Luận văn: Các biện pháp nhằm thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá ở Việt Nam pot - Pdf 12


1

Luận văn
Các biện pháp nhằm thúc
đẩy xuất khẩu hàng hoáở
Việt Nam

2

MỞĐẦU
Việt Nam đang tiến hành công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa đất
nước, từng bước tiến dần lên chủ nghĩa xã hội. Trong công cuộc đó, Đảng và
Nhà nước đã xác định chiến lược công nghiệp hóa nước ta hướng về xuất
khẩu song song với thay thế nhập khẩu. Mục đích của chiến lược này nhằm
giúp cho nền kinh tế tăng trưởng cao, thu được lợi nhuận lớn không chỉ từ
trong nước mà còn mở rộng ra ngoài nước. Bên cạnh đó giảm được nguồn chi
phí lớn cho nhập khẩu .
Nhận thức được tầm quan trọng của chiến lược trên trong việc đẩy mạnh
quá trình xuất khẩu hàng hoáở Việt Nam trong thời gian tới, em đã lựa chọn
đề tài : Các biện pháp nhằm thúc đẩy xuất khẩu hàng hoáở Việt
Nam”.
Tiểu luận của em gồm các phần sau :
Phần I: Mởđầu
Phần II: Nội dung
1. Cơ sở lý luận về xuất khẩu hàng hoá
2.Thực trạng hoạt động xuất khẩu hàng hoáở Việt Nam
3. Các biện pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá

còn tạo ra nguồn vốn để nhập khẩu các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu làm đa
dạng hoá các mặt hàng tiêu dùng trên thị trường, đáp ứng nhu cầu và thị hiếu
tiêu dùng ngày càng cao của người dân.
Xuất khẩu còn là phương cách để mở rộng và thúc đẩy quan hệ kinh
tế giữa các quốc gia trên cơ sở các bên cùng có lợi. Thông qua xuất khẩu, các

4

quốc gia có thể bán ra bên ngoài những sản phẩm mà mình có lợi thế sản
xuất, từđó thu được lợi nhận kinh tế cao cho nước mình.
Bên cạnh đó, xuất khẩu tạo ra những tiền đề kinh tế –kĩ thuật nhằm
cải tạo và nâng cao năng lực sản xuất trong nước, đặc biệt là các nước đang
phát triển. Xuất khẩu chính là cơ sở quan trọng nhất tạo ra các nguồn vốn để
nhập khẩu máy móc thiết bị, kĩ thuật công nghệ tiên tiến ứng dụng vào sản
xuất.
Cuối cùng, thông qua hoạt động xuất khẩu các doanh nghiệp trong
nước sẽ có cơ hội tham gia vào cuộc cạnh tranh trên thị trường thế giới về
chất lượng, giá cả, tạo cơ hội cho các doanh nghiệp mở rộng quan hệ buôn
bán với nước ngoài. Tuy nhiên, cũng tạo ra thách thức đối với các doanh
nghiệp. Các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển cần phải đầu tư cả về
chiều rộng lẫn chiều sâu, hoàn thiện công tác quản lý kinh doanh qua đó nâng
cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp .
2. THỰCTRẠNGCỦAHOẠTĐỘNGXUẤTNHẬPKHẨUỞNƯỚCTA
Qua thực tế xuất khẩu hàng hóa ở nước ta những năm qua, đặc biệt là năm
1996, chúng ta thấy xuất khẩu Việt Nam đãđạt được sự phát triển nhanh với
những thành công đáng khích lệ. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tăng không
ngừng. Cùng với sự gia tăng kim ngạch, thị trường xuất khẩu cũng được mở
rộng, từ năm 1990 trở về trước Việt Nam chỉ có quan hệ thương mại với 40
nước, đến năm 1995 co số này đã tăng lên đến 105 nước và tổ chức quốc tế.
Trong đó, nước ta đã kí hiệp định thương mại với 60 nước. Hoạt động xuất khẩu

động.
Bốn là: Năm 1996 có bước tiến về cải cách thủ tục hành chính, thực hiện
bãi bỏ giấy phép chuyển đổi với hàng hóa xuất khẩu và nhập khẩu. Bộ chính
trị TW Đảng khóa VII ra nghị quyết 12/ NQ-TW về tiếp tục đổi mới tổ chức
và hoạt động thương nghiệp, phát triển thị trường theo định hướng XHCN.
Nghị quyết nêu rõ mục tiêu, quan điểm và 9 biện pháp chủ yếu. Bộ chính trị
khoá VII ra nghị quyết 01/ NQ-TW ngày 18-11-1996 về mở rộng và nâng cao
hiệu quả kinh tếđối ngoại 5 năm 1996-2000 đã góp phần mở rộng và phát
triển kinh doanh xuất nhập khẩu và nâng cao hiệu quả buôn bán đối ngoại.

6

Nhận thức được tầm quan trọng của xuất khẩu, trên cơ sở nắm rõ thực
trạng hoạt động xuất khẩu của đất nước, cần thực hiện các biện pháp đẩy
mạnh quá trình xuất khẩu hàng hoá của đất nước.
3. CÁCBIỆNPHÁPTHÚCĐẨYXUẤTKHẨUHÀNGHOÁỞ VIỆT NAM
Để thúc đẩy xuất khẩu thì cần phải thực hiện các biện pháp sau:
3.1. Xây dựng một cơ cấu kinh tế theo mô hình công nghiệp hóa
hướng về xuất khẩu:
Các ngành định hướng vào xuất khẩu được phát triển mạnh. Các sản
phẩm xuất khẩu của các ngành nông, lâm, ngư nghiệp trong những năm gần
đây luôn chiếm khoảng 50% tổng giá trị xuất khẩu 10 mặt hàng xuất khẩu chủ
lực của Việt Nam là dầu thô, cà phê, gạo, giày da, than đá, cao su, hạt điều và
lạc.
Các công nghệ mới phục vụ sản xuất hàng xuất khẩu nói riêng và công
nghệ mới nói chung được khuyến khích đưa vào Việt Nam thông qua
chếđộưu đãi trong việc đánh thuế nhập khẩu. Chính phủ Việt Nam chủ trương
xây dựng một hệ thống kinh tế theo mô hình công nghiệp hóa hướng về xuất
khẩu, khai thác lợi thế so sánh của nền kinh tế Việt Nam và tăng cường khả
năng cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam trên thị trường thế giới. Việc xác

hướng có hiệu quả nhất. Trong đó việc tăng cường vai trò quản lý Nhà nước
về thương mại, nhất là quản lý xuất nhập khẩu, sử dụng các biện pháp phi
thuế quan, các biện pháp không chính thức cóý nghĩa quan trọng hàng đầu để
thực hiện quá trình trên.
Việc quản lý của Nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu ngày càng được
cải tiến và hoàn thiện theo hướng khuyến khích xuất khẩu. Vừa qua Quốc hội
đã thông qua luật thương mại, tạo nên khuôn khổ pháp lýổn định cho hoạt
động xuất nhập khẩu. Nhà nước tập trung quản lý xuất khẩu vào một đầu mối
đó là Bộ thương mại. Bộ thương mại thực hiện chức năng thống nhất quản lý
Nhà nước và phối hợp với các Bộ, các cơ quan ngang Bộ và cơ quan thuộc
Chính phủđể quản lý hoạt động thương mại nói chung và hoạt động xuất nhập
khẩu nói riêng.

8

Hiện nay tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi loại hình không phân biệt
thành phần kinh tếđều được tự do buôn bán với nước ngoài trên cơ sở luật
định. Đối với các doanh nghiệp đã có giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu
chính thức, được xuất khẩu và nhận ủy thác xuất khẩu cả những mặt hàng
ngoài phạm vi ngành hàng ghi trong giấy phép kinh doanh trừ một số mặt
hàng có qui định riêng như: gạo, hàng dệt may xuất khẩu vào EU, Canada,
Thổ Nhĩ Kì, cà phê, sản phẩm gỗ, lâm sản và lâm sản chế biến, hàng xuất
khẩu theo qui chế quản lý chuyên ngành.
Từ cuối năm 1995, thủ tục cấp giấy phép xuất, nhập khẩu từng chuyến
hàng đãđược bãi bỏ tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập
khẩu cũng như các doanh nghiệp sản xuất vàđược đông đảo các doanh nghiệp
đánh giá cao. Đây là một trong các lý do giải thích vì sao tổng kim ngạch xuất
khẩu năm 1996 tăng đến 32,1% so với năm 1995.
3. 4. Chính sách thuế bước đầu được cải tiến;
Nhà nước Việt Nam sử dụng thuế với tư cách là một công cụ quan trọng

hội chợ, triển lãm và hội thảo thương mại tại Việt Nam. Việt Nam đã cử 55
đoàn cán bộ thương mại ra nước ngoài vàđón 50 đoàn nước ngoài vào Việt
Nam. Gần 200 doanh nghiệp Việt Nam đãđặt văn phòng đại diện và chi nhánh
ở nước ngoài.
3.6. Chính sách tỷ gía hối đoái linh hoạt tạo điều kiện thuận lợi cho
việc thúc đẩy xuất khẩu:
Từ năm 1987, Việt Nam bắt đầu cải cách trong cơ chếđiều hành tỷ
giáđồng Việt Nam với đồng đô la Mỹ (đồng tiền đóng vai trò quan trọng trong
quan hệ thanh toán của Việt Nam với nước ngoài). Chính sách tỷ giá hối đoái
góp phần giữ vững được giá trịđồng Việt Nam cả về danh nghĩa và giá trị
thực, ổn định mặt bằng giá cả trong nước và kiềm chế lạm phát, khuyến khích
được xuất khẩu tăng lên hàng năm.

10
3.7. Thành lập các tổng công ty lớn và các tập đoàn kinh doanh lớn để
tăng sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế:
Trong những năm gần đây hàng loạt các tổng công ty, các tập đoàn
đãđược thành lập. Trong điều kiện thiếu vốn, thiếu kinh nghiệm quản lý và
khả năng vươn tầm hoạt động ra thị trường thế giới của từng doanh nghiệp
còn hạn chế thì việc này đã giúp các doanh nghiệp trong cùng ngành liền kết
để phát huy sức mạnh tổng hợp. Với tầm vóc (thế và lực) đủ lớn thì khả năng
cạnh tranh ở thị trường trong nước và khả năng thâm nhập thị trường nước
ngoài đã và sẽ tăng lên đáng kể.
3.8. Thu hút đầu tư nước ngoài được coi là giải pháp quan trọng để
thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế nói chung và thúc đẩy xuất khẩu nói
riêng:
Việc thu hút đầu tư nước ngoài đã tạo điều kiện cho việc thúc đẩy xuất
khẩu biểu hiện ở các khía cạnh:
+ Khu vực có vốn nước ngoài đầu tư có hiệu quả vào các lĩnh vực thay
thế nhập khẩu.

không đồng đều, chưa chú trọng qui hoạch vùng sản xuất hàng xuất khẩu lớn
vàđồng bộ, chưa có mặt hàng xuất khẩu chủ lực đạt trị giá hàng tỷ USD, hàng
chế biến sâu và tinh chiếm tỷ trọng thấp.
Do vậy, để nâng cao tính cạnh tranh của sản phẩm xuất khẩu Việt Nam
phải thực hiện:
* Đẩy mạnh xuất khẩu phải có chiến lược xây dựng các ngành
hàng xuất khẩu chủ lực để tạo ra nguồn hàng lớn vàổn định. Chiến lược này
dựa trên cơ sở xây dựng cơ cấu ngành kinh tế, các mặt hàng phù hợp với nhu
cầu người tiêu dùng của thị trường trong nước và thị trường thế giới.
* Tăng cường đầu tưđổi mới công nghệ hiện đại để sản xuất chế
biến hàng xuất khẩu, mở rộng đầu tư trong nước vàđầu tư nước ngoài để phát
triển các khu vực công nghiệp tập trung, khu chế xuất, khu mậu dịch tự do,

12
vùng sản xuất nông-lâm-thủy sản lớn và tập trung. Nâng cấp hoặc xây dựng
mới các xí nghiệp vừa và nhỏ bằng những công nghệ hiện đại và phù hợp với
điều kiện Việt Nam, đổi mới kiều dáng công nghiệp, mấu mã hàng hóa, áp
dung các phương pháp quản lý tiên tiến, nâng cao tay nghề của người lao
động. Chú trọng phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, khôi phục và
phát triển các làng nghề truyền thống, dần dần hình thành và phát triển công
nghiệp nông thôn và thực hiện công nghiệp hóa nông nghiệp nhằm chuyển
bớt lao động nông nghiệp sang các ngành công nghiệp và dịch vụ.
* Nâng cao vai trò quản lýđiều hành của Nhà nước, đổi mới cơ
chế xuất nhập khẩu theo hướng thực hiện thị trường mở, phát triển nền kinh tế
nhiều thành phần tự do hóa ngoại thương, khuyến khích các doanh nghiệp và
các thành phần kinh tế tham gia xuất khẩu, tiến tới loại bỏ dần những hạn
chếđịnh lượng trong nhập khẩu và thay thế bằng những mức thuế quan giảm
dần để chỉđến năm 2000 thuế nhập khẩu chỉ còn 0-5% theo qui định của
chương trình thuế quan mang lại hiệu quả chung của các nước ASEAN. Nâng
cao trình độ quản lý của các viên chức nhà nước đểđáp ứng tốt nhu cầu công

tế, của toàn xã hội. Vì vậy, vấn đề xây dựng lên các chiến lược hướng vào
xuất khẩu, đưa ra các biện pháp thúc đẩy xuất khẩu, qui hoạch và tổ chức thực
hiện của tất cả các ngành, các lĩnh vực, các cấp quản lý cũng như các doanh
nghiệp và doanh gia của các thành phần kinh tếđều hướng vào mục tiêu tăng
trưởng thông qua hoạt động xuất khẩu hoặc để xuất khẩu. Việc thu hút và
phân bổ nguồn lực, kế hoạch và tổ chức thực hiện cũng như kiểm tra, kiểm
soát đều phải tập trung cho thực hiện chiến lược trên, không thể và không chỉ
là nhiệm vụ của ngành thương mại hay của một số ngành sản xuất mà là
nhiệm vụ của tất cả các ngành kinh tế, xã hội, văn hóa, luật pháp.

14
Cùng với sự phát triển của đất nước, sự tăng kim ngạch xuất khẩu trong
những năm qua đã góp phần đưa nền kinh tếđất nước đi lên. Là sinh viên em
cũng mong muốn được góp phần hiểu biết nhỏ bé cuả mình vào công việc xây
dựng đất nước đểđất nước ngày càng phát triển hơn nữa.

MỤC LỤC
Phần Mởđầu
1
Phần Nội Dung 2
1. Cơ sở lý luận về xuất khẩu hàng hoá


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status