy nhiên để bảo vệ quyền lợi của các chủ nợ trước những
hành vi bất hợp pháp của doanh nghiệp, hợp tác xã đã thực hiện, thời điểm
xác định tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xa lâm vào tình trạng phá sản có
thể được đẩy lên ở thời điểm 3 tháng trước ngày tòa án thụ lý đơn yêu cầu
mở thủ tục phá sản.
VI. Thi hành quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp
*Quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản:
1/Thẩm phán ra quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá
sản đồng thời với việc ra quyết định đình chỉ thủ tục thanh lý tài sản. Đây
là thủ tục phá sản bình thường.
2/ Trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày hết thời hạn nộp tiền tạm
ứng phí phá sản do Tòa án ấn định, chủ doanh nghiệp hoặc đại diện hợp
pháp của doanh nghiệp, hợp tác xã nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
không còn tiền và tài sản khác để nộp tiền tạm ứng phí phá sản thì Toà án
Đề tài tiểu luận nhóm 2– ĐHKT04TC
Đề tài “Một số vấn đề về phá sản doanh nghiệp”
ra quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản. Đây là thủ tục
phá sản đặc biệt.
3/ Sau khi thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản và nhận các tài liệu,
giấy tờ do các bên có liên quan gửi đến, Toà án ra quyết định tuyên bố
doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản, nếu doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào
tình trạng phá sản không còn tài sản hoặc còn nhưng không đủ để thanh
toán phí phá sản. Đây là thủ tục phá sản đặc biệt.
Ở trường hợp 2 và 3 là dành cho những doanh nghiệp, hợp tác xã lâm
vào tình trạng phá sản đã hoàn toàn không còn tài sản hoặc còn tài sản
nhưng không đủ nộp tiền tạm ứng phí phá sản hay không đủ để thanh toán

Đề tài tiểu luận nhóm 2– ĐHKT04TC
Đề tài “Một số vấn đề về phá sản doanh nghiệp”
cơ hội đầu tư tốt, đi ngược lại tiêu chí tối đa hoá giá trị doanh nghiệp. Một
vấn đề khác của doanh nghiệp khi sử dụng cấu trúc vốn thâm dụng nợ đó
chính là tình trạng đầu tư kém hiệu quả, đầu tư không vì mục tiêu tối đa
hoá giá trị doanh nghiệp, hậu quả tất yếu là doanh nghiệp sẽ nhanh chóng
rơi vào tình trạng khó khăn trong thực hiện các nghĩa vụ nợ.
Tại Việt Nam quản trị tài chính trong các doanh nghiệp có những lúc
bị xem nhẹ. Việc lựa chọn nguồn vốn đáp ứng cho nhu cầu hoạt động kinh
doanh đôi khi được hình thành một cách tự phát, không dựa trên những
nguyên lý cơ bản của một chiến lược quản trị tài chính hiện đại, kết hợp với
tình trạng đầu tư tràn lan kém hiệu quả và không đúng sở trường và chức
năng hoạt động như: chứng khoán, địa ốc trong bối cảnh biến động khó
lường của những thị trường này thì tình trạng thua lỗ khó có thể tránh
khỏi. Từ thực tế đó tình hình nợ và nợ xấu tại các doanh nghiệp đã và đang
phát sinh khó có thể kiểm soát.
Có nhiều nguyên nhân dẫn tới tình trạng trên tại các doanh nghiệp đặc
biệt là doanh nghiệp nhà nước như: Tính kém minh bạch trong công bố
thông tin, năng lực yếu kém , sự thiếu trách nhiệm … dẫn tới tình trạng các
nhà quản lý doanh nghiệp đã đưa ra các quyết định đầu tư kém hiệu quả và
kết quả là tình trạng nợ chồng lên nợ như đã trình bày ở trên. Theo chúng
tôi cần phải đánh giá tình trạng nợ tại các doanh nghiệp một cách toàn
diện, chặt chẽ và nghiêm túc để có thể kiểm soát thời điểm doanh nghiệp
bắt đầu rơi vào tình trạng khó khăn trong việc thực hiện các nghĩa vụ nợ
hay nói một cách khác là khi doanh nghiệp rơi vào tình trạng khánh kiệt tài
chính để doanh nghiệp có biện pháp tái cấu trúc đưa doanh nghiệp thoát
khỏit tình trạng khánh kiệt tài chính, tránh được khả năng phá sản có thể
xảy ra.
Ngược lại nếu không thể vượt qua tình trạng này nên mạnh dạn áp
dụng biện pháp phá sản nhằm hạn chế những tổn thất rủi ro cho các nhà

hạn chế bất cập của Luật phá sản doanh nghiệp 1993, bổ sung những nội
dung mới trên cơ sở tổng kết thực tiễn 9 năm áp dụng Luật phá sản doanh
nghiệp 1993, tham khảo kinh nghiệm nước ngoài, thể chế hóa chính sách
của Đảng và Nhà nước trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
II/ Một số kiến nghị của bản thân góp phần hoàn thiện pháp luật
phá sản doanh nghiệp
Để Luật phá sản thực sự đi vào cuộc sống cần khắc phục những vấn
đề sau:
Thứ nhất, khái niệm phá sản vẫn chưa triệt để. Điều 3 Luật phá sản
2004 không quy định rõ số nợ và thời gian quá hạn không thực hiện nghĩa
vụ thanh toán của con nợ. Vì vậy về hình thức, con nợ chỉ cần mắc nợ số
tiền là 1.000 đồng và quá hạn thanh toán 1 ngày sau khi chủ nợ có đơn yêu
cầu đòi nợ cũng có thể bị xem là lâm vào tình trạng phá sản.
Điều này có thể dẫn đến sự lạm dụng quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ
tục phá sản từ phía các chủ nợ. Kinh nghiệm một số nước khi xây dựng
khái niệm phá sản theo trường phái định lượng thì thường có quy định về
số nợ cụ thể, về thời hạn trễ thanh toán nợ từ phía con nợ sau khi chủ nợ có
yêu cầu đòi nợ.
Thứ hai, về các loại chủ nợ, Luật chỉ phân biệt chủ nợ có đảm bảo,
chủ nợ không đảm bảo, chủ nợ có đảm bảo một phần (điều 6). Các chủ nợ
khác nhau thì có địa vị pháp lý khác nhau trong thủ tục phá sản. Chủ nợ có
đảm bảo và chủ nợ không có đảm bảo có quyền và nghĩa vụ khác nhau
trong quá trình tham gia vào thủ tục phá sản. Về nguyên tắc, Luật phá sản
2004 đã thể hiện tinh thần bảo vệ lợi ích của chủ nợ có đảm bảo triệt để
hơn so với chủ nợ không có đảm bảo.
Đề tài tiểu luận nhóm 2– ĐHKT04TC
Đề tài “Một số vấn đề về phá sản doanh nghiệp”
Tuy nhiên một số quy định của Luật phá sản 2004 lại không phù hợp
với tinh thần chủ đạo đó. Cụ thể, ngay từ khi có quyết định thụ lý đơn yêu
cầu mở thủ tục phá sản thì quyền được thanh toán nợ đến hạn của chủ nợ

đồng với một con nợ đã có quyết định mở thủ tục phá sản và mọi cố gắng
phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp lâm vào tình trạng khánh
kiệt tài chính chỉ là mong muốn không có tính khả thi.
Quyền ưu tiên thanh toán của chủ nợ mới cần được thừa nhận trong cả
thủ tục thanh lý tài sản. Một vấn đề được đặt ra: Các chủ nợ mới có quyền
tham gia vào danh sách chủ nợ hay không? Câu hỏi này không được trả lời
rõ ràng trong Luật. Các chủ nợ có đảm bảo mặc dù có quyền ưu tiên thanh
toán nhưng vẫn phải có tên trong danh sách chủ nợ để có quyền đòi nợ, có
Đề tài tiểu luận nhóm 2– ĐHKT04TC
Đề tài “Một số vấn đề về phá sản doanh nghiệp”
quyền tham gia vào hội nghị chủ nợ. Theo lôgíc này thì các chủ nợ mới
cũng phải có tên trong danh sách chủ nợ. Tuy nhiên yêu cầu này có một số
khó khăn. Vấn đề là danh sách chủ nợ được lập trong thời hạn 75 ngày kể
từ ngày cuối cùng đăng báo quyết định của tòa án mở thủ tục phá sản. Sau
13 ngày niêm yết và giải quyết khiếu nại nếu có thì danh sách này được
đóng lại.
Trong khi đó doanh nghiệp có quyết định mở thủ tục phá sản vẫn tồn
tại, vẫn hoạt động kinh doanh, vẫn phải ký kết các giao dịch mới, có các
chủ nợ mới và chỉ chấm dứt hoạt động kinh doanh khi có quyết định thanh
lý tài sản (Điều 82). Để giải quyết khó khăn này, Luật cần quy định khả
năng bổ sung danh sách chủ nợ trong trường hợp cần thiết.
III/ Hậu quả pháp lý của quyết định tuyên bố phá sản doanh
nghiệp và vấn đề xử lý vi phạm
Nếu căn cứ vào tính chất của vụ phá sản, có hai loại Phá sản về hiệu
quả kinh tế và Phá sản về tài chính:
1) Phá sản về hiệu quả kinh tế là tình trạng các khoản lợi nhuận ròng
thu được từ hoạt động kinh doanh không tương xứng với vốn đầu tư đã bỏ
ra. Mức lợi nhuận tương xứng ở đây được hiểu là mức lợi nhuận cơ hội
tương ứng với mức rủi ro của cuộc đầu tư đó. Một doanh nghiệp có thể bị
lâm vào tình trạng phá sản về hiệu quả kinh tế ngay cả trong trường hợp

Đề tài tiểu luận nhóm 2– ĐHKT04TC
Đề tài “Một số vấn đề về phá sản doanh nghiệp”
KẾT LUẬN
Đối với chúng em Luật phá sản còn quá mới mẻ, chúng em chỉ biết
tìm hiểu những gì mà chúng em có thể biết đựơc. Luật phá sản của nước ta
còn quá nhiều thủ tục cần phải rút ngắn thời gian. Trong Luật PS DN cần
có thủ tục “phá sản rút gọn” hoặc thủ tục thanh lý đặc biệt đối với những
trường hợp có khoản nợ không lớn, con nợ tự nguyện nộp đơn, vụ việc đơn
giản hoặc có sự nhất trí của các bên. Theo đó, giảm bớt thủ tục đăng báo,
khiếu nại, triệu tập các chủ nợ một lần, rút ngắn thời gian giải quyết, trao
quyền rộng rãi hơn cho khối chủ nợ trong việc quản lý và quyết định các tài
sản còn lại của DN. Phá sản doanh nghiệp để lại những hậu quả tiêu cực
nhất định về mặt xã hội bởi nó làm tăng số lượng người thất nghiệp, làm
cho sức ép về việc làm ngày càng lớn và có thể làm nảy sinh các tệ nạn xã
hội, thậm chí các tội phạm.
Pháp luật về phá sản luôn là một hệ thống mở và vận động để phù
hợp với các yêu cầu của mỗi nền kinh tế ở các giai đoạn khác nhau. Tuy
nhiên sự hình thành nhanh chóng các công ty đa quốc gia cùng với toàn cầu
hoá trong điều kiện hiện nay đòi hỏi các nền kinh tế phải có cách nhìn nhận
hiện tượng phá sản một cách thống nhất, và sư hợp tác chặt chẽ giữa các
quốc gia để bảo đảm an ninh kinh tế chung trên cơ sở giảm thiểu các bất lợi
bắt nguồn từ phá sản.
Vì vậy chúng em tìm hiểu về Luật phá sản của doanh nghiệp là cũng
để biết thêm về luật kinh doanh của nhà nước, nắm bắt được thêm kiến
thức về luật nhà nước Việt Nam nhiều hơn để có thể áp dụng vào thực tế
để không sai sót, không làm trái luật pháp đã quy định. Là những nhân viên
kế toán thì chúng em cần phải có nhiều kiến thức về chuyên môn kế toán
mà còn phải có kiến thức về luật pháp đề làm việc tránh sai sót gây ra hậu
quả không tốt cho cơ quan của mình.
Đề tài tiểu luận nhóm 2– ĐHKT04TC

I/ Thực tiễn phá sản doanh nghiệp ở nước ta trang 12
II/ Một số kiến nghị của bản thân góp phần hoàn thiện pháp luật phá sản
doanh nghiệp trang 14
III/ Hậu quả pháp lý của quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp và vấn
đề xử lý vi phạm trang 16
KẾT LUẬN trang 18
TÀI LIỆU THAM KHẢO trang 19
Đề tài tiểu luận nhóm 2– ĐHKT04TC


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status