Website: Email : Tel (: 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam – Trung Quốc là hai nước láng giềng, việc giao lưu kinh tế, văn hóa
giữa hai nước đã có từ rất lâu đời. Từ năm 1991 đến nay, sau 17 năm bình thường
hóa quan hệ, Trung Quốc đã trở thành đối tác thuơng mại số một, là bạn hàng nhập
khẩu lớn thứ ba của Việt Nam sau Mỹ và Nhật Bản.
Việc gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) của hai nước mở ra một tiềm
năng lớn đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Trung Quốc. Tuy
nhiên, bên cạnh những thuận lợi vẫn tồn tại nhiều khó khăn đối với VN như: phải
tuân theo các quy định của WTO; sửa đổi hệ thống luật pháp, chính sách, kinh tế và
thương mại…
Những vấn đề đó đòi hỏi phải có các biện pháp nhằm thúc đẩy quan hệ thương
mại giữa hai nước để từ đó đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam
sang Trung Quốc.
Nhận thức rõ tầm quan trọng của thị trường Trung Quốc đối với hoạt động xuất
khẩu hàng hóa của Việt Nam, tháng 7 vừa qua Bộ thương mại đã tổ chức hội thảo
khoa học “Định hướng phát triển quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam - Trung Quốc
trong bối cảnh mới”.
Đề tài: “Một số giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị
trường Trung Quốc” mà em nghiên cứu sau đây nhằm đánh giá khách quan thực
trạng xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam vào thị trường Trung Quốc trong thời gian
qua, đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động xuất khẩu hàng
hóa của Việt Nam sang Trung Quốc nói riêng và thúc đẩy quan hệ thương mại hai
nước nói chung.
Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục và tài liệu tham khảo, đề tài nghiên cứu
gồm ba chương:
Chương I: Một số vấn đề cơ bản về xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang
Trung Quốc.
Chương II: Thực trạng xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Trung Quốc.
Lê Thanh Hương Lớp: Thương mại 46A
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Trung Quốc hiện có 34 đơn vị hành chính, gồm: 23 tỉnh (kể cả Đài Loan), 4
thành phố trực thuộc Trung Ương, 5 khu tự trị và 5 khu hành chính đặc biệt. Với dân
số trên 1,3 tỷ người, Trung Quốc trở thành nước đông dân nhất thế giới, chiếm 21%
tổng dân số toàn thế giới, trong đó người Hán chiếm 93%. Trung Quốc là một nước
đa dân tộc có 55 dân tộc thiểu số được chính thức công nhận như Choang, Mãn, Hồi,
Tạng, Mông Cổ, Uigur…
- Về kinh tế:
Lê Thanh Hương Lớp: Thương mại 46A
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Kinh tế Trung Quốc là nền kinh tế thị trường mang màu sắc Trung Quốc. Bắt đầu
từ cuối năm 1978 các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã tiến hành cải tổ nền kinh tế từ mô
hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung kiểu Xô Viết sang nền kinh tế thị trường nhưng
vẫn trong khuôn khổ kiểm soát của Đảng. Trung Quốc đã áp dụng phương châm mở
cửa thị trường nội địa, thực hiện chính sách tài chính tích cực và chính sách tiền tệ ổn
định nhằm đạt được sự tăng trưởng kinh tế nhanh. Sau ba thập kỷ cải cách và phát
triển, đến nay Trung Quốc đã thu được những kết quả rất ấn tượng, tổng GDP đã
vượt 2200 tỷ USD (tháng 4.2007), dự trữ ngoại tệ lớn nhất thế giới đạt 1330 tỷ USD
(tháng 6.2007), mức tăng trưởng đạt 11,4% (năm 2007). Trung Quốc đã trở thành
một cường quốc kinh tế và đang nhanh chóng tiến tới để trở thành siêu cường vào
giữa thế kỷ này. GNI bình quân đầu người của Trung Quốc không ngừng tăng lên,
hiện nay đã đạt 1740 USD, sức mua của thị trường Trung Quốc trở nên rất hấp dẫn
đối với hoạt động xuất khẩu của các nước khác.
Trung quốc có sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế khá lớn giữa Miền
Đông và Miền Tây. Miền Tây với tổng diện tích 6,89 triệu km2, chiếm 72% và dân
số khoảng 355 triệu người, chiếm 28,44% Trung Quốc, điều kiện sinh thái tự nhiên
khá kém, cơ sở kinh tế yếu, trình độ phát triển thấp, GDP tính trên đầu người thấp
hơn nhiều so với mức trung bình của cả nước do đó Trung Quốc có nhiều chính sách
ưu đãi nhằm phát triển Miền Tây. Do kém phát triển nên đây là khu vực thị trường dễ
tính, không đòi hỏi chất lượng hàng hóa quá cao, là cơ hội thuận lợi để Việt Nam đẩy
mạnh xuất khẩu sang khu vực này của Trung Quốc.
năng lượng của Trung Quốc tăng bình quân hàng năm khoảng 30%, nhập khẩu
nguyên liệu cũng tăng bình quân ở mức hai con số. Khi mức sống của người dân
được cải thiện thì nhu cầu tiêu dùng cũng tăng lên đáng kể, Trung Quốc cũng phải
nhập khẩu một khối lượng khổng lồ hàng tiêu dùng để có thể đáp ứng nhu cầu trong
nước.
Thị trường Trung Quốc cho phép nhập khẩu những sản phẩm có chất lượng cao
hơn hàng sản xuất trong nước với số lượng cần thiết và hợp lý. Chủ yếu nhập khẩu
những sản phẩm công nghệ cao, tiên tiến để góp phần đổi mới các cơ sở sản xuất lạc
hậu và để sản xuất được hàng hóa có giá trị xuất khẩu cao. Không cho nhập khẩu
những sản phẩm mà trong nước có thể đáp ứng được về số lượng và chất lượng.
Lê Thanh Hương Lớp: Thương mại 46A
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Trung Quốc còn kiểm soát có hiệu quả việc nhập khẩu hàng tiêu dùng, đặc biệt là
hàng tiêu dùng cao cấp và hàng xa xỉ.
Từ sau khi gia nhập WTO, chất lượng hàng hóa nhập khẩu vào Trung Quốc càng
được yêu cầu cao và cụ thể hơn.
+ Đặc tính của doanh nhân Trung Quốc:
Người Trung Quốc vốn hiếu khách, trong giao dịch làm ăn các chủ doanh nghiệp
thường tổ chức ăn uống khá thịnh soạn, nhiều khi rất lãng phí. Việc đầu tiên khi gặp
đối tác của họ là trao đổi danh thiếp, hỏi thăm tên tuổi, sức khởe, tình hình gia đình
rồi mới bàn đến công việc. Trong giao dịch, lúc đầu họ thường rất cẩn trọng nhưng
khi đã có sự tin tưởng với đối tác rồi thì rất dễ dãi, có thể chấp nhận cung cấp hàng
trước và nhận tiền sau. Ngày nay, giới chủ doanh nghiệp thường gọi nhau theo họ rồi
đến chức vụ để thể hiện sự tôn trọng.
Chính phủ Trung Quốc khuyến khích biên mậu thông qua việc giảm thuế nhập
khẩu và thuế VAT nên các thương nhân Trung Quốc thường có sở trường làm biên
mậu, họ thường sẵn sàng mua hàng biên mậu giá cao hơn so với chính ngạch. Kiểu
kinh doanh này có thể gây rủi ro cho người bán hàng vì việc thanh toán trong hoạt
động mua bán không thông qua ngân hàng.
Doanh nhân Trung Quốc luôn muốn có được sự quan tâm đặc biệt, được hưởng
được phân thành thuế suất chung, thuế suất MFN và thuế suất áp dụng với các tổ
chức mà Trung Quốc tham gia. Năm đặc khu kinh tế, thành phố mở và các khu ngoại
thương được miễn hoặc giảm thuế ưu đãi. Đối với hàng hóa được chính phủ xác định
là cần thiết cho sự phát triển của một ngành trọng điểm nào đó thì có thể được áp
dụng mức thuế thấp hơn, ví dụ như ngành chế tạo ô tô, thép và các sản phẩm hóa
học.
Trung Quốc có hai chính sách thuế xuất nhập khẩu: chính ngạch và tiểu ngạch
(hay còn gọi là quốc mậu và biên mậu). Thuế xuất nhập khẩu chính ngạch do Chính
phủ Trung ương đề ra theo biểu xuất thuế nhập khẩu chung, bao giờ cũng cao hơn
thuế xuất nhập khẩu tiểu ngạch do chính quyền địa phương đề ra, không theo biểu
thuế xuất nhập khẩu chung.
• Định giá hải quan: Giá trị hàng nhập khẩu để định giá hải quan là giá CIF.
Theo cam kết trong WTO, hải quan Trung Quốc có trách nhiệm xác định giá trị của
Lê Thanh Hương Lớp: Thương mại 46A
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
tất cả hàng hóa được nhập khẩu vào nước này. Để định giá, nhân viên hải quan phải
có được bảng giá của các loại hàng hóa nhập khẩu, dựa trên giá của thị trường quốc
tế, giá của nước xuất khẩu và giá hàng sản xuất trong nước. Thông thường thì nhân
viên hải quan sẽ chấp nhận giá của nhà nhập khẩu, tuy nhiên nếu có sự chênh lệch
quá xa giữa giá của nước xuất khẩu và hàng nội địa thì việc ước tính giá trị của hàng
hóa sẽ được căn cứ theo điều 7 luật “Các biện pháp xác định giá trị hải quan đối với
hàng hóa xuất nhập khẩu” của hải quan Trung Quốc.
• Thuế VAT: Ngoài thuế quan, các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài đều
phải đóng thuế giá trị gia tăng (VAT). Mức thuế VAT được qui định chung cho các
loại hàng hóa là 17%, riêng đối với đại bộ phận hàng nông sản và nhiên liệu được coi
là hàng thiết yếu nên thuế suất VAT chung là 13%.
• Hạn ngạch thuế quan: Trung Quốc áp dụng hạn ngạch thuế quan đối với các
mặt hàng nông sản như ngô, gạo, lúa mì, lúa mạch, dầu thực vật và phân bón. Khi gia
nhập WTO, Trung Quốc đã công bố mức hạn ngạch và những qui định kiểm soát
mức hạn ngạch, theo đó lượng nhập khẩu trong hạn ngạch sẽ được hưởng mức thuế
được giám định vệ sinh dịch tễ. Đối với các loại thực phẩm nhập khẩu như lạc, hạt
điều, hạt dẻ, đồ hộp phải được cơ quan nhà nước gắn chứng nhận đặc biệt bằng laze
về an toàn thực phẩm. Trở thành thành viên chính thức của tổ chức thương mại thế
giới (WTO), Trung Quốc đã cam kết tuân thủ hoàn toàn các điều khoản trong hiệp
định về các biện pháp vệ sinh và kiểm dịch. Từ 5/7/2005 Trung Quốc áp dụng quy
định mới về yêu cầu đối với trái cây nhập khẩu nhằm ngăn chặn trái cây có hàm
lượng độc tố cao xâm nhập vào thị trương Trung Quốc. Qui định mới trên bao bì là
phải đề tên trái cây, nơi sản xuất, trọng lượng, mã số bằng tiếng Anh và tiếng Trung
Quốc, địa điểm lưu trữ trái cây phải được các cơ quan kiểm dịch địa phương kiểm tra
và quản lý.
1.1.2. Vai trò của thị trường Trung quốc đối với thương mại toàn cầu:
Sự phồn thịnh của Trung Quốc có ý nghĩa lịch sử đối với thế giới; bởi vì điều đó
đã làm cho hơn một tỷ người trên hành tinh của chúng ta thoát khỏi nghèo đói, có
cuộc sống ngày càng tốt đẹp, biến nước này thành thị trường lớn và công xưởng lớn
của thế giới, sản xuất hàng hóa có chất lượng tốt, giá cả cạnh tranh, đáp ứng nhu cầu
tiêu dùng của người dân có thu nhập thấp ở nhiều nước, tránh phải mua hàng với giá
quá đắt. Tuy vậy, với những ưu thế về dân số và lao động, tính cạnh tranh của Trung
Lê Thanh Hương Lớp: Thương mại 46A
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Quốc đang là thách thức to lớn đối với các nước, nhất là các nước láng giềng như
Việt Nam, không chỉ trên thị trường thế giới mà cả thị trường trong nước.
Trung Quốc là một thị trường rộng lớn, việc Trung Quốc ngày càng hội nhập sâu
hơn vào nền kinh tế toàn cầu là một trong những nhân tố góp phần duy trì sự tăng
trưởng của thương mại quốc tế. Từ năm 1980 Trung Quốc đã có những cải cách về
thuế. Cùng với sự gia nhập WTO, Trung Quốc đã tự cam kết sẽ có những cải cách
hơn nữa, những cải cách có thể gây ảnh hưởng sâu rộng và cũng đồng thời mang lại
nhiều thách thức. Việc duy trì thực hiện các cam kết này sẽ đưa Trung Quốc hội nhập
sâu hơn vào nền kinh tế toàn cầu và tạo ra thuận lợi cho hầu hết các quốc gia đối tác.
Các mặt hàng xuất khẩu của Trung Quốc ngày càng đa dạng hơn và sự thâm nhậm
ngày càng sâu rộng vào các nước công nghiệp đang diễn ra cùng với làn sóng nhập
truyền thống của mối quan hệ hữu nghị “vừa là đồng chí, vừa là anh em”, nhưng
cũng có hơn 12 năm (1978 – 2001) trong tình trạng băng giá. Hiện nay khi quan hệ
hai nước được mở rộng thì “sự thần kỳ của Trung Quốc” vừa là cơ hội lớn, vừa là
thách thức không nhỏ đối với họat động kinh tế của Việt Nam.
1.1.3. Lợi ích Việt Nam có được từ hoạt động xuất khẩu hàng hóa sang
Trung Quốc:
- Củng cố và mở rộng thị trường:
Việt Nam đang thực hiện chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa hướng về
xuất khẩu, thị trường xuất khẩu đóng vai trò cực kỳ quan trọng đối với việc tăng
trưởng và phát triển nền kinh tế. Trung Quốc có diện tích và dân số lớn, có nhiều
điểm tương đồng về kinh tế và xã hội với Việt Nam. Nhiều mặt hàng của ta rất được
ưa chuộng trên thị trường này, như hàng nông sản, thủy sản và tiểu thủ công nghiệp.
Tăng cường hoạt động xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Trung
Quốc, Việt Nam có thể củng cố và mở rộng thị trường xuất khẩu.
Khu vực thuộc miền Tây và Tây Nam Trung Quốc thực sự là thị trường rộng lớn
và đầy tiềm năng đối với xuất khẩu của Việt Nam, về nhu cầu thị hiếu tiêu dùng trên
thị trường này không khắt khe. Thâm nhập vào thị trường này, các doanh nghiệp Việt
Nam có lợi thế so sánh đối với các doanh nghiệp nội địa của Trung Quốc vì quãng
đường Việt Nam sang miền Tây Trung Quốc gần và dễ đi hơn so với các vùng khác
trong lục địa Trung Quốc.
Lê Thanh Hương Lớp: Thương mại 46A
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Từ trước tới nay, hầu hết các nhà xuất khẩu Việt Nam đều chưa tiếp xúc hoặc
đàm phán trực tiếp với các doanh nghiệp nhập khẩu nông sản, rau quả của Trung
Quốc mà đều qua các doanh nghiệp hoặc thương nhân trung gian của Trung Quốc.
Bởi vậy, thúc đẩy hoạt động xuất khẩu hàng hóa sang Trung Quốc, Việt Nam có thể
mở rộng được thị trường xuất khẩu.
Thông qua việc xuất khẩu hàng hóa sang Trung Quốc, Việt Nam có được một thị
trường xuất khẩu rộng lớn không đòi hỏi quá khắt khe với nhiều chủng loại hàng hóa,
đặc biệt là những hàng hóa đang gặp khó khăn về thị trường xuất khẩu như rau hoa
các sản phẩm nông nghiệp mà còn giải quyết được công ăn việc làm cho nhiều người
dân.
Góp phần tăng trưởng kinh tế, xóa đói giảm nghèo: Ngoại thương phát triển góp
phần quan trọng vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển công nghiệp,
thương mại và dịch vụ, khơi dậy tiềm năng thế mạnh tiềm ẩn của các tỉnh biên giới
Việt Nam, tạo điều kiện giảm bớt những khó khăn trong sản xuất kinh doanh, giúp
các địa phương cải thiện cơ bản tình hình kinh tế - xã hội. Phát triển ngành nghề sản
xuất và chuyển dịch cơ cấu kinh tế sẽ kích thích tăng trưởng kinh tế và nâng cao thu
nhập của dân cư. Như vậy, kinh tế phát triển đời sống của dân cư sẽ được cải thiện.
Góp phần đẩy nhanh tốc độ xây dựng cơ sở hạ tầng, cải thiện rõ rệt diện mạo của
cả nước, hình thành nhanh chóng nhiều trung tâm thương mại, dịch vụ và cụm dân cư
mới ở các tỉnh biên giới, kích thích lưu thông hàng hóa và dịch vụ.
Khoáng sản, nông sản và thủy sản là các mặt hàng chủ yếu của Việt Nam được
xuất khẩu sang Trung Quốc. Trong đó nông sản và thủy sản được sản xuất ở các tỉnh
phía Nam, đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng này sẽ góp phần phát triển kinh tế và
cải thiện đời sống của các tỉnh này, góp phần quan trọng trong việc ổn định và cải
thiện đời sống của một bộ phận đông đảo nhân dân các tỉnh tham gia trồng trọt, sản
xuất, chăn nuôi, chế biến nhóm hàng nông lâm thủy hải sản, rau quả nhiệt đới,…
Hoạt động xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Trung Quốc góp phần thúc
đẩy quan hệ thương mại giữa hai nước, góp phần đáng kể trong tăng trưởng kinh tế
của các tỉnh, thành phố của cả Việt Nam và Trung Quốc, phát triển các ngành có thế
mạnh, tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập và cải thiện đời sống của nhân dân.
Lê Thanh Hương Lớp: Thương mại 46A
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
1.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang
Trung Quốc:
1.2.1. Môi trường kinh tế:
Ảnh hưởng của các yếu tố thuộc môi truờng kinh tế có ảnh hưởng rất lớn đến
hoạt động xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Trung Quốc. Xu hướng vận động
hay bất cứ thay đổi nào của các yếu tố này đều tạo tạo ra thuận lợi hay hạn chế việc
khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam.
- Mức độ toàn dụng nhân công (% thất nghiệp): Liên quan đến nguồn lực về lao
động, chi phí nhân công, thu nhập của tầng lớp xã hội. Ảnh hưởng đến xu hướng tiêu
thụ của các tầng lớp dân cư.
1.2.2. Môi trường văn hóa và xã hội:
Yếu tố văn hóa – xã hội luôn bao quanh doanh nghiệp và người tiêu dùng, do đó
nó ảnh hưởng mạnh mẽ đến hoạt động xuất khẩu. Có thể nghiên cứu các yếu tố này
từ những giác độ khác nhau tùy theo mục đích nghiên cứu, trong trường hợp này
chúng ta đặc biệt quan tâm đến ảnh hưởng của các yếu tố này đến đặc điểm của thị
trường xuất khẩu.Thị trường tiêu dùng hàng hóa xuất khẩu luôn bao gồm những con
người thực với phong tục tập quán từng vùng, nhu cầu và khả năng thanh toán.
Tiêu thức thường được nghiên cứu khi phân tích yếu tố này bao gồm:
- Dân số: Số người hiện hữu trên thị trường. Tiêu thức này ảnh hưởng đến dung
lượng thị trường có thể đạt đến. Thông thường, dân số càng lớn thì quy mô thị trường
càng lớn, nhu cầu về một nhóm sản phẩm càng lớn, khối lượng tiêu thụ sản phẩm
càng lớn và khi đó tiềm năng xuất khẩu vào thì trường đó càng lớn. Tóm lại có nhiều
cơ hội hấp dẫn cho các doanh nghiệp nhập khẩu vào thị trường này. Đây là cũng
chính là thuận lợi của Việt Nam khi xuất khẩu hàng hóa sang Trung Quốc.
- Xu hướng vận động: tỷ lệ sinh tử, độ tuổi trung bình và các lớp người già trẻ,
tiêu thức này ảnh hưởng đến nhu cầu và việc hình thành các dòng sản phẩm đáp ứng
nhu cầu.
- Thu nhập và phân bố thu nhập của người tiêu thụ: lượng tiền mà người tieu thụ
có thể sử dụng để thỏa mãn nhu cầu cá nhân của họ. Trong điều kiện nguồn lực có
hạn có lượng tiền sẽ được trang trải cho các nhu cầu theo tỷ lệ khác nhau. Điều này
có ảnh hưởng đến việc lựa chọn sản phẩm và việc đáp ửng sản phẩm.
- Dân tộc, chủng tộc, sắc tộc, tôn giáo, nền văn hóa: bản sắc, đặc điểm văn hóa xã
hội của từng quốc gia phản ánh quan điểm và cách thức sử dụng sản phẩm. Trung
Quốc là một quốc gia đa dân tộc, đòi hỏi doanh nghiệp Việt Nam phải tìm hiểu rõ
Lê Thanh Hương Lớp: Thương mại 46A
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
thuận lợi hay gây khó khăn cho việc xuất khẩu hàng hóa, Việt Nam có lợi thế về địa
Lê Thanh Hương Lớp: Thương mại 46A
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
lý khi xuất khẩu hàng hóa sang Trung Quốc với đường biên giới chung dài 1.350km.
Khoảng cách giữa hai nước có ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí và giá thành của hàng
hóa, việc vận chuyển, trao đổi mua bán hàng hóa. Khí hậu, thời tiết, tính chất mùa vụ
ảnh hưởng đến các chu kỳ sản xuất, tiêu dùng trong khu vực, đến nhu cầu tiêu dùng
của thị trường xuất khẩu, các yêu cầu về sự phù hợp của hàng hóa, vấn đề dự trữ bảo
quản hàng hóa, tính đa dạng theo hướng chuyên môn hóa hoặc lợi thế so sánh trong
việc buôn bán…
1.2.5. Những nhân tố ảnh hưởng đến phát triển quan hệ thương mại Việt
Nam –Trung Quốc giai đoạn đến 2015:
- Các yếu tố mang tính toàn cầu:
Quan hệ kinh tế thương mại của Việt Nam với các nước và với Trung Quốc nói
riêng đang có sự thuận lợi từ sự phát triển của khoa học công nghệ, đặc biệt là công
nghệ thông tin. Quá trình này giúp cho quá trình sản xuất sản phẩm được rút ngắn lại,
tạo điều kiện cho các nước đi sau có thể bứt phá, đốt cháy giai đoạn, đuổi kịp và vượt
các quốc gia khác. Tuy nhiên, nếu không tận dụng được cơ hội, nguy cơ tụt hậu càng
cao. Đây là một thách thức to lớn đối với Việt Nam. Nếu không nỗ lực cải cách, Việt
Nam sẽ có ít hơn lợi ích trong mối quan hệ kinh tế đối với Trung Quốc, đứng trước
nhiều bất lợi phải đối phó.
Hệ thống pháp lý cho trao đổi thương mại toàn cầu đang ngày càng hoàn thiện,
tạo điều kiện cho tất cảc các nước khai thác được lợi ích thương mại. Việt Nam và
Trung Quốc là thành viên của WTO, điều này tạo thuận lợi cho quan hệ kinh tế
thương mại giữa hai nước phát triển dựa trên các nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi,
các tranh chấp thương mại sẽ được giải quyết trên cơ sở pháp lý minh bạch và rõ
ràng. Việc thực hiện các cam kết WTO sẽ là điều kiện thuận lợi cho hai nước mở
rộng quan hệ thương mại. Bên cạnh đó, các thể chế thương mại toàn cầu ngày cành
hoàn thiện cũng tạo thêm thuận lợi cho quan hệ hai nước với nhau và với các nước
khác.
- Các yếu tố của Trung Quốc:
Việc Trung Quốc gia nhập WTO có nhiều tác động đối với Việt Nam. Trước hết
là quan hệ hai nước sẽ được phát triển trên cơ sở pháp luật quốc tế, sẽ bình đẳng hơn,
qui mô thương mại được mở rộng nhờ cắt giảm các hàng rào thương mại. Thứ hai, sự
phát triển nhanh chóng của Trung Quốc sau khi gia nhập WTO tạo điều kiện cho
hàng hóa Việt Nam thâm nhập vào Trung Quốc. Thứ ba, Việt Nam tận dụng cơ hội
Lê Thanh Hương Lớp: Thương mại 46A
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
phát triển và hiện đại hóa của Trung Quốc để nhập khẩu công nghệ, thu hút đầu tư từ
Trung Quốc. Bên cạnh những tác động tích cực nói trên, việc gia nhập WTO của
Trung Quốc có những tác động tiêu cực đối với Việt Nam. Trước hết, gia tăng sức ép
cạnh tranh từ phía Trung Quốc. Thứ hai, việc Trung Quốc gia nhập WTO làm bùng
nổ quan hệ thương mại giữa hai nước, tuy nhiên, cũng làm gia tăng bất cập trong
quản lý thương mại biên mậu, kiểm soát chất lượng hàng hóa nhập khẩu, gia tăng
tình trạng buôn lậu…
Chính sách phát triển các vùng miền của Trung Quốc đang tạo thuận lợi trong
hợp tác của Việt Nam với các tỉnh Tây Nam và Đông Nam Trung Quốc. Sự thay đổi
chính sách đầu tư trong một số lĩnh vực tạo cơ hội cho Việt Nam thu hút FDI từ
Trung Quốc và các nước khác vào các lĩnh vực thu hút nhiều lao động và sử dụng tài
nguyên. Chính sách tỷ giá của Trung Quốc đang tạo thuận lợi thu hút FDI của Việt
Nam và sức cạnh tranh của hàng xuất khẩu. Hợp tác hai hành lang, một vành đai tạo
thuận lợi về cơ sở hạ tầng giao thông cho trao đổi thương mại hai nước.
Sự phát triển quá nóng của nền kinh tế Trung Quốc sẽ có tác động đến Việt Nam.
Trước hết, là gia tăng nhu cầu nhập khẩu nguyên liệu, năng lượng từ các nước trong
đó có Việt Nam và điều này có thể gây sức ép cạn kiệt môi trường và tài nguyên
thiên nhiên nước ta. Thứ hai, làm tăng giá, đặc biệt là nguyên liệu và năng lượng,
hàng hóa, vật tư trên thế giới dẫn đến sự mất ổn định thị trường.
- Các yếu tố trong nước:
Việt Nam gia nhập WTO tạo thuận lợi cho việc mở rộng quan hệ thương mại
theo nguyên tắc bình đẳng hơn, tuy nhiên với sức cạnh tranh vượt trội của hàng hóa
Nam
Thái Lan Malaixia Inđônêxia Philippin
Trung
Quốc
Việt Nam -
894
(30%)
1.021
(26%)
439
(27%)
834
(67%)
2.552
(30%)
Thái Lan
2.357
(33%)
- 5.685 3.960 2.050
13.392
(33%)
Malaixia
1.160
(34%)
8.080 - 3.322 1.974
20.093
(33%)
Inđônêxia
678
(21%)
ASEAN -6 (ngoại trừ Philippin) trong khi hầu hết các nước ASEAN xuất siêu sang
Trung Quốc.
Tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu vào Trung Quốc của Việt Nam và các
nước ASEAN trong giai đoạn 2001 – 2005 cũng cho thấy trong khi phần lớn các
nước ASEAN đã tranh thủ được cơ hội Trung Quốc tăng cơ hội nhập khẩu thì tốc độ
tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc vẫn thấp hơn các
nước trong khu vực và thấp hơn tốc độ tăng trưởng kim ngạch nhập khẩu cảu Trung
Quốc vào Việt Nam.
Cơ cấu xuất khẩu: hiện nay, khoảng cách phát triển công nghiệp giữa Việt Nam
và các nước ASEAN đi trước còn khá lớn. Kim ngạch xuất khẩu hàng công nghiệp
của Việt Nam mặc dù tăng nhanh, hiện nay mới chỉ bằng 1/3 của Philippin và
Inđônêxia, 1/5 Thái Lan và 1/7 Malaixia. Về chất lượng phát triển công nghiệp, so
với các nước ASEAN khác, tỷ lệ công nghiệp trong cơ cấu xuất nhập khẩu của Việt
Nam còn thấp. Số liệu bảng 2 cho thấy, ngoại trừ Inđônêxia còn dựa nhiều vào xuất
khẩu nguyên nhiên liệu, các sản phẩm công nghiệp chiếm tới 70% - 80% kim ngạch
xuất khẩu của các nước ASEAN khác và trên 85% kim ngạch xuất khẩu của Trung
Quốc nhưng chỉ chiếm tới 50% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam.
Về năng lực cạnh tranh xuất khẩu thì các nước có năng lực cạnh tranh mạnh về
hàng công nghiệp công nghệ cao và trung bình như điện tử sẽ có khả năng xuất khẩu
khi Trung Quốc tăng trưởng. Xuất khẩu những sản phẩm như dệt may, da giầy và
những hàng hóa sử dụng nhiều lao động khác sẽ có xu hướng giảm khi Trung Quốc
tăng trưởng. Xuất khẩu hàng nông nghiệp và tài nguyên thiên nhiên như dầu cọ, cao
su, gỗ, dầu thô, gas và rất nhiều sản phẩm nông nghiệp và hải sản khác sẽ có triển
vọng tăng lên. Như vậy sẽ có xu hướng Việt Nam tăng cung cấp nguyên nhiên liệu
cho Trung Quốc và nhập khẩu hàng công nghiệp.
Lê Thanh Hương Lớp: Thương mại 46A
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Bên cạnh lợi thế cạnh tranh thì các chính sách thương mại trong khu vực và đa
phương cũng đem lại những thay đổi trong năng lực cạnh tranh.
Để giảm thách thức và tăng cơ hội xuất khẩu sang Trung Quốc, Việt Nam phải
4166,2 6,1 5257,3 6,6 6909,1 7,2 8912,6 8,1
6
Sản phảm
CNCT phân
theo các NLC
8151,9 11,9 9391,5 11,7 11815,1 12,3 13637,4 12,4
7
Máy móc thiết
bị và PTGT
28910,7 42,5 35191,0 43,8 42776,5 44,4 49192,2 44,7
8
Hàng công
nghiệp
9873,6 14,5 10621,0 13,2 12038,6 12,5 13351,1 12,1
9 Các loại khác 2290,9 3,4 2233,5 2,8 1702,5 1,8 1826,2 1,7
Malaixia
Tổng kim
ngạch
94058.3
100,0 104704,2 100,0 126500,2 100,0 140962,9 100,0
Lê Thanh Hương Lớp: Thương mại 46A
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
0
Thực phẩm
và động vật
sống
1967,6 2,1 2216,8 2,1 2635,6 2,1 2835,8 2,0
2
Nguyên liệu
thô, trừ nhiên
ngạch
57158,1 100,0 61058,0 100,0 64483,5 00,0 85659,9 0
0
Thực phẩm
và động vật
sống
3606,3 6,3 3666,0 6,0 3968,4 ,2 4574,8 ,3
2
Nguyên liệu
thô, trừ nhiên
liệu
4522,1 7,9 5317,2 8,7 6432,6 10,0 9016,7 10,5
3 Nhiên liệu 13909,5 24,3 15709,8 25,7 11462,2 17,8 23716,8 27,7
4
dầu mỡ
động thực
vật
2657,0 4,6 3013,8 4,9 4492,8 7,0 5026,2 5,9
5
Hóa chất và
sản phẩm
hóa chất
2969,2 5,2 3386,6 5,5 4015,9 6,2 4493,0 5,2
6 Sản phảm 10926,0 19,1 11175,4 18,3 12866,5 19,9 14401,5 16,8
Lê Thanh Hương Lớp: Thương mại 46A
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
CNCT phân
theo các NL
chính
7
vật
376,4 1,1 535,3 1,5 610,2 1,5 694,3 1,6
5
Hóa chất và
sản phẩm
hóa chất
375,5 1,1 406,5 1,1 461,7 1,1 553,4 1,3
6 Sản phảm
CNCT phân
theo các NL
chính
1136,7 3,2 1258,1 3,4 1572,8 3,9 1712,0 4,1
7 Máy móc
thiết bị và
PTGT
26806,2 76,1 27103,9 74,8 30160,2 76,0 30768,3 74,6
8 Hàng công
nghiệp khác
4152,0 11,8 4125,5 111,4 3990,9 10,1 4172,9 10,1
Việt Nam
Tổng kim
ngạch
15029,2 100,0 16706,0 100,0 20149,4 100,0 26316,2 100,0
0 Thực phẩm 4021,1 26,8 4094,0 24,5 4384,3 21,8 5241,8 19,9
Lê Thanh Hương Lớp: Thương mại 46A
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
và động vật
sống
1 đồ uống và
thuốc l á
và động vật
sống
14620,7 4,5 17531,1 4,0 18864,2 3,2 22480,3 3,0
2 Nguyên liệu
thô, trừ nhiên
liệu
4402,5 1,4 5026,8 1,1 5842,5 0,9 7484,4 1,0
3 Nhiên liệu 8435,2 2,6 11114,2 2,5 14480,3 2,4 17621,9 2,3
5 Hóa chất và
sản phẩm
hóa chất
15324,9 4,7 19580,8 4,4 26359,7 4,4 35772,1 4,7
6 Sản phảm
CNCT phân
theo các NL
chính
52954,5 16,3 69018,4 15,7 100646,2 17,0 129120,7 16,9
Lê Thanh Hương Lớp: Thương mại 46A