Đề tài
Tình hình phá sản chung của
doanh nghiệp trong nền kinh tế
thị trường định hướng XHCN ở
Việt Nam
Trang 1
MỤC LỤC
Phần A: PHẦN MỞ ĐẦU 3
I. Lý do chọn đề tài 3
II. Đối tượng nghiên cứu 3
III. Mục đích nghiên cứu 3
IV. Cơ sở lý luận 4
4.1. Khái niệm phá sản 4
4.2. Định hướng XHCN nền kinh tế ở nước ta 4
4.3. Một số nguyên nhân dẫn đến phá sản và những lời khuyên cụ thể 4
Phần B: NỘI DUNG CHÍNH 11
Chương I: Vài nét về tình hình phá sản doanh nghiệp trong nền kinh tế thịtrường định
hướng XHCN ở Việt Nam hiện nay 11
Chương II: Sự phá sản của Tập đoàn kinh tế Vinashin 15
2.1. Khái quát chung về tập đoàn kinh tế Vinashin 15
2.1.1. Lịch sử hình thành 15
2.1.2. Cơ cấu tổ chức 16
2.1.3. Đầu tư 16
2.2. Tình hình phá sản của tập đoàn Vinashin 17
2.2.1. Một số dự án thất bại điển hình 17
2.2.2. Một số nguyên nhân dẫn đến sự phá sản của Tập đoàn 18
2.2.2.1. Nguyên nhân chủ quan 18
2.2.2.2. Nguyên nhân khách quan 20
Chương III. Biện pháp Chính phủ đã đưa ra để cải thiện tình hình củaTập đoàn kinh
tếVinashin: Tái cơ cấu 21
3.1. Lý do 21
nghiệp, phát triển nền kinh tế đất nước.
Trang 4
IV. Cơ sở lý luận:
IV.1. Khái niệm về phá sản
Phá sản doanh nghiệp là hiện tượng một doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh
thương mại thực hiện hành vi thương mại, nhưng vì một lý do nào đó (quản lý kém, bị
thiên tai, hỏa hoạn ) nên không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn.
IV.2. Định hướng xã hội chủ nghĩa nền kinh tế thị trường ở nước ta:
Theo GS.TS. Chu Văn Cấp – Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Kinh tế thị trường là một kiểu tổ chức kinh tế – xã hội, trong đó quá trình sản xuất,
phân phối, trao đổi và tiêu dùng đều được thực hiện thông qua thị trường. Vì thế kinh tế
thị trường không chỉ là "công nghệ", là "phương tiện" để phát triển kinh tế – xã hội, mà
còn là những quan hệ kinh tế – xã hội, nó không chỉ bao gồm các yếu tố của lực lượng
sản xuất, mà còn cả một hệ thống quan hệ sản xuất. Như vậy, chứng tỏ không có và
không thể có một nền kinh tế thị trường chung chung, thuần túy, trừu tượng tách rời khỏi
hình thái kinh tế – xã hội, tách rời khỏi chế độ chính trị – xã hội của một nước. Do đó, để
phân biệt các nền kinh tế thị trường khác nhau, trước hết phải nói đến mục đích chính trị,
mục tiêu kinh tế – xã hội mà nhà nước và nhân dân lựa chọn làm định hướng, chi phối sự
vận động phát triển của nền kinh tế đó.
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thực chất là kiểu tổ chức nền kinh tế
– xã hội vừa dựa trên những nguyên tắc và quy luật của kinh tế thị trường, vừa dựa trên
những nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội. Bởi vậy, kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa có hai nhóm nhân tố cơ bản tồn tại trong nhau, kết hợp với nhau
và bổ sung cho nhau. Đó là, nhóm nhân tố của kinh tế thị trường và nhóm nhân tố của xu
hướng mới đang vận động, đang phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong đó,
nhóm thứ nhất đóng vai trò "động lực" thúc đẩy sản xuất xã hội phát triển nhanh, hiệu
quả; nhóm thứ hai đóng vai trò "hướng dẫn", "chế định" sự vận động của nền kinh tế theo
những mục tiêu đã xác định, bổ sung những mặt tích cực, hạn chế những mặt tiêu cực của
thị trường, hoàn thiện mô hình chủ nghĩa xã hội.
IV.3. Một số nguyên nhân dẫn đến phá sản và những lời khuyên cụ thể:
nhu cầu cá nhân thấp hơn khoản lợi nhuận làm ra.
- Sử dụng quá nhiều nhân viên
Trang 6
Chi phí cho nhân viên ngày càng chiếm một tỉ trọng lớn và gần như cố định với các
doanh nghiệp. Nếu không sử dụng và bố trí nhân viên hợp lí thì việc trả lương là một
gánh nặng đối với doanh nghiệp. Trong nhiều trường hợp có biến động xấu thì việc giảm
kịp thời nhân viên sẽ cứu doanh nghiệp khỏi bị phá sản. Có thể các nhà quản lí vĩ mô,
người làm chính sách chế độ không thích thú điều này nhưng thực tế đã chứng minh các
doanh nghiệp sớm giảm bớt nhân sự là những doanh nghiệp thành công. Khi một doanh
nghiệp thất bại vì có quá nhiều nhân viên, người ta không quan tâm vì lí do xã hội hay
không có khả năng quản lí và điều hành nhân viên.
Lời khuyên thứ ba:Doanh nghiệp chỉ tuyển nhận một số lượng nhân viên vừa với
khả năng quản lí và điều hành họ làm việc tối đa và hiệu quả.
- Doanh nghiệp bị xù nợ
Nhiều doanh nghiệp coi việc bị xù nợ là khó biết trước và khó mà tránh được. Điều
đó hoàn toàn không đúng vì phần lớn các món nợ bị mất đều có nguyên nhân từ một
quyết định sai lầm của doanh nghiệp. Chẳng hạn doanh nghiệp không thu thập đủ thông
tin cần thiết về khách hàng, doanh nghiệp bỏ qua lời khuyến cáo từ trước, vẫn tiếp tục
cung ứng hàng khi khách hàng vẫn còn nợ cũ tồn đọng. Đặc biệt với những khách hàng
mới và với những thương vụ lớn cần phải có những biện pháp an toàn hay phòng ngừa.
Các doanh nghiệp ít bị xù nợ vì rất quan tâm đến khả năng tài chính của khách hàng. Họ
sẵn sàng từ chối một hợp đồng kinh doanh khi thấy nghi ngờ hoặc rủi ro mất nợ là quá
lớn. Các doanh nghiệp đang có khó khăn về kinh doanh, doanh thu thường dễ dãi tiếp
nhận các hợp đồng. Chính sự dễ dãi, coi thường này có thểd ẫn đến bị mất nợ và trở
thành một cú đòn quyết định gây nên phá sản.
Lời khuyên thứ tư:Hợp đồng tốt nhất của doanh nghiệp chính là hợp đồng kinh
doanh mà doanh nghiệp không mạo hiểm và từ chối thực hiện.
- Doanh nghiệp bị nợ quá nhiều
Trang 7
Nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là khi mới thành lập, thường vay nợ quá nhiều, nhất là
nghiệp không phải để nâng cao địa vị xã hội mà là để kinh doanh kiếm nhiều tiền hơn.
Lời khuyên sáu: Một doanh nghiệp có thể thành công bắt đầu từ một nhà để xe, có
thể sẽ thất bại từ một lâu dài.
- Quá xem nhẹ những thua lỗ ban đầu
Nhiều doanh nghiệp lầm tưởng rằng việc kinh doanh thua lỗ trong những năm đầu
tiên thành lập là không thể tránh khỏi. Do đó thường xem nhẹ những kết quả kinh doanh
thua lỗ lúc ban đầu, không chú trọng tìm hiểu nguyên nhân. Khi nhận biết thì đã quá
muộn, doanh nghiệp có thể trên bờ phá sản. Trên thực tế, diễn biến thị trường, khách
hàng, kết quả kinh doanh không hoàn toàn theo dự kiến và kế hoạch kinh doanh ban đầu
của doanh nghiệp. Nếu kết quả thua lỗ ban đầu nằm trong trù tính trước thì nguyên nhân
thua lỗ vẫn nằm ngoài dự báo. Không phát hiện, phân tích đúng nguyên nhân dẫn đến
thua lỗ và không có những biện pháp điều chỉnh chính sách kinh doanh cho phù hợp càng
làm chính sách kinh doanh sai lầm tiếp tục và dẫn đến nguy cơ thất bại.
Lời khuyên thứ bảy:Lợi nhuận không phải là tất cả, nhưng nhà doanh nghiệp không
được chủ quan, phải quan tâm đến lợi nhuận ngay từ thời kỳ đầu.
- Chỉ nghĩ đến doanh số
Rất nhiều nhà doanh nghiệp chỉ mải mê nghĩ đến doanh số mà quên mất rằng thực
ra mục đích kinh doanh là lợi nhuận chứ không phải doanh số. Nhiều doanh nghiệp mới
thành lập đã vội tự hào vềs ự phát triển kinh doanh, mở rộng qui mô nhanh chóng. Đặc
biệt thể hiện bằng một vài hợp đồng hay công trình lớn. doanh nghiệp vội vã đầu tư dây
chuyền lớn,hiện đại, tuyển nhiều nhân viên. Nhưng kết cục lại đáng buồn. doanh nghiệp
Trang 9
chưa có kinh nghiệm tổ chức và điều hành qui mô lớn hơn, nhiều vấn đề mới phát sinh
mà chưa có kinh nghiệm. Hơn thế, nhiều khi nhóm khách hàng nhỏ dễ bị sao nhãng, thậm
chí bỏ rơi. Khách hàng lớn và hợp đồng lớn thì không có. Làm gì với số tài sản và nhân
sự mới được đầu tư, tuyển nhận? doanh nghiệp rất dễ có nguy cơ phá sản trong những
trường hợp như vậy. Khi các doanh nghiệp lớn tăng doanh số, tăng thị phần, các doanh
nghiệp nhỏ và vừa rất khó duy trì hoạt động tốt. Bởi đó là chính sách kinh doanh phù hợp
với các tập đoàn, các công ty quốc tế trường vốn. Tất nhiên nếu không có doanh số thì
không thể có lợi nhuận.Nhưng không có nghĩa là doanh số càng cao thì lợi nhuận càng
mình chịu trách nhiệm trước hết về một quyết định kinh doanh.
Trang 11
Phần B: NỘI DUNG
Chương I: Vài nét về tình hình phá sản doanh nghiệp trong nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN ở Việt Nam hiện nay:
Hình 1.1 : Tỷ lệ DN ngừng hoạt động phá sản
Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh đã đưa ra tại cuộc họp Ủy ban
Thường vụ kỳ thứ 7 hồi tháng 4, đến nay các cơ quan chuyên trách đã có những con số
thống kê khá đầy đủ về tình hình hoạt động của các doanh nghiệp trong 4 tháng đầu năm.
Theo nhận xét của Bộ chủ quản hoạt động đầu tư thì trong 4 tháng đầu năm 2012,
chỉ số tồn kho doanh nghiệp tiếp tục tăng cao, số doanh nghiệp giải thể, ngừng hoạt động
cao hơn so với cùng kỳ năm trước.
Thống kê của Bộ cho thấy, 4 tháng vừa rồi có 23.971 doanh nghiệp được thành lập
mới với tổng số vốn đăng ký 130.044 tỷ đồng, giảm 10,5% về số lượng doanh nghiệp và
giảm 14,1% về tổng vốn đăng ký so với cùng kỳ.
Tổng số doanh nghiệp đã thực hiện việc giải thể và dừng hoat động tiếp tục tăng
nhanh chóng lên 17.735 doanh nghiệp, tăng 9,5% so cùng kỳ năm 2011. Trong đó, thành
Trang 12
phố Hồ Chí Minh có 5.822 doanh nghiệp với 808 doanh nghiệp đã giải thể, 5.014 doanh
nghiệp dừng hoạt động. Hà Nội có 3.538 doanh nghiệp với 319 doanh nghiệp đã giải thể,
3.219 doanh nghiệp dừng hoạt động.
Hình 1.2: Biểu đồ thể hiện tốc độ tăng trưởng chi tiêu hàng hóa thực, đầu tư từ
ngân sách và lạm phát.
Các doanh nghiệp hoạt động chính trong lĩnh vực bán buôn, bán lẻ, xây dựng, chế
biến chế tạo, vận tải kho bãi và bất động sản.
Trong số các doanh nghiệp gặp khó khăn giải thể, có nhiều doanh nghiệp năng lực
tài chính yếu, sản phẩm kém khả năng cạnh tranh cần phải được cơ cấu lại, đồng thời bổ
sung một lượng mới doanh nghiệp đang tìm kiếm các cơ hội kinh doanh mới, qua đó
nâng cao hiệu quả đầu tư của khu vực doanh nghiệp và của toàn bộ nền kinh tế.
Như vậy, tính đến hết ngày 30/4/2012, trong tổng số 647.627 doanh nghiệp đã được
điểm sản xuất kinh doanh; 4,4% doanh nghiệp phải đóng cửa để thành lập doanh ngiệp
mới/chuyển đổi ngành nghề sản xuất kinh doanh và 4,7% doanh nghiệp đóng cửa để sáp
nhập với doanh nghiệp khác.
Những doanh nghiệp phá sản, giải thể có đến 89,7% cho biết sẽ không tiếp tục thành
lập doanh nghiệp mới.
Như thế, qua thống kê cho thấy tình hình các doanh nghiệp Việt Nam có xu hướng
thành lập thì ít, thu hẹp, phá sản thì nhiều; và là vấn đề nóng bỏng đang được quan tâm
trong xã hội.
Để thấy rõ được tình hình phá sản của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường
định hướng CNXH ở Việt Nam chúng ta đi vào cụ thể phân tích tình hình phá sản của 1
doanh nghiệp: Tình hình phá sản của Tập đoàn Kinh tế Vinashin.
Trang 15
Chương II: Sự phá sản của Tập đoàn kinh tế Vinashin:
2.1. Khái quát chung về tập đoàn kinh tế Vinashin:
Loại hình: Tập đoàn kinh tế
Ngành nghề: Đóng tàu,bảo hiểm,tài chính,vận tải biển,các dịch vụ khác
Thành lập: Hà Nội (15-5-2006)
Nhà sáng lập: Thủ tướng Việt Nam
Trụ sở chính: 109 Quán Thánh, Ba Đình, Hà Nội, Việt Nam
Thành viên chủ chốt: - Chủ tịch HĐQT: Nguyễn Ngọc Sự.
- CEO:Trương Văn Tuyến.
Sản phẩm: Đóng tàu; Dịch vụ đa ngành tàu thủy
2.1.1. Lịch sử hình thành:
Manh nha thành lập tổng công ty đã có từ lâu trên cơ sở chỉ đạo của trung ương về
tổ chức lại ngành công nghiệp tàu thuỷ Việt nam - Một ngành đã có truyền thống rất lâu
đời ở Việt nam. Tiền thân của tập đoàn là Tổng Công ty 91 được thành lập từ năm 1996.
Tổng Công ty 91 được thành lập vào ngày 31 tháng 1 năm 1996. Căn cứ vào Quyết
định số 69/TTg ngày 31 tháng 1 năm 1996 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập
Tổng Công ty Công nghiệp tàu thủy Việt Nam.
Ngày 15 tháng 5 năm 2006, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số
do tập đoàn giữ cổ phần chi phối.
Trong thời gian gần đây, tập đoàn đã có chiến lược phát triển và dự kiến thực hiện
việc xắp xếp, tổ chức lại về mặt nhân sự và cơ cấu tổ chức để nâng cao hiệu quả họat
động, gia tăng khả năng cạnh tranh.
2.1.3. Đầu tư:
Năm 2005, Chính phủ đã phát hành 750 triệu USD trái phiếu ra nước ngoài để đầu
tư cho các dự án của Vinashin. Trong tháng 11 năm 2009, Thủ tướng chính phủ còn ký
quyết định phát hành 3.000 tỷ đồng trái phiếu trong nước được Chính phủ bảo lãnh cho
tập đoàn để đầu tư dự án nâng cấp mở rộng Công ty Đóng tàu Phà Rừng và dự án đầu tư
nâng cao năng lực đóng tàu của Công ty đóng tàu Hạ Long thuộc Tập đoàn.
Trang 17
2.2. Tình hình phá sản của tập đoàn Vinashin:
2.2.1. Một số dự án thất bại điển hình:
Một số dự án thất bại điển hình của Vinashin cho thấy khả năng quản lý kém của
Ban giám đốc Vinashin.
Công ty Vận tải viễn dương Vinashin:
Công ty Vận tải viễn dương Vinashin (VNSlines) (công ty con của Vinashin) đầu tư
hơn 200 triệu USD (khoảng 3.136 tỷ đồng) để mua về tới 6 con tàu có tuổi từ 22 đến 26
năm trong số 9 tàu của Công ty này. Hầu như tất cả các con tầu này hiện tại đều không
chạy được, do hỏng hóc, do bị bắt giữ tại các cảng trong và ngoài nước.
Đóng tàu Lash Sông Gianh:
Tàu Lash Sông Gianh chỉ chạy thử 1 chuyến đầu tiên (và cũng là chuyến cuối cùng)
chở than từ Quảng Ninh vào Sài Gòn. Tổng tiền thu được từ chuyến hàng này chưa tới
1,8 tỷ, nhưng tiền bỏ ra để chi phí phục vụ cho việc chở đã tới hơn 4 tỷ đồng (bao gồm
tiền dầu, phí bảo đảm hàng hải, tàu lai, vật tư, phí tàu kéo lash con, lương thủy thủ, phí
hoa tiêu ). Thời gian hoàn thành chuyến hàng đầu tiên này cũng đạt mức kỷ lục: gần 2
tháng. Từ đó đến nay, nó được đắp chiếu nằm tại Nhà Bè- Sài Gòn.
Mua cổ phần Tổng Công ty bảo hiểm Việt Nam:
Với trị giá 1.467 tỷ đồng mua 20,4 triệu cổ phần chiếm 3,56% vốn với giá mua 70
ngàn VND.
doanh, quản lý các công ty con, công ty liên kết, tiến hành các hoạt động đầu tư xây
dựng, quản lý vốn, tài chính, vay và trả nợ.“Theo thông tin từ BBC, Ngày 1/11/2011
Vinashin đã chính thức bị Công ty Elliot VIN (Hà Lan) khởi kiện lên tòa án tại Anh, liên
quan đến khoản nợ 600 triệu đô la vay bằng trái phiếu. 60 triệu đô la từ khoản vay này
đã đến hạn trả nợ từ tháng 12/2010 nhưng Vinashin và các công ty con không có khả
năng thanh toán”.” Vinashin hiện nợ Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) khoảng gần
300 tỷ VND (14 triệu đôla) tiền đi vay để trả nợ tiền lương, các loại bảo hiểm, trợ cấp
cho người lao động”.
Năng lực quản trị doanh nghiệp và dự báo yếu kém, trình độ cán bộ lãnh đạo quản
lý chưa đáp ứng yêu cầu; xây dựng và thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh, kế hoạch
đầu tư của doanh nghiệp quá nhanh, quá nóng, không phù hợp với nguồn vốn, năng lực
quản lý và quy hoạch phát triển được cấp có thẩm quyền phê duyệt; quản lý đầu tư, quản
lý tài chính lỏng lẻo, kém hiệu quả, nhiều quyết định trái quy định của pháp luật; tổ chức
phát triển hệ thống doanh nghiệp quá dàn trải và quản lý nhân sự cán bộ không chặt chẽ.
Trang 19
Vinashin đầu tư dàng trải, đầu tư vào rất vào các dự án ngoài ngành (như điện, thép,
tài chính ) mà tập đoàn không có kinh nghiệm, dẫn tới nhiều dự án hiệu quả thấp, hoặc
chưa hoàn thành vì thiếu vốn, gây đình trệ và lãng phí rất lớn vốn.
Nghiêm trọng hơn, Vinashin đã báo cáo không đúng thực trạng về sử dụng vốn, về
đầu tư, về phát triển thêm doanh nghiệp, ngành nghề kinh doanh và tình hình hoạt động
sản xuất kinh doanh, mỗi lần báo cáo số liệu khác nhau. Năm 2009 và Quý I năm 2010
thua lỗ nhưng vẫn báo cáo có lãi.
“Tháng 7/2010, Thanh tra Chính phủ thực hiện thanh tra toàn diện tình hình tài
sản, kết quả sản xuất kinh doanh của Vinashin. Theo báo cáo của Thanh tra Chính phủ
gửi Thủ tướng, tính tới cuối năm 2009, tổng giá trị tài sản của Vinashin đạt hơn 102.500
tỷ đồng. Nếu loại trừ các công nợ nội bộ thì tổng giá trị tài sản còn lại gần 92.600 tỷ
đồng. Tổng nợ phải trả của Vinashin tính đến thời điểm cuối năm 2009 là hơn 86.700 tỷ
đồng bao gồm 750 triệu đô la trái phiếu Chính phủ bảo lãnh vay, nợ các ngân hàng
trong và ngoài nước, nợ các đối tác. Tổng vốn chủ sở hữu của Vinashin là 5.900 tỷ đồng.
Trong năm 2009, Vinashin thực lỗ gần 5.000 tỷ đồng, nhiều hơn 3.300 tỷ so với báo cáo
kinh doanh, một bộ phận không nhỏ người lao động bỏ việc, mất việc" - Chính phủ kết
luận.
2.2.2.2. Nguyên nhân khách quan:
Khủng hoảng Kinh tế trên thế giới 2008-2009:
Khủng hoảng Kinh tế trên thế giới 2008-2009 đã đánh vào tham vọng của Vinashin.
Theo ông Phạm Viết Muôn, Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ, vào năm 2006, 2007
Vinashin hoạt động tốt, phát triển tốt, qua năm 2008 mới suy thoái. Khi chưa suy thoái
Vinashin có 166 hợp đồng đóng tàu, giá trị 5-6 tỉ USD, nhưng có suy thoái các đối tác
huỷ hợp đồng gây thiệt cho Vinashin. Các cơ quan làm chiến lược, làm chính sách không
phải chỉ tham khảo ý kiến chuyên gia trong nước mà cả nước ngoài để đánh giá hoạt
động của Vinashin
Thị trường đóng tàu và vận tải biển thế giới sụt giảm đột ngột. Tổng giá trị hợp
đồng đóng mới năm 2008 giảm 38% so với năm 2007. Giá đóng mới tàu giảm một nửa
song thị trường đóng tàu vẫn ngừng trệ, các đơn đặt hàng giảm mạnh từ 57%-80%, có
loại tàu không còn hợp đồng đóng mới.
Theo đánh giá của Chính phủ, cùng với các nền kinh tế thế giới và trong nước, Tập
đoàn Vinashin chịu tác động hết sức nặng nề, đặc biệt về thị trường và nguồn vốn của
cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008. Ngân hàng thắt chặt cho vay, các dự án
đầu tư đang triển khai thiếu vốn không hoàn thành được để đưa vào sản xuất. Ngành vận
tải viễn dương bị đình đốn, các chủ tàu đã hủy hợp đồng và các thỏa thuận đóng tàu trị
giá hơn 8 tỷ USD. Riêng trong năm 2010 số hợp đồng đóng tàu có nguy cơ bị hủy lên tới
trên 700 triệu USD.
Trang 21
Chương III:Biện pháp Chính phủ đã đưa ra để cải thiện tình hình của Tập
đoàn kinh tế Vinashin: Tái cơ cấu:
3.1. Lý do:
Tại phiên họp thường kỳ, Chính phủ khẳng định, việc hình thành, phát triển Tập
đoàn Vinashin mạnh để làm nòng cốt trong việc phát triển ngành công nghiệp tàu thủy
của đất nước, đáp ứng nhu cầu kinh tế quốc dân, quốc phòng, an ninh là chủ trương đúng
đắn, rất cần thiết, phù hợp với các Nghị quyết liên quan của Đảng, quyết định của Chính
dụng trong ngoài nước để giãn ra, tiếp tục trả. Riêng những khoản đầu tư cho sản xuất thì
tiếp tục cho vay.
Ngày 18/11/2010, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng ký Quyết định
2108/QĐ-TTg phê duyệt Đề án tái cơ cấu Vinashin, theo đó chia tập đoàn ra làm ba phần.
Hai phần chuyển giao cho Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) và Tổng công ty Hàng hải
Việt Nam (Vinalines). Vinashin chỉ giữ lại các công ty con thuộc 3 lĩnh vực chính gồm
công nghiệp đóng và sửa chữa tàu biển; công nghiệp phụ trợ phục vụ cho việc đóng và
sửa chữa tàu biển; đào tạo nâng cao tay nghề cho cán bộ, công nhân công nghiệp tàu
biển.
Các dự án chuyển giao cho Tập đoàn Dầu khí Việt Nam:
- Khu công nghiệp Tàu thủy Lai Vu (Hải Dương) bao gồm cả Công ty Công
nghiệp Tàu thủy Lai Vu.
- Khu công nghiệp Tàu thủy Nghi Sơn (Thanh Hóa) bao gồm cả Ban quản lý
dự án Khu công nghiệp Nghi Sơn.
- Nhà máy Đóng tàu đặc chủng và Sản xuất trang thiết bị tàu thủy Nhơn
Trạch (Đồng Nai).
- Nhà máy Đóng tàu Dung Quất.
- Khu công nghiệp Tàu thủy Soài Rạp (Tiền Giang).
- Phần vốn góp của Vinashin trong Công ty cổ phần Công nghiệp Tàu thủy
Hoàng Anh (Nam Định) và trong các dự án do công ty này làm chủ đầu tư.
Các đơn vị chuyển giao cho Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam:
- Khu công nghiệp Cảng biển Hải Hà (Quảng Ninh).
- Cảng Vinashin Đình Vũ (Hải Phòng).
- Khu công nghiệp và Nhà máy Đóng tàu Hậu Giang.
- Cảng và Nhà máy Đóng tàu Năm Căn (Cà Mau).
- Công ty Vận tải Biển Đông.
Trang 23
- Công ty TNHH Một thành viên Vận tải Viễn Dương Vinashin.
- Và phần vốn góp của Vinashin trong các doanh nghiệp vận tải biển khác.
Trang 24