Vũ Quỳnh Hương Kiểm toán 44LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay trong xu thế hội nhập quốc tế, sự phát triển của mỗi quốc gia
đều gắn liền và quan hệ chặt chẽ với cộng đồng quốc tế và khu vực. Mỗi thay
đổi về kinh tế, chính trị đều ảnh hưởng đến các quốc gia. Hội nhập kinh tế quốc
tế mang lại nhiều lợi ích dài hạn, nhưng trước mắt đặt ra không ít thách thức đối
với nền kinh tế quốc gia. Việt Nam đã gia nhập AFTA và đang trong lộ trình cắt
giảm thuế quan. Việt Nam cũng chính thức trở thành thành viên thứ 21 của Diễn
đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC). Trong khuôn khổ
APEC, Việt Nam đã đưa ra kế hoạch hành động quốc gia mang tính tự do hoá
thương mại và đầu tư vào năm 2020. Hiệp định thương mại Việt - Mỹ cũng đã
được ký kết và có hiệu lực từ năm 2001. Việt Nam đang tích cực đàm phán và
chuẩn bị các điều kiện để sớm gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO).
Thị trường kiểm toán cũng không nằm ngoài xu thế đó.Vì vậy, để chuẩn
bị cho nền kinh tế hội nhập và phát triển các Công ty kiểm toán phải không
ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ cung cấp cho các khách hàng. Bất kỳ một
cuộc kiểm toán nào cũng được thực hiện theo trình tự thống nhất trong đó kế
hoạch kiểm toán là bước đầu tiên của quy trình kiểm toán. Kế hoạch kiểm toán
đúng đắn là cơ sở để kiểm toán viên thu thập bằng chứng có giá trị góp phần
đưa ra các nhận xét chính xác về thực trạng hoạt động của đơn vị được kiểm
toán, giữ vững và nâng cao uy tín và hình ảnh của Công ty kiểm toán đối với
khách hàng. Chính vì vậy, việc tìm hiểu và hoàn thiện Giai đoạn Lập kế hoạch
trong kiểm toán báo cáo tài chính là một vấn đề cần được quan tâm hiện nay của
các Bộ, ban, ngành, các tổ chức cũng như các Công ty kiểm toán. Đó chính là lý
do em chọn đề tài “Lập kế hoạch kiểm toán trong quy trình kiểm toán Báo cáo
tài chính tại Công ty Cổ Phần Kiểm toán và Tư vấn A&C” làm đề tài cho Báo
cáo chuyên đề thực tập của mình.
PHẦN 1
chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành (hoặc được chấp nhận) phản ánh các
thông tin kinh tế, tài chính chủ yếu của đơn vị” (Điểm 04). Ngoài ra, bảng khai
tài chính còn bao gồm những bảng kê khai tài sản cá nhân, bảng kê khai tài sản
đặc biệt, các bảng kê khai theo yêu cầu của chủ đầu tư, các bảng quyết toán
công trình, bảng quyết toán ngân sách,…
2
Vũ Quỳnh Hương Kiểm toán 44
1.2.2 Lập kế hoạch chiến lược
1.2.2.1 Vai trò của lập kế hoạch chiến lược trong quy trình lập kế hoạch
kiểm toán
Kế hoạch kiểm toán chính là công cụ giúp kiểm toán xác định nội dung
công việc cần thực hiện, tổ chức phối hợp công việc, thực hiện và giám sát hoạt
động của đoàn kiểm toán. Kế hoạch là 1 tài liệu tổng hợp về mục tiêu cụ thể của
cuộc kiểm toán, tính chất và các đặc trưng cơ bản của đơn vị được kiểm toán và
các giải pháp kiểm toán cơ bản.
Lập kế hoạch chiến lược là bước đầu tiên mà kiểm toán viên và công ty
kiểm toán cần thực hiện trong các cuộc kiểm toán. Kế hoạch chiến lược bao
gồm: “…những định hướng cơ bản, nội dung trọng tâm và phương pháp tiếp cận
chung của cuộc kiểm toán do cấp chỉ đạo vạch ra dựa trên hiểu biết về tình hình
kinh doanh hoạt động và môi trường kinh doanh của đơn vị được kiểm toán.”
(Đoạn 04, VSA 300).
Cũng theo VSA 300 (đoạn 13): “kế hoạch chiến lược phải được lập cho
các cuộc kiểm toán lớn về quy mô, tính chất phức tạp, địa bàn rộng hoặc kiểm
toán báo cáo tài chính của nhiều năm.” Khi cuộc kiểm toán có đặc điểm trên,
đơn vị kiểm toán bắt buộc phải lập kế hoạch chiến lược, còn trong những cuộc
kiểm toán khác thì không nhất thiết phải lập kế hoạch này.
Sơ đồ 1.1 : Sơ đồ khái quát nội dung và trình tự các bước công việc trong
giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán.
Lập kế hoạch chiến lược đóng vai trò cơ bản trong quy trình lập kế hoạch
kiểm toán như sau:
ý đến những nội dung chủ yếu như: Động lực cạnh tranh, phân tích thái cực
kinh doanh của doanh nghiệp cũng như các yếu tố về sản phẩm, thị trường tiêu
thụ, giá cả và các hoạt động hỗ trợ sau bán hàng...
4
Vũ Quỳnh Hương Kiểm toán 44
5
Lập kế hoạch
chiến lược
Tìm hiểu tình hình kinh
doanh của khách hàng
Dự kiến nhóm trưởng và
thời gian thực hiện
Xác định nhu cầu về các
chuyên gia
Xác định những vấn đề
liên quan đến BCTC
Xác định vùng rủi ro và
ảnh hưởng đến BCTC
Đánh giá hệ thống KSNB
Xác định mục tiêu và
phương pháp kiểm toán
Duyệt và thông báo kế
hoạch chiến lược
Lập kế hoạch
tổng thể
Thu thập thông tin về hoạt
động của khách hàng
Tổng hợp kế hoạch tổng
thể
Các vấn đề khác
của nó tới báo cáo tài chính (đánh giá ban đầu về rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm
soát).
Bước 4: Đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ.
Bước 5: Xác định các mục tiêu kiểm toán trọng tâm và phương pháp tiếp
cận kiểm toán.
Bước 6: Xác định nhu cầu về sự hợp tác của các chuyên gia: Chuyên gia
tư vấn pháp luật, kiểm toán viên nội bộ, kiểm toán viên khác và các chuyên gia
khác như kỹ sư xây dựng, kỹ sư nông nghiệp...
Bước 7: Dự kiến nhóm trưởng và thời gian thực hiện.
Bước 8: Giám đốc duyệt và thông báo kế hoạch chiến lược cho nhóm
kiểm toán. Căn cứ kế hoạch chiến lược đã được phê duyệt, trưởng nhóm kiểm
toán lập kế hoạch kiểm toán tổng thể và chương trình kiểm toán.
1.2.3 Lập kế hoạch tổng thể
Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 300 quy định: “Kế hoạch kiểm toán
phải được lập một cách thích hợp nhằm đảm bảo bao quát hết các khía cạnh
trọng yếu của cuộc kiểm toán, đảm bảo phát hiện những vấn đề tiềm ẩn và cuộc
kiểm toán được hoàn thành đúng hạn”.
Do đó, kế hoạch kiểm toán tổng thể “là việc cụ thể hoá kế hoạch chiến
lược và phương pháp tiếp cận chi tiết về nội dung, lịch trình và phạm vi dự kiến
của các thủ tục kiểm toán. Mục tiêu của việc lập kế hoạch kiểm toán tổng thể là
để có thể thực hiện công việc kiểm toán một cách có hiệu quả và theo đúng thời
gian dự kiến”.(Đoạn 05, VSA 300).
Kế hoạch kiểm toán tổng thể phải được lập cho mọi cuộc kiểm toán,
trong đó mô tả phạm vi dự kiến và cách thức tiến hành công việc kiểm toán. Kế
hoạch kiểm toán tổng thể phải đầy đủ, chi tiết làm cơ sở để lập chương trình
kiểm toán. Hình thức và nội dung của kế hoạch kiểm toán tổng thể thay đổi tuỳ
theo qui mô của khách hàng, tính chất phức tạp của công việc kiểm toán,
phương pháp và kỹ thuật kiểm toán đặc thù do kiểm toán viên sử dụng.
Do đó, việc lập kế hoạch kiểm toán tổng thể thường được triển khai qua
các bước chi tiết sau.
Sau khi hai bên ký kết và đã hoàn tất mọi thủ tục pháp lý cần thiết, Công
ty kiểm toán sẽ chính thức trở thành kiểm toán viên của đơn vị. (Phụ lục minh
họa biểu mẫu của một hợp đồng kiểm toán.)
1.2.3.2 Thu thập thông tin cơ sở
Mỗi ngành nghề kinh doanh đều có những đặc điểm riêng biệt, chính đặc
điểm đó ảnh hưởng đến các nguyên tắc kế toỏn đặc thự. Hơn nữa, việc hiểu thấu
đáo về hoạt động kinh doanh của khách hàng cũng như ngành nghề mà khách
hàng đang hoạt động đó giúp cho kiểm toán viên phân biệt được các sự kiện,
nghiệp vụ, thực tiễn và xét đoán chính xác các thông tin tài chính.
Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 310 - Hiểu biết về tình hình kinh
doanh đó hướng dẫn: “ Để thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm toán viên
phải có hiểu biết cần thiết, đầy đủ về tình hình kinh doanh nhằm đánh giá và
phân tích được các sự kiện, nghiệp vụ và thực tiễn hoạt động của đơn vị được
kiểm toán mà theo kiểm toán viên thì có ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài
chính, đến việc kiểm tra của kiểm toán viên hoặc đến báo cáo kiểm toán”
1
.
Chuẩn mực kiểm toán Quốc tế ISA 310 – Tìm hiểu hoạt động kinh doanh
của đơn vị hướng dẫn: “Để thực hiện công tác kiểm toán tài chính, chuyên gia
kiểm toán phải có hiểu biết đầy đủ về hoạt động kinh doanh của đơn vị để xác
định và hiểu biết các sự kiện, nghiệp vụ và thông lệ của đơn vị, mà theo đánh giá
của chuyên gia kiểm toán, có thể có một tác động quan trọng đến Báo cáo tài
chính, đến việc kiểm tra của chuyên gia kiểm toán hoặc đến báo cáo kiểm toán”.
2
Điều này rất cần thiết khi kiểm toán viên thực hiện kiểm toán với tính
thận trọng nghề nghiệp đúng mức. Mỗi ngành nghề sản xuất kinh doanh có
những hệ thống kế toán riêng và áp dụng các nguyên tắc kế toán đặc thù . Thêm
vào dó, tầm quan trọng của nguyên tắc kế toán cũng thay đổi theo ngành nghề
kinh doanh của khách hàng.
1
nhiều cách khác nhau. Đó là qua những cuộc tranh luận đối với kiểm toán viên
có trách nhiệm với hợp đồng trong những năm trước và kiểm toán viên hiện nay
trong các hợp đồng tương tự, cũng như qua các buổi hội nghị với nhân viên của
khách hàng, trao đổi trực tiếp với Ban Giám đốc công ty khách hàng. Kiểm toán
viên có thể có những kiến thức đó qua nghiên cứu sách báo, tạp chí chuyên
ngành và ở Việt Nam kiểm toán viên có thể lấy các thông tin từ Niêm giám
thống kê do Tổng cục thống kê phát hành hằng năm. Kiến thức đáng kể cũng có
thể thu thập theo cách tham gia một cách tích cực vào các Hiệp hội Kế toán,
Kiểm toán và các chương trình huấn luyện.
3
Đoạn 22 VSA 300
9
Vũ Quỳnh Hương Kiểm toán 44
Những hiểu biết về đặc thù kinh doanh của khách hàng không chỉ hữu ích
trong quá trình xây dựng kế hoạch kiểm toán mà còn giúp cho kiểm toán viên
nhanh chóng xác định được các “khu vực” trọng tâm cần đặc biệt lưu ý khi
kiểm toán, đánh giá tính hợp lý của dự toán kế toán và các giải trình của các nhà
quản lý cũng như xét đoán về sự thích hợp của chế độ kế toán và sự thể hiện của
chế độ này.
1.2.3.2.1 Xem xét lại kết quả của cuộc kiểm toán trước và hồ sơ kiểm toán chung
Các hồ sơ năm trước thường chứa đựng rất nhiều thông tin khách hàng,
về công việc kinh doanh, cơ cấu tổ chức, điều lệ Công ty, chính sách tài chính,
kế toán... Ngoài ra đa phần các Công ty kiểm toán đều duy trì hồ sơ kiểm toán
thường xuyên đối với mỗi khách hàng. Qua đó kiểm toán viên sẽ tìm thấy
những thông tin hữu ích về công việc kinh doanh của khách hàng
Việc cập nhật và xem xét các sổ sách của Công ty là rất cần thiết nhằm
xác định các quyết định của nhà quản lý có phù hợp với luật pháp của nhà nước,
với các chính sách hiện hành của Công ty hay không mà còn giúp kiểm toán
viên hiểu được bản chất của các số liệu cũng như sự biến động của chúng trên
các Báo cáo tài chính được kiểm toán.
Công ty kiểm toán cho rằng không ai trong nhóm kiểm toán có chuyên môn hay
có khả năng về lĩnh vực nào đó để thực hiện những thủ tục kiểm toán cần thiết
nhất định thì công ty kiểm toán có thể quyết định sử dụng chuyên gia bên ngoài.
Tại đoạn 08, 09 và 11 của VSA số 620 - Sử dụng tư liệu của một chuyên
gia hướng dẫn khi sử dụng chuyên gia thì KTV và Công ty Kiểm toán phải xác
định năng lực chuyên môn, tính khách quan của chuyên gia này...thu thập đầy
đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp nhằm chứng minh rằng công việc của
chuyên gia có thể đáp ứng được mục đích của cuộc kiểm toán. Lập kế hoạch
đúng đắn là điều cần thiết để đảm bảo rằng chuyên gia đã có sẵn khi cần và
chuyên gia bắt buộc phải có năng lực và độc lập với Công ty khách hàng.
1.2.3.3 Thu thập thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng
Nếu các thông tin cơ sở được thu thập ở trên giúp cho KTV hiểu được về
các hoạt động kinh doanh của khách hàng, thì việc thu thập các thông tin về
nghĩa vụ pháp lý của khách hàng giúp cho KTV nắm bắt được các quy trình
mang tính pháp lý có ảnh hưởng đến các mặt hoạt động kinh doanh này. Có 3
loại thông tin có liên quan đến trách nhiệm pháp lý của đơn vị được kiểm toán:
- Các thông tin về sự hiện diện hợp pháp và các quy định cho hoạt động
kinh doanh của đơn vị được kiểm toán (các thông tin về tính hợp pháp
về hoạt động của đơn vị).
11
Vũ Quỳnh Hương Kiểm toán 44
- Các quy định về điều lệ quy chế hoạt động của đơn vị không được trái
với các văn bản pháp luật hiện hành.
- Các tuyên bố liên quan đến sát nhập các đơn vị thành viên của đơn vị
được kiểm toán.
Thông thường các văn bản trên được thu thập trong quá trình tiếp xúc với
Ban Giám đốc Công ty khách hàng cụ thể bao gồm các loại sau:
- Giấy phép thành lập và điều lệ của Công ty.
- Biên bản các cuộc họp cổ đông, Hội đồng quản trị và Ban Giám đốc.
- Các Báo cáo tài chính, BCKT, các biên bản thanh tra hay kiểm tra của
hành một cuộc kiểm toán, chuyên gia kiểm toán phải cân nhắc tới tính trọng yếu
của một thông tin và mối quan hệ của nó tới rủi ro kiểm toán... Thông tin là
trọng yếu nếu việc bỏ sót hoặc sai sót của thông tin đó có thể ảnh hưởng tới
quyết định kinh tế của người sử dụng BCTC”.
Tại đoạn 04 của VSA số 320 - Tính trọng yếu trong kiểm toán, xác định:
“Trọng yếu là thuật ngữ thể hiện tầm quan trọng của một thông tin (một số liệu
kế toán) trong BCTC. Thông tin được coi là trọng yếu có nghĩa là nếu thiếu tính
thông tin đó hoặc thiếu chính xác của thông tin đó sẽ ảnh hưởng đến quyết định
của người sử dụng BCTC”.
KTV cần đánh giá mức trọng yếu cho toàn bộ BCTC và phân bổ mức đánh giá
đó cho từng khoản mục trên BCTC.
• Ước lượng ban đầu về tính trọng yếu cho toàn bộ BCTC
Mức ước lượng ban đầu về tính trọng yếu là lượng tối đa mà KTV tin rằng
ở mức đó các BCTC có thể bị sai lệch nhưng vẫn chưa ảnh hưởng đến các quyết
định của người sử dụng thông tin tài chính. Nói cách khác đó chính là những sai
sót có thể chấp nhận được đối với toàn bộ BCTC.
Việc ước lượng ban đầu về tính trọng yếu giúp KTV thu thập bằng chứng
kiểm toán thích hợp. Cụ thể là nếu các KTV ước lượng mức trọng yếu càng
thấp, nghĩa là độ chính xác của số liệu trên Báo cáo tài chính càng cao, thì số
lượng bằng chứng thu thập càng nhiều và ngược lại. Ước lượng ban đầu về tính
trọng yếu không cố định mà có thể thay đổi trong suốt cuộc kiểm toán nếu KTV
thấy rằng mức ước lượng ban đầu là quá cao hay quá thấp hoặc một trong các
nhân tố dùng để xác định mức ước lượng ban đầu về tính trọng yếu bị thay đổi.
Khi xây dựng ước lượng ban đầu về tính trọng yếu KTV cần lưu ý những yếu tố
ảnh hưởng sau:
ả Tính trọng yếu là một khái niệm tương đối hơn là một đối tượng tuyệt đối,
gắn liền với quy mô của Công ty khách hàng. Một sai phạm với quy mô nhất định
13
Vũ Quỳnh Hương Kiểm toán 44
Mục đích của việc phân bổ này là giúp KTV xác định được số lượng bằng
chứng kiểm toán thích hợp phải thu thập đối với từng khoản mục ở mức chi phí
14
Vũ Quỳnh Hương Kiểm toán 44
thấp nhất có thể mà vẫn đảm bảo tổng hợp các sai sót trên Báo cáo tài chính
không vượt qua mức ước lượng ban đầu về tính trọng yếu.
Do hầu hết các thủ tục kiểm toán đều tập trung vào các tài khoản trên
Bảng cân đối kế toán nên KTV thường phân bổ mức ước lượng cho các tài
khoản trên Bảng cân đối kế toán thay vì các tài khoản trên Báo cáo kết quả kinh
doanh. Việc phân bổ được thực hiện theo cả hai chiều hướng mà các sai phạm
có thể diễn ra: đó là tình trạng khai khống (số liệu trên sổ sách lớn hơn thực tế)
và khai thiếu (số liệu trên sổ sách nhỏ hơn trên thực tế).
Cơ sở để tiến hành phân bổ là: bản chất của các khoản mục, rủi ro tiềm
tàng và rủi ro kiểm soát đánh giá sơ bộ đối với các khoản mục, kinh nghiệm của
KTV và chí phí kiểm toán đối với từng khoản mục.
Trong thực tế, rất khó dự đoán về khả năng xảy ra sai sót cũng như chi phí
kiểm toán cho từng khoản mục nên công việc này mang tính chủ quan và đòi hỏi
sự xét đoán nghề nghiệp của KTV. Do vậy, Công ty kiểm toán thường phân công
các KTV có trình độ chuyên môn cao, nhiều kinh nghiệm để thực hiện công việc
này.
1.2.3.5.2 Đánh giá rủi ro kiểm toán
Tại đoạn 03 của ISA 400 - Đánh giá rủi ro và KSNB nêu rằng: “Rủi ro
kiểm toán là rủi ro mà chuyên gia kiểm toán đưa ra một ý kiến không đúng cho
những sai sót trọng yếu trong BCTC. Rủi ro này được chia thành ba mức: rủi ro
tiềm tàng, rủi ro kiểm soát và rủi ro phát hiện”
Tại đoạn 07 của VSA số 400 - Đánh giá rủi ro và KSNB: “Rủi ro kiểm
toán là rủi ro do Công ty kiểm toán và KTV đưa ra ý kiến nhận xét không thích
hợp khi BCTC đã được kiểm toán còn có những sai sót trọng yếu. Rủi ro kiểm
toán bao gồm ba bộ phận: rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát và rủi ro phát hiện”.
Tại đoạn 04 của VSA số 400 - Đánh giá rủi ro và KSNB: “Rủi ro tiềm
tàng là rủi ro tiềm ẩn, vốn có do khả năng từng nghiệp vụ, từng khoản mục trong
BCTC chứa đựng sai sót trọng yếu khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp, mặc dù có hay
không có hệ thống KSNB”.
Rủi ro tiềm tàng nằm trong chức năng hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp, trong môi trường kinh doanh cũng như trong bản chất số dư các tài
khoản hoặc các loại nghiệp vụ kinh tế.
Do vậy, khi đánh giá rủi ro cố hữu KTV phải dựa vào các yếu tố ảnh
hưởng sau: bản chất kinh doanh của khách hàng, đặc điểm hoạt động của đơn
vị, tính chính trực của Ban Giám đốc, kết quả các lần kiểm toán trước, hợp đồng
kiểm toán lần đầu và hợp đồng kiểm toán dài hạn, các nghiệp vụ kinh tế không
16
Vũ Quỳnh Hương Kiểm toán 44
thường xuyên, các ước tính kế toán, quy mô của các số dư tài khoản, các nhân
tố bên ngoài ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của khách hàng.
KTV cần cân nhắc lần lượt các yếu tố trên và quyết định mức rủi ro
tiềm tàng thích hợp đối với từng khoản mục trên Báo cáo tài chính. Rủi ro tiềm
tàng có quan hệ tỷ lệ thuận với bằng chứng kiểm toán.
Đánh giá rủi ro kiểm soát (CR - Control Risk)
Tại đoạn 5 của ISA 400 - Đánh giá rủi ro và KSNB, nêu rõ: “Rủi ro
kiểm soát là rủi ro trong đó một sai sót trọng yếu trong một tài khoản trong
BCTC, riêng biệt hay gộp với các sai sót trong những tài khoản khác, đã không
được hệ thống kế toán và hệ thống KSNB ngăn ngừa hoặc phát hiện và sửa chữa
kịp thời trong thời gian mong muốn”
Tại đoạn 05 của VSA số 400 - Đánh giá rủi ro và KSNB: “Rủi ro kiểm
soát là rủi ro xảy ra sai sót trọng yếu trên BCTC khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp
mà hệ thống kế toán và hệ thống KSNB không ngăn ngừa hết được hoặc không
phát hiện và sửa chữa kịp thời”.
Rủi ro kiểm soát sẽ luôn xuất hiện và khó tránh khỏi do những hạn chế có
Tại đoạn 27 của VSA số 400 - Đánh giá rủi ro và KSNB: “ Dựa trên sự
hiểu biết về hệ thống kế toán và hệ thống KSNB, KTV và Công ty kiểm toán phải
đánh giá ban đầu về rủi ro kiểm soát đối với cơ sở dẫn liệu cho từng số dư tài
khoản hoặc các nghiệp vụ kinh tế chủ yếu”.
Như vậy, sau khi thu thập được một sự hiểu biết về cách thiết kế và sự
vận hành của hệ thống KSNB, KTV sẽ đưa ra đánh giá ban đầu về rủi ro kiểm
soát cho từng mục tiêu kiểm soát chi tiết. Công việc này được làm riêng rẽ cho
từng loại nghiệp vụ kinh tế chủ yếu trong từng chu trình nghiệp vụ theo các
bước:
- Nhận diện các mục tiêu kiểm soát mà theo đó quá trình đánh giá vận dụng:
Trong bước này KTV sẽ vận dụng các mục tiêu KSNB cụ thể cho từng loại
nghiệp vụ chủ yếu của Công ty mà theo đó có thể đánh giá rủi ro kiểm soát đối
với từng khoản mục.
- Nhận diện các quá trình kiểm soát đặc thù: Ở bước này, KTV không nhất
thiết phải xem xét mọi quá trình kiểm soát mà chỉ phải nhận diện và phân tích
các quá trình kiểm soát chủ yếu (có khả năng ảnh hưởng lớn nhất đến việc thoả
mãn các mục tiêu kiểm soát), đảm bảo tính hiệu quả cho cuộc kiểm toán.
- Nhận diện và đánh giá các nhược điểm của hệ thống KSNB: Nhược điểm
của hệ thống của hệ thống KSNB là sự vắng mặt của các quá trình kiểm soát
18
Vũ Quỳnh Hương Kiểm toán 44
thích đáng mà điều này sẽ làm tăng khả năng rủi ro của việc tồn tại các sai phạm
trên BCTC.
- Đánh giá rủi ro kiểm soát: Khi đã nhận diện được quá trình kiểm soát và
các nhược điểm của hệ thống KSNB, KTV tiến hành đánh giá rủi ro kiểm soát
ban đầu đối với từng mục tiêu kiểm soát của từng nghiệp vụ kinh tế. KTV có
thể đánh giá rủi ro theo yếu tố định tính thấp, trung bình, cao hoặc theo tỷ lệ
phần trăm.
Tại đoạn 29 và 30 của VSA số 400 - Đánh giá rủi ro và KSNB, “KTV
thường đánh giá rủi ro kiểm soát ở mức cao đối với cơ sở dẫn liệu của BCTC
ro phát hiện thường xảy ra cho dù có kiểm tra 100% số dư các tài khoản và các
nghiệp vụ vì:
- KTV có thể lựa chọn và áp dụng các phương pháp kiểm toán không phù
hợp, điều này thường xảy ra đối với những KTV mới, thực hiện không hợp lý
quy trình kiểm toán cho mỗi phần hành.
- Phát hiện ra bằng chứng nhưng không nhận thức được sai sót, nên thường
đưa ra kết luận sai về phần đó cũng như BCTC.
- KTV hoàn toàn không phát hiện ra sai sót do có sự thông đồng, nhất trí bên
trong doanh nghiệp làm sai các chính sách và chế độ do Ban Giám đốc đề ra.
Rủi ro phát hiện được xác định từ ba loại rủi ro: rủi ro kiểm toán mong
muốn (DAR), rủi ro tiềm tàng (IR), rủi ro kiểm soát (CR) theo mô hình sau:
Vì ba loại rủi ro này thay đổi đối với từng khoản mục trên BCTC nên rủi
ro phát hiện và số lượng bằng chứng kiểm toán cần thu thập cũng thay đổi theo
đối với từng khoản mục.
Mối quan hệ giữa các loại rủi ro
Mức độ rủi ro phát hiện tỷ lệ nghịch với mức độ rủi ro tiềm tàng và rủi ro
kiểm soát. Trường hợp mức độ rủi ro tiềm tàng được KTV đánh giá cao và mức
độ rủi ro kiểm soát được KTV đánh giá thấp thì mức độ rủi ro phát hiện có thể
đánh giá là trung bình để nhằm giảm rủi ro kiểm toán xuống thấp đến mức có
thể chấp nhận được. Ngược lại, nếu rủi ro tiềm tàng được đánh giá thấp và rủi ro
kiểm soát được đánh giá là trung bình thì có thể xác định mức rủi ro phát hiện là
cao nhưng vẫn phải đảm bảo rủi ro kiểm toán là thấp có thể chấp nhận được.
20
DAR
DR =
IR X CR
Vũ Quỳnh Hương Kiểm toán 44
Bảng 1.3: Mối quan hệ giữa các loại rủi ro
1.2.3.5.3 Mối quan hệ giữa trọng yếu và rủi ro kiểm toán
Cao Thấp nhất Thấp Trung bình
Trung
bình
Thấp Trung
bình
Cao
Thấp Trung
bình
Cao Cao nhất
Vũ Quỳnh Hương Kiểm toán 44
thập. Trọng tâm của chương trình kiểm toán là các thủ tục kiểm toán cần thiết
thực hiện đối với từng khoản mục hay bộ phận được kiểm toán.
Chương trình kiểm toán của hầu hết các cuộc kiểm toán được thiết kế
thành ba phần: trắc nghiệm công việc, trắc nghiệm phân tích, trắc nghiêm trực
tiếp số dư. Mỗi phần được chia nhỏ thành các chu kỳ nghiệp vụ và khoản mục
trên BCTC. Việc thiết kế các trắc nghiệm kiểm toán trên đều gồm bốn nội dung:
xác định thủ tục kiểm toán, quy mô chọn mẫu, khoản mục được chọn và thời gian
thực hiện.
1.2.4.1 Thiết kế trắc nghiệm công việc
Các thủ tục kiểm toán: việc thiết kế các thủ tục kiểm toán của trắc
nghiệm công việc thường tuân theo phương pháp luận bốn bước sau:
- Cụ thể hoá các mục tiêu KSNB cho các khoản mục được khảo sát.
- Nhận diện quá trình kiểm soát đặc thù mà có tác dụng làm giảm rủi ro
kiểm soát của từng mục tiêu KSNB.
- Thiết kế các thử nghiệm kiểm soát đối với từng quá trình kiểm soát đặc
thù nói trên.
- Thiết kế các trắc nghiệm công việc theo từng mục tiêu KSNB có xét đến
nhược điểm của hệ thống KSNB và kết quả ước tính của thử nghiệm kiểm soát
Quy mô mẫu chọn: trong trắc nghiệm công việc, để xác định quy mô mẫu
chọn người ta thường dùng phương pháp chọn mẫu thuộc tính được sử dụng để
Sơ đồ 1.4 : Quy trình thiết kế các trắc nghiệm trực tiếp số dư
1.2.4.3.1 Đánh giá tính trọng yếu và rủi ro đối với khoản mục đang kiểm toán
Thông qua việc ước lượng ban đầu về tính trọng yếu và phân bổ ước
lượng này cho từng khoản mục trên BCTC, KTV sẽ xác định mức sai số có thể
chấp nhận cho từng khoản mục. Sai số chấp nhận được của khoản mục càng
23
Đánh giá tính trọng yếu, rủi ro đối với khoản mục kiểm toán
Đánh giá rủi ro kiểm soát đối với chu trình kiểm toán được thực hiện
Thiết kế, dự đoán kết quả trắc nghiệm công việc, trắc nghiệm phân tích
Thiết kế các trắc nghiệm trực tiếp số dư của khoản mục được xét để thoả
mãn các mục tiêu kiểm soát đặc thù
- Các thủ tục kiểm toán
- Quy mô mẫu chọn
- Khoản mục được chọn
Vũ Quỳnh Hương Kiểm toán 44
thấp thì đòi hỏi số lượng bằng chứng kiểm toán thu thập càng nhiều và ngược
lại.
Rủi ro cố hữu cho từng khoản mục càng cao thì số lượng bằng chứng kiểm
toán phải thu thập càng nhiều và do đó trắc nghiệm số dư sẽ được mở rộng và
ngược lại.
1.2.4.3.2 Đánh giá rủi ro kiểm soát với chu trình kiểm toán được thực hiện
Quá trình kiểm soát hiệu quả sẽ làm giảm rủi ro kiểm soát đối với chu
trình, do đó số lượng bằng chứng kiểm toán cần thu thập trong các trắc nghiệm
trực tiếp có dư và nghiệp vụ sẽ giảm xuống, theo đó chi phí kiểm toán giảm
xuống và ngược lại.
1.2.4.3.3 Thiết kế, dự đoán kết quả trắc nghiệm công việc, trắc nghiệm phân tích.
Các hình thức trắc nghiệm kiểm toán này được thiết kế với dự kiến là sẽ
đạt được một số kết quả nhất định. Các kết quả này theo dự kiến của KTV sẽ
ảnh hưởng đến việc thiết kế các trắc nghiệm trực tiếp số dư tiếp theo.
1.2.4.3.4 Thiết kế các trắc nghiệm trực tiếp số dư để thoả mãn các mục tiêu kiểm
Chương trình kiểm toán được thiết kế ngay trong giai đoạn đầu của cuộc
kiểm toán và có thể phải sửa đổi do hoàn cảnh thay đổi. Việc thay đổi chương
trình kiểm toán ban đầu không phải là điều bất thường vì việc dự kiến tất cả các
tình huống xảy ra là rất khó khăn.
Tại đoạn 26 của VSA số 300 - Lập KHKT: “KHKT tổng thể và chương
trình kiểm toán sẽ được sửa đổi, bổ sung trong quá trình kiểm toán nếu có những
thay đổi về tình huống hoặc do những kết quả ngoài dự kiến của các thủ tục kiểm
toán. Nội dung và nguyên nhân thay đổi KHKT tổng thể và chương trình kiểm
toán phải được ghi rõ trong hồ sơ kiểm toán”.
Trên thực tế chương trình kiểm toán có thể được soạn thảo trong giai
đoạn thực hiện kiểm toán hoặc không cần soạn thảo mà sử dụng chương trình
kiểm toán mẫu của Công ty kiểm toán phù hợp với điều kiện thực tế.
Kết luận phần 1
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp đã khái quát được một số nội dung chính
của kiểm toán BCTC, lập KHKT trong kiểm toán BCTC và nội dung lập KHKT
BCTC. Tuy nhiên, do hoạt động kiểm toán nói chung và kiểm toán BCTC ở
nước ta vẫn còn mới mẻ, đang ở giai đoạn tạo dựng nền tảng, các chuẩn mực
25