Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Lời nói đầu
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp được coi như là những tế
bào mà sự tồn tại và phát triển của chúng đóng vai trò quan trọng đối với nền
kinh tế quốc dân. Đối với doanh nghiệp sự phát triển của nó phụ thuộc rất lớn
vào hoạt động tài chính, hay nói cách khác là phụ thuộc vào hiệu quả quản lý và
sử dụng vốn của doanh nghiệp. Có thể nói để sử dụng được nguồn vốn đúng mục
đích đã khó, nhưng làm sao để nguồn vốn ấy có hiệu quả nhất lại là vấn đề lớn
và vô cùng khó khăn đối với các nhà quản trị. Bởi vậy, các doanh nghiệp phải có
các biện pháp hợp lý sử dụng nguồn vốn của mình một cách hiệu quả nhất. Hiệu
quả sử dụng vốn cao hay thấp sẽ quyết định đến sự thành công hay thất bại của
doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh khốc liệt hiện nay.
Cũng như nhiều doanh nghiệp khác, Công ty cổ phần đầu tư và xuất nhập
khẩu Quảng Ninh đang phải đương đầu với những khó khăn trong hoạt động
kinh doanh: về quản lý vốn và các nguồn lực khác. Vốn đầu tư của công ty liên
tục trong một vài năm gần đây, lợi nhuận tăng lên, nhưng đang có nhiều biến
động bất thường.
Sau thời gian thực tập tại Công ty cổ phần đầu tư và xuất nhập khẩu
Quảng Ninh, xuất phát từ tình hình thực tế của công ty, em đã chọn đề tài “Hiệu
quả sử dụng vốn tại Công ty cổ phần đầu tư và xuất nhập khẩu Quảng Ninh
” làm chuyên đề thực tập của mình.
Với phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa lý luận với thực tiễn, trên cơ sở
phân tích các hoạt động tài chính của công ty, chuyên đề thực tập tốt nghiệp của
em nhằm nêu rõ bản chất và vai trò của vốn trong nền kinh tế thị trường, nguyên
tắc và nội dung trong công tác sử dụng vốn của doanh nghiệp, đồng thời đưa ra
các giải pháp cơ bản và thiết thực nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công
ty cổ phần đầu tư và xuất nhập khẩu Quảng Ninh trong thời gian tới.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp được xây thành 3 chương:
Chương I: Vốn và hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp trong nền kinh tế
thị trường.
Chương II: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty cổ phần đầu tư và
Theo Đavi Begg, tác giả cuốn “kinh tế học”, thì vốn bao gồm: vốn hiện vật
và vốn tài chính doanh nghiệp. Vốn hiện vật là dự trữ hàng hoá đã sản xuất để
sản xuất ra các hàng hoá khác, vốn tài chính là tiền và các giấy tờ có giá của
doanh nghiệp. Trong định nghĩa của mình, tác giả đã đồng nhất vốn với tài sản
Phan Đức Hà Lớp: TCDN_BN K16
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
của doanh nghiệp. Tuy nhiên, thực chất vốn của doanh nghiệp là biều hiện bằng
tiền của tất cả tài sản của doanh nghiệp dùng trong sản xuất kinh doanh. Vốn của
doanh nghiệp được phản ánh trong bảng cân đối tài sản của doanh nghiệp. Bất cứ
doanh nghiệp nào cũng cần phải có một lượng vốn nhất định để thực hiện những
khoản đầu tư cần thiếu như chi phí thành lập doanh nghiệp, mua sắm nguyên vật
liệu, trả lãi vay, nộp thuế... đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp được liên tục, chi phí mua công nghệ và máy móc thiết bị mới... để
tái sản xuất mở rộng. Do vậy vốn đưa vào sản xuất kinh doanh có nhiều hành
thái vật chất khác nhau để từ đó tạo ra sản phẩm hàng hoá, dịch vụ tiêu thụ trên
thị trường. Số tiền mà doanh nghiệp thu về sau quá trình tiêu thụ phải bù đắp
được chi phí đã bỏ ra và có lãi. Số tiền ban đầu đã được tăng thêm nhờ hoạt động
sản xuất kinh doanh. Quá trình này diễn ra liên tục bảo đảm cho sự tồn tại và
phát triển của doanh nghiệp.
Còn trong nền kinh tế thị trường, vốn được coi là một loại hàng hoá. Nó
giống các hàng hoá khác ở chỗ có chủ sở hữu đích thức, song nó có đặc điểm
khác vì người sở hữu vốn có thể bán quyền sử dụng vốn trong một thời gian nhất
định. Giá của quyền sử dụng vốn chính là lãi suất. Chính nhờ có sự tách rời
quyền sở hữu và quyền sử dụng nên vốn có thể lưu chuyển trong đầu tư kinh
doanh và sinh lời cao.
Dưới góc độ của doanh nghiệp, vốn là một trong những điều kiện vật chất
cơ bản kết hợp với sức lao động và các yếu tố khác làm đầu vào cho quá trình
sản xuất kinh doanh. Sự tham gia của vốn không chỉ bó hẹp trong quá trình sản
xuất riêng biệt mà trong toàn bộ quá trình sản xuất và tái sản xuất liên tục, suốt
thời gian tồn tại của doanh nghiệp, từ khi bắt đầu quá trình sản xuất đầu tiên đến
nghệ và những đòi hỏi gắt gao của nền kinh tế thị trường thì những tín dụng này
càng phong phú và đa dạng, giữ vai trò quan trọng trong việc tạo ra khả năng
sinh lời của doanh nghiệp.
- Vốn phải được vận động sinh lời. Vốn là biểu hiện bằng tiền nhưng đó
không phải là đồng tiền nằm một chỗ, đồng tiền chết mà nó phải được vận động
để sinh lời. Trong quá trình vận động vốn có thể thay đổi hình thái biểu hiện,
nhưng điểm xuất phát và điểm cuối cùng của quá trình luân chuyển phải là giá
trị, là tiền với giá trị lớn hơn để đảm bảo có lãi.
- Vốn phải được tích tụ tập trung tới một lượng nhất định mới có thể đáp ứng
được nhu cầu SXKD và phát huy được tác dụng. Vì thê, trong quá trình đầu tư
Phan Đức Hà Lớp: TCDN_BN K16
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
và hoạt động kinh doanh, các doanh nghiệp không những phải khai thác vốn tiềm
năng mà còn phải tìm phương thức thu hút, tập trung vốn từ các nguồn khác:
Vốn liên doanh, vốn vay các tổ chức tín dụng, phát hành chứng khoán.
- Vốn có giá trị về thời gian. Chẳng hạn, khi tiến hành đầu tư vào một dự án
kinh doanh nào đó phải xem xét yếu tố thời gian của đồng vốn. Vì trong nền
kinh tế thị trường do ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác như: giá cả thay đổi, lạm
phát, tiến bộ khoa học không ngừng phát triển... Nên sức mua của đồng tiền ở
mỗi thời điểm khác nhau cũng có giá trị khác nhau.
- Vốn phải được gắn với chủ sở hữu. Trong nền kinh tế thị trường không thể
có nguồn vốn vô chủ, nó phải được gắn với chủ sở hữu nhất định vì có như vậy
mới đảm bảo vốn được quản lý một cách chặt chẽ và sử dụng có hiệu quả.
- Trong nền kinh tế thị trường, vồn phải được quan niệm là một hàng hoá -
hàng hoá đặc biệt. Những người sẵn có vốn và những người cần vốn có thể trao
đổi với nhau thông qua thị trường tài chính. ở đây quyền sở hữu vốn không di
chuyển mà chỉ có quyền sử dụng được chuyển nhượng qua sự vay nợ. Khi đó để
có quyền sử dụng vốn, người vay phải trả cho người cho vay lãi suất nhất định,
tỷ lệ này được xác định theo quan hệ cung – cầu vốn trên thị trường.
1.1.2. Phân loại vốn
- Vốn của chủ sở hữu: là loại vốn do các chủ sở hữu doanh nghiệp tài trợ và
giữ lại phần lợi nhuận chưa phân phối. Đối với các loại vốn này doanh nghiệp
không phải hoàn trả những khoản tiền đã huy động được trừ khi doanh nghiệp
đóng cửa. Tuy nhiên các chủ sở hữu có thể giảm vốn bằng cách giảm ngân sách
nhà nước hay mua lại cổ phiếu... Chi phí chủ sở hữu là chi phí cơ hội cho việc
sử dụng vốn. Trong trường hợp huy động vốn cổ phần, chi phí vốn là lợi tức yêu
cầu của các cổ đông. Do tính dài hạn và gần như không hoàn trả, vốn chủ sở hữu
có độ an toàn rất cao.
- Vốn vay: Những người tài trợ cho doanh nghiệp loại vốn này không phải là
chủ sở hữu doanh nghiệp. Đặc trưng của loại vốn này là doanh nghiệp phải tiền
hành hoàn trả vốn vay trong một thời gian nhất định. Chi phí vốn là lãi phải trả
cho các khoản nợ vay. Mức lãi suất hay chi phí phả trả cho nợ vay thường ổn
định và được thoả thuận trước khi vay. Huy động nợ vay rủi ro hơn huy động
vốn chủ sở hữu song đôi khi các doanh nghiệp lại thích sử dụng nơ vay do một
đặc điểm hết sức quan trọng. Chi phí nợ vay được tính vào chi phí hợp lý hợp lệ
không phải chịu thuế thu nhập doanh nghiệp. Trong khi, lợi tức dành cho chủ sở
Phan Đức Hà Lớp: TCDN_BN K16
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
hữu được trả từ lợi nhuận sau thuế không được tính vào chi phí hợp lý, hợp lệ
như nợ vay. Đặc điểm nay hết sức quan trọng, ảnh hưởng tới việc hình thành cơ
cấu vốn tối ưu với mục đích tối đa hoá giá trị của vốn chủ sở hữu.
Nhìn chung đây là hai cách phân loại rất cơ bản và phổ biến trong nền
kinh tế thị trường. Nó giúp cho người sử dụng có thể thấy được thực trạng tài
chính của doanh nghiệp khi xem xét về mặt kinh tế. Về mặt pháp lý, người sử
dụng có thể thấy được trách nhiệm của doanh nghiệp về tổng số vốn đã đăng ký
kinh doanh với nhà nước, về số tài sản đã hình thành từ vốn vay ngân hàng.. Còn
nhiều cách phân loại vốn khác, như vốn cố định và vốn lưu động, phân chia theo
khoản mục. Mỗi cách phân loại sẽ phục vụ những mục đích nhất định.
* Căn cứ vào đặc điểm chu trình giá trị của vốn khi tham gia vào quá trình
kinh doanh. Khi căn cứ vào đặc điểm chu trình giá trị của vốn khi tham gia vào
đổi hình thái hiện vật nhưng tính năng công suất thì bị giảm dẩn, tức là bị hao
mòn và cùng với sự giảm dần về giá trị sử dụng thì giá trị của nó cũng giảm đo.
Bộ phận giá trị hao mòn đó đã chuyển vào giá trị sản phẩm sản xuất ra và được
tính vào chi phí khấu hao. Quỹ khấu hao dùng để tái sản xuất ài sản cố định khi
chúng bị hư hỏng hoàn toàn phải loại ra khỏi quá trình sản xuất đó nhằm duy trì
năng lực sản xuất bình thường của doanh nghiệp.
Chính đặc điểm vận động về hiện vật và giá trị tài sản cố định đã quyết định
đặc điểm lưu thông và chu chuyển của vốn cố định, đó là khi tham gia vào quá
trình sản xuất, vốn cố định đã bao gồm hai bộ phận.
+ Một bộ phận tương ứng với giá trị hao mòn sẽ gia nhập vào giá thành sản
phẩm và được tích luỹ lại khi sản phẩm được tiêu thụ.
+ Bộ phận thứ hai là phần giá trị còn lại của tài sản cố định chính thức từ đặc
điểm này của vốn cố định cũng như tài sản cố định mà khi đánh giá tài sản cố
định cần có các đại lượng như giá trị ban đầu (nguyên giá), giá trị còn lại của tài
sản cố định.
Để quản lý và sử dụng vốn cố định có hiệu quả cần nghiên cứu các phương
pháp phân loại và kết cấu tài sản cố định. Thông thường có các cách phân loại
sau:
- Phân loại tài sản cố định theo hình thái biểu hiện, theo phương pháp này toàn
bộ tài sản của doanh nghiệp được chia thành hai loại:
Phan Đức Hà Lớp: TCDN_BN K16
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
+ Tài sản cố định dùng trong sản xuất kinh doanh cơ bản: Là những tài sản cố
định vô hình và hữu hình được trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất và kinh
doanh cơ bản của doanh nghiệp như nhà xưởng, phương tiện vận tải, vật kiến
trúc, bản quyền tác giả, phát minh sáng chế...
+ Tài sản cố định dùng ngoài sản xuất kinh doanh cơ bản: Là các tài sản dùng
cho sản xuất kinh doanh phụ trợ, nhà cửa máy móc thiết bị phục vụ sản xuất và
tài sản cố định cho thuê.
- Phân loại tài sản cố định theo tình hình sử dụng: Theo phương pháp này, căn
doanh nghiệp thành hai loại:
- Nguồn vốn thường xuyên: Là tổng thể các nguồn vốn có tính chất ổn định và
dài hạn mà doanh nghiệp có thể sử dụng. Nguồn vốn này được dành cho việc
hình thành các tài sản cố định và một bộ phận tài sản lưu động tối thiểu cần thiết
cho hoạt động kinh doanh. Nguồn vốn thường xuyên bao gồm chủ sở hữu và các
khoản vay dài hạn.
- Nguồn vốn tạm thời: Là các nguồn vốn có tính chất ngắn hạn (dưới 1 năm)
doanh nghiệp có thể sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu có tính chất tạm thời, bất
thường phát sinh trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nguồn vốn này
bao gồm các khoản vay ngắn hạn ngân hàng và các tổ chức tín dụng, các khoản
nợ ngắn hạn.
Việc phân loại này giúp cho người quản lý thuận lợi trong việc xem xét các
hình thức huy động vốn một cách phù hợp với thời gian sử dụng của các yếu tố
trong quá trình kinh doanh, đáp ứng đầy đủ vốn cho hoạt đọng kinh doanh, góp
phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp. Mặt khác, cách phân loại
này còn giúp cho nhà quản lý doanh nghiệp có thể lập các kế hoạch tài chính,
hình thành các dự định về tổ chức các nguồn vốn trong tương lai trên cơ sở xác
định quy mô sản lượng vốn cần thiết.
* Căn cứ vào phạm vi hoạt động có thể chia làm hai nguồn:
- Nguồn vốn bên trong doanh nghiệp: Là nguồn vốn có thể huy động từ hoạt
động của bản thân doanh nghiệp bao gồm tiền khấu hao tài sản cố định, lợi
nhuận để lại và các khoản dự trữ dự phòng, các khoản thu từ nhượng thanh lý tài
sản cố định.
- Nguồn vốn bên ngoài: Là nguồn vốn mà doanh nghiệp có thể huy động từ
bên ngoài để có thể đáp ứng cho h oạt động sản xuất kinh doanh của mình như:
Phan Đức Hà Lớp: TCDN_BN K16
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
vốn vay của Ngân hàng và các tổ chức kinh tế khác, phát hành trái phiếu nợ
người cung cấp, liên doanh liên kết, thuế tài chinh và các khoản nợ khác.
Mỗi cách huy động vốn có những ưu nhược điểm riêng. Nguồn vốn bên trong
đầu hoạt động sản xuất kinh doanh, trước hết doanh nghiệp cần mua sắm máy
móc, trang thiết bị, xây dựng nhà xưởng hay thuê công sở, muớn nhân công... Vì
vậy trong giai đoạn này, doanh nghiệp cần tới một lượng vốn rất lớn và phải huy
động vốn. Vốn là điều kiện cần thiết để doanh nghiệp chủ động thực hiện các dự
án mang lại lợi nhuận. Không có vốn thì các dự án sản xuất kinh doanh, các cơ
hội kinh doanh mang nhiều lợi nhuận sẽ bị bỏ lỡ và sẽ chỉ là dự định, kế hoạch.
Mỗi doanh nghiệp cần có chiến lược duy trì và phát triển trên thị trường cạnh
tranh ngày càng gay gắt. Vốn vẫn là yếu tố quan trọng hàng đầu giúp doanh
nghiệp có khả năng đầu tư, đổi mới công nghệ, đầu tư cho quảng cáo... nhằm
tăng cường cạnh tranh trước các đối thủ.
Trong cơ chế bao cấp, mọi nhu cầu về vốn sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp Nhà nước đều được bao cấp qua nguồn cấp phát của ngân sách Nhà nước
và qua nguồn tín dụng lãi suất thấp của ngân hàng. Có thể nói trong thời kỳ bao
cấp vốn của doanh nghiệp Nhà nước hầu như được bao cấp “cho không”. Khi sử
dụng đồng vốn doanh nghiệp chỉ lo sao cho làm được kế hoạch nhà nước giao
còn thực tế lãi lỗ không cần quan tâm, nếu thiếu nhà nước sẽ bù lỗ. Chính vì vậy
vấn đề khai thác thu hút vốn không được đặt ra như một yêu cầu cấp bách, có
tính sồng còn đối với doanh nghiệp. Việc khai thác đảm bảo vốn kinh doanh của
doanh nghiệp trở lên hết sức thụ động. Điều này đã một mặt thủ tiêu tính chủ
động của một doanh nghiệp, mặt khác tạo ra sự cân đối giả tạo về cung cầu vốn
trong nền kinh tế. Đây là lý do chủ yếu để giải thích tại sao trong thời kỳ bao cấp
lại vắng mặt và không cần thiết có thị trường vốn.
Chuyển sang nền kinh tế thị trường, các khoản bao cấp về vốn qua cấp
phát của ngân sách Nhà nước không còn nữa, doanh nghiệp Nhà nước phải trang
trải mọi chi phí và bảo đảm kinh doanh có lãi, phải tổ chức và sử dụng đồng vốn
có hiệu quả. Mặt khác doanh nghiệp phải bảo toàn số vốn được giao kể cả khi có
trượt giá, phải chủ động tìm kiếm bạn hàng, đầu tư đổi mới trong hoạt động kinh
doanh. Nếu không làm cho vốn sinh sôi nảy nở, không bảo toàn và phát triển vốn
tất yếu sẽ ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, nguy cơ phá
sản là khó tránh khỏi.
- Lại có quan điểm cho rằng hiệu qả sử dụng vốn có thể được đánh giá qua tốc
độ quay vòng vốn. Đứng trên quan điểm này tốc độ quay vòng vốn càng nhanh
Phan Đức Hà Lớp: TCDN_BN K16
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
thì doanh nghiệp có thể được xem như là đã sử dụng vốn có hiệu quả. Tuy nhiên,
có thể thấy rằng tốc độ quay vòng vốn còn phụ thuộc vào yếu tố khác như cơ cấu
vốn hay cấu tạo hữu cơ của doanh nghiệp.
- Hiệu quả sử dụng vốn có thể được đánh giá thông qua lợi ích kinh tế. Tức là
hiệu quả sử dụng vốn được coi là cao khi doanh nghiệp đạt tỷ suất lợi nhuận cao.
Lợi nhuận là mục tiêu cao nhất quyết định đến sự sống còn và phát triển của
doanh nghiệp. Như vậy, quan điểm cho rằng khi doanh nghiệp đạt tỷ suất lợi
nhuận cao có thể xem như là doanh nghiệp đạt hiệu quả kinh tế và hiệu quả trong
việc sử dụng vốn. Tuy nhiên, để có được tỷ suất lợi nhuận cao, doanh nghiệp
phải đạt được hiệu quả cao trong hàng loạt các hoạt động của quá trình sản xuất
kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm. Bên cạnh đó doanh nghiệp còn phải quan tâm
tới các mục tiêu khác về mặt xã hội cũng không kém phần quan trọng.
Như vậy, tuỳ theo từng cách tiếp cận và tuỳ vào mục đích nghiên cứu mà
có cách hiểu về hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp là khác nhau. Tuy
nhiên, theo như đã đề cập ở trên, quá trình sản xuất kinh doanh là một quá trình
liên tục và có mối quan hệ hữu cơ với nhau. Do đó việc đánh giá hiệu quả sử
dụng vốn của doanh nghiệp muốn được khách quan và chuẩn xác đòi hỏi phải sử
dụng một hệ thống các chỉ tiêu phản ánh quá trình sử dụng vốn trong tất cả các
khâu, các giai đoạn của quá trình kinh doanh. Tuy nhiên, do khuôn khổ luận văn
có hạn, nên hiệu quả sử dụng vốn chỉ dừng lại ở phạm vi hiệu quả tài chính và
chưa đề cập tới hiệu quả kinh tế nói chung.
Có thể hiểu tóm tắt về hiệu quả sử dụng vốn như sau:
- Với một số vốn nhất định, doanh nghiệp phải đạt được lợi nhuận.
- Ngoài khả năng của mình, doanh nghiệp phải năng động tìm nguồn tài trợ để
tăng số vốn hiện có nhằm mở rồng sản xuất kinh doanh, gia tăng mức lợi nhuận
so với khả năng ban đầu.
quả, bảo toàn và phát triển vốn.
Vì những lý do cơ bản trên có thể thấy việc sử dụng vốn có hiệu quả và
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp là điều tất yếu phải làm của
mỗi doanh nghiệp nhằm ổn định và phát triển doanh nghiệp đồng thời tiết kiệm
được những chi phí không cần thiết trong hoạt động.
Phan Đức Hà Lớp: TCDN_BN K16
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
1.2.3. Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là yêu cầu bắt buộc đối với các doanh
nghiệp. Để đạt được điều đó, các doanh nghiệp cần phải có một hệ thống chỉ tiêu
đánh giá hiệu quả sử dụng vốn, đảm bảo phản ánh và đánh giá được hiệu quả
kinh doanh của doanh nghiệp.
* Cơ cấu vốn:
Vốn của doanh nghiệp được đầu tư chủ yếu vào TSCĐ và TSLĐ. Với một
lượng vốn nhất định doanh nghiệp muốn thu được kết quả cao thì cần phải có
một cơ cấu hợp lý. Vì vậy, ta phải xem xét đến vốn đầu tư vào tài sản ra sao, hợp
lý hay chưa hợp lý, ta có:
Tài sản cố định và đầu tư dài hạn
Tỷ trọng tài sản cố định = --------------------------------------------
Tổng tài sản
Tỷ trọng tài sản lưu động = 1 – tỷ trọng tài sản cố định
Công thức trên cho biết một đồng vốn mà doanh nghiệp đang sử dụng có
bao nhiêu đầu tư vào TSCĐ, có bao nhiêu đầu tư vào TSLĐ. Tuỳ theo từng loại
hình sản xuất mà tỷ số này ở mức độ cao thấp khác nhau, nhưng bố trí cơ cấu
vốn càng hợp lý bao nhiêu thì hiệu quả sử dụng vốn càng cao bấy nhiêu. Nếu bố
trí cơ cấu vốn làm mất cân đối giữa TSCĐ và TSLĐ dẫn đến thừa hoặc thiếu một
loại tài sản nào đó sẽ có ảnh hưởng không tốt tới doanh nghiệp.
* Vòng quay toàn bộ vốn:
Đây là chỉ tiêu đo lường hiệu quả sử dụng vốn trong thời kỳ, nó phản ánh
một đồng vốn doanh nghiệp huy động vào sản xuất kinh doanh mang lại mấy
Vốn cố định bình quân
+ Hàm lượng vốn cố định = ------------------------------------------
Doanh thu thuần
Chỉ tiêu này cho biết một đồng doanh thu thuần cần có bao nhiêu đồng vốn cố
định.
Doanh thu thuần
+ Hiệu quả sử dung vốn cố định = -----------------------------------
Vốn cố định bình quân
Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn cố định tạo được mấy đồng doanh thu
thuần
Công suất thực tế
+ Hệ số sử dụng công suất TSCĐ= ----------------------------
Công suất thiết kế
Sau khi tính được các chỉ tiêu trên, người ta thường so sánh giữa các năm,
các kỳ với nhau để dxem sự biến động đó là tốt hay xấu. Người ta cũng có thể so
sánh giữa các donah nghiệp trong cùng ngành, cùng lĩnh vực để xét khả năng
cạnh tranh, tình trạng quản lý, kinh doanh có hiệu quả hay không, từ đó rút ra
những ưu điểm, khuyết điểm và kịp thời đưa ra các biện pháp hợp lý.
* Các chỉ tiêu đánh giá sử dụng vốn lưu động:
Lợi nhuận sau thuế
+ Mức doanh lợi của vốn lưu động = -------------------------------------------------
Vốn lưu động bình quân
Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn lưu động tao ra mấy đồng lợi nhuận.
Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn lưu động càng tốt. Trong
đó vốn lưu động được tính như sau:
Phan Đức Hà Lớp: TCDN_BN K16
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
VLĐ đầu tháng + VLĐ cuối tháng
VLĐ bình quân tháng = ------------------------------------------------------------
2
vốn lưu động.
Ngoài việc xem xét hiệu quả kinh doanh dưới góc độ TSCĐ và TSLĐ thì
khi phân tích cần xem xét hiệu quả sử dụng vốn dưới góc độ sinh lời. Đây là một
trong những nội dung phân tích được các nhà đầu tư, tín dụng đặc biệt quan tâm.
Để đánh giá khả năng sinh lời của vốn, người phân tích thường tính và so sánh
các chỉ tiêu sau:
Lợi nhuận
+ Hệ số doanh lợi của vốn kinh doanh = --------------------------
Vốn kinh doanh
Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn kinh doanh đem lại bao nhiêu đồng
vốn lợi nhuận, phản ánh trình độ sử dụng vốn của người quản lý doanh nghiệp.
Doanh thu thuần
+ Hiệu suất sử dụng tổng tài sản = ----------------------------------------
Tổng tài sản
Chỉ tiêu này cho biết một đồng đầu tư vào tài sản đem lại bao nhiêu đồng
doanh thu, phản ánh khả năng sử dụng tài sản của doanh nghiệp là tốt hay còn
yếu kém.
1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn của DN
Nếu như ở phần trên chúng ta đã nghiên cứu những chỉ tiêu đánh giá hiệu
quả sử dụng vốn của doanh nghiệp thì trong phần này chúng ta sẽ xem xét các
nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp. Để đánh giá được
doanh nghiệp đã sử dụng vốn có hiệu quả hay không, chúng ta phải xem xét rất
nhiều chỉ tiêu. Nhưng trước tiên hiệu quả của mỗi đồng vốn được đem ra sử
Phan Đức Hà Lớp: TCDN_BN K16
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
dụng phụ thuộc rất nhiều vào việc tăng doanh thu, lợi nhuận, tăng tài sản của chủ
sở hữu, giảm thiểu chi phí, giảm thiểu hàng hoá tồn đọng... Căn cứ vào việc tăng
giảm của những chỉ tiêu trên chúng ta có thể đưa các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu
của sử dụng vốn của doanh nghiệp.
1.3.1. Những nhân tố khách quan
việc trong môi trường tự nhiên thích hợp sẽ tăng năng suất lao động và tăng hiệu
quả công việc. Tính thời vụ, thiên tai, lũ lụt... gây khó khăn rất lớn cho nhiều
doanh nghiệp. Có thể nói môi trường tự nhiên có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp hoạt
động san xuất các mặt hàng về vật liệu xây dựng (gạch, xi măng, sắt thép...). Nếu
như điều kiện tự nhiên thuận lợi sẽ giúp doanh nghiệp tiêu thụ được nhiều sản
phẩm từ đo tăng doanh thu và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cho doanh nghiệp.
Như vậy môi trường tự nhiên có thể tác động trực tiếp hoặc gián tiếp, có thể tác
động mạnh hoặc tương đối nhỏ đến hoạt động kinh doanh của mỗi doanh nghiệp,
nhưng dù ở bất kỳ khía cạnh nào thì môi trường tự nhiên cũng có những tác động
tới hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
* Môi trường pháp lý:
Là hệ thống các chủ trương, chính sách, hệ thống pháp luật tác động đến
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Trên cơ sở pháp luật và các biện pháp
kinh tế – chính trị, nhà nước tạo môi trường điều hành cho các doanh nghiệp
pháp triển sản xuất kinh doanh và hướng các hoạt động đó theo kế hoạch vĩ mô.
Với bất kỳ sự thay đổi nào trong chế độ chính sách hiện hành đều chi phối các
hoạt động của doanh nghiệp. Các văn bản pháp luật về tài chính, về quy chế đầu
tư như các quy định về trích khấu hao, tỷ lệ trích lập các quỹ, các văn bản về
thuế... đều ảnh hưởng lớn tới hoạt động của doanh nghiệp. Các quy chế về tài
chính, chủ trương chính sách về kinh tế, chính trị – xã hội của Nhà nước có ảnh
hưởng theo cả hai chiều đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp từ đó có
ảnh hưởng tới hiệu quả huy động vốn của từng doanh nghiệp. Chẳng hạn, nếu
môi trường pháp lý phù hợp, tạo hậu thuận cho hoạt động kinh doanh, từ đó giúp
thúc đẩy khả năng nâng cao lợi nhuận, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
của doanh nghiệp. Còn nếu môi trường pháp lý không thuận lợi và thiếu kịp thời
cho hoạt động kinh doanh, từ đó tạo không ít khó khăn cho doanh nghiệp và làm
Phan Đức Hà Lớp: TCDN_BN K16
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
hạn chế hiệu quả của đồng vốn dẫn đến hạ thấp hiệu quả sử dụng vốn của doanh
Phan Đức Hà Lớp: TCDN_BN K16
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
pháp thiết thực không chỉ trước mắt mà là kế hoạch lâu dài. Xuất phát từ nhận
thức đúng đắn trên đã tác động gián tiếp tới hoạt động sử dụng vốn từ đó góp
phân nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp. Không chỉ có vậy, trong
quá trình cạnh tranh sự thành bại của đối thủ cạnh tranh cũng có tác động rất lớn
đến hoạt động kinh doanh và hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
* Nhân tố giá cả:
Đây là nhân tố doanh nghiệp quyết định nhưng lại phụ thuộc vào mức
chung của thị trường. Khi giá cả tăng, các kết quả kinh doanh tăng dần dẫn đếu
hiệu quả sử dụng vốn tăng, tuy nhiên sự biến động về giá cả sẽ làm cho hoạt
động của doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn gây ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng
vốn của doanh nghiệp. Nếu như chiến lược giá cả của doanh nghiệp phù hợp,
thích ứng nhanh với sự biến động về giá của thị trường thì sẽ không những giúp
doanh nghiệp đứng vững trên thị trường mà còn nâng cao được hiệu quả sử dụng
vốn của doanh nghiệp.
1.3.2. Những nhân tố chủ quan
Ngoài các nhân tố khách quan trên, còn rất nhiều nhân tố chủ quan do
chính bản thân doanh nghiệp tạo nên làm ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng vốn.
Nhân tố này gồm nhiều yếu tố tác động trực tiếp đến kết quả cuối cùng của hoạt
động kinh doanh cả về trước mắt cũng như lâu dài. Bởi vậy, việc xem xét, đánh
giá và ra quyết định đối với các yếu tố này cực kỳ quan trọng. Thông thường,
trên góc độ tổng quát, người ta xem xét những yếu tố sau:
* Ngành nghề kinh doanh:
Nhân tố này tạo ra điểm xuất phát cho doanh nghiệp cũng như định hướng
cho nó trong suốt quá trình tồn tại. Với một ngành nghề kinh doanh đã được
chọn, chủ doanh nghiệp buộc phải giải quyết những vấn đề đầu tiên về tài chính
bao gồm:
+ Cơ cấu hợp lý.
+ Chi phí vốn của công ty bao nhiêu là hợp lý để giữ không làm thay đổi số
hoá được lợi nhuận, đưa đến sự phát triển phồn thịnh và ổn định cho doanh
nghiệp. Từ đó, tác động trực tiếp đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
+ Trình độ tày nghề của người lao động: nếu như trình độ quản lý của lãnh
đạo có vai trò rất lớn quyết định tới sự thành bại của doanh nghiệp, và hiệu quả
Phan Đức Hà Lớp: TCDN_BN K16