Luận văn
Mở rộng và nâng cao
hiệu quả tín dụng tài trợ
doanh nghiệp vừa và nhỏ
tại các ngân hàng thương
mại trên địa bàn tỉnh
Bạc Liêu
1
MỤC LỤC
LỜI MỞI ĐẦU
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG
NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI DNV&N 1
1.1 Tín dụng và tín dụng ngân hàng 1
1.1.1 Khái niệm tín dụng 1
1.1.2 Bản chất và chức năng của tín dụng 1
1.1.2.1 Bản chất của tín dụng 1
1.1.2.2 Chức năng của tín dụng 1
1.1.3 Vai trò của tín dụng 2
1.1.4 Tín dụng ngân hàng 2
1.1.4.1 Khái niệm 2
1.1.4.2 Đặc điểm của tín dụng ngân hàng 4
1.1.4.3 Phân loại tín dụng ngân hàng 4
1.1.4.4 Hiệu quả của tín dụng ngân hàng 5
1.2 Doanh nghiệp vừa và nhỏ 6
1.2.1 Khái niệm về DNV&N 6
1.2.2 Đặc điểm của DNV&N 7
1.2.3 Vai trò của DNV&N đối với nền kinh tế 7
2.2.2.1 Qui mô và tốc độ tăng trưởng tín dụng đối với DNV&N 28
3
2.2.2.2 Tình hình nợ quá hạn đối với cho vay DNV&N 34
2.2.3 Đánh giá chung về các DNV&N có quan hệ tín dụng với các NHTM trên địa
bàn tỉnh Bạc Liêu. 37
2.3 Đánh giá những kết đạt được và những khó khăn trong việc tài trợ DNV&N
của các NHTM trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu 39
2.3.1 Đánh giá những kết quả đạt được 39
2.3.2 Đánh giá những khó khăn, tồn tại 40
2.3.2.1 Những khó khăn, tồn tại về phía các doanh nghiệp 40
2.3.2.2 Những khó khăn, tồn tại từ phía các NHTM 42
2.3.2.3 Những khó khăn, tồn tại từ phía các cơ quan quản lý Nhà nước 45
CHƯƠNG III.
GIẢI PHÁP MỞ RỘNG VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ TÍN DỤNG TÀI TRỢ
DNV&N TẠI CÁC NHTM TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẠC LIÊU 46
3.1 Phương hướng phát triển kinh tế tỉnh Bạc Liêu đến năm 2010 46
3.2 Các giải pháp giúp các DNV&N tiếp cận nguồn vốn tín dụng hiệu quả 48
3.2.1 Nâng cao khả năng lập phương án sản xuất kinh doanh 48
3.2.2 Nâng cao uy tín của doanh nghiệp trong quan hệ tín dụng 49
3.3 Các giải pháp mở rộng và nâng cao hiệu quả tín dụng của các NHTM 50
3.3.1 Các giải pháp nhằm mở rộng tín dụng tài tr
ợ DNV&N 50
3.2.1.1 Đẩy mạnh công tác huy động vốn 50
3.2.1.2 Đẩy mạnh công tác tiếp thị và thực hiện tốt chính sách khách hàng 52
3.2.1.3 Đơn giản hoá thủ tục cho vay, nâng cao chất lượng phục vụ đối với
DNV&N 53
3.2.1.4 Đa dạng hoá các sản phẩm tín dụng và áp dụng các hình thức cho vay
và lãnh đạo. Đặc trưng của nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là nền
kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước
xã hội chủ nghĩa. Từ đó tạo điều kiện cho hàng loạt các doanh nghiệp ra đời và phát
triển.
Do ra đời trong hoàn cảnh nền kinh tế thị trường nước ta còn ở giai đoạn sơ khai
nên các doanh nghiệp cũng gặp khó khăn và hạn chế về nhiều mặt như khả năng tài
chính hạn hẹp; máy móc, thiết bị lạc hậu; trình độ quản lý, trình độ chuyên môn, kỹ
thuật còn yếu kém và hầu hết là các doanh nghiệp thuộc loại vừa và nhỏ.
Trong những năm qua, Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách nhằm
khuyến khích và tạo điều kiện để các doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển sản xuất kinh
doanh. Tuy nhiên, việc tiếp cận các nguồn tài chính đối với các doanh nghiệp vừa và
nhỏ còn gặp nhiều khó khăn trong thực tiễn.
Xác định tầm quan trọng của DNV&N trong công cuộc phát triển kinh tế đất
nước nói chung và đóng góp của DNV&N cho sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh
Bạc Liêu nói riêng. Xuất phát từ những khó khăn, vướng mắc của các DNV&N, đặc
biệt là khả năng tiếp cận các nguồn tài chính hiện có mà trong đó nguồn vốn tài trợ từ
các ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu là một kênh hết sức quan trọng,
tôi mạnh dạn chọn đề tài: “Mở rộng và nâng cao hiệu quả tín dụng tài trợ doanh
nghiệp vừa và nhỏ tại các ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu” để
nghiên cứu làm luận văn Thạc sỹ kinh tế.
6
2- Mục đích nghiên cứu:
Phản ánh thực trạng tín dụng tài trợ các DNV&N, phân tích những khó khăn,
vướng mắc trong việc cấp tín dụng cho các DNV&N của các NHTM trên địa bàn tỉnh
Bạc Liêu, từ đó mạnh dạn đưa ra các giải pháp nhằm mở rộng và nâng cao hiệu quả tín
dụng tài trợ DNV&N, đồng thời giúp các DNV&N cải thiện tình hình tài chính, đáp
ứng được yêu cầu của các NHTM để có thể tiếp cận nguồn vốn tín dụng của các
khác nhau và phát triển mạnh mẽ vào thời kỳ đại công nghiệp của phương thức sản
xuất tư bản chủ nghĩa.
Nếu hiểu theo nghĩa hẹp, tín dụng là quan hệ vay mượn dựa trên nguyên tắc có
hoàn trả trong một thời gian nhất định. Hiểu theo nghĩa rộng, tín dụng là sự vận động,
điều tiết vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu, đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế.
1.1.2 Bản chất và chức năng của tín dụng
1.1.2.1 Bản chất của tín dụng
Tín dụng là một quan hệ vay mượn lẫn nhau dựa trên nguyên tắc có hoàn trả cả
gốc và lãi. Quan hệ tín dụng tồn tại và vận động ở bất kỳ phương thức sản xuất nào, đối
tượng vay mượn là hàng hoá hay tiền tệ thì tín dụng cũng mang 3 đặc điểm cơ bản:
- Chỉ thay đổi quyền sử dụng mà không thay đổi quyền sở hữu vốn tín dụng.
- Có thời hạn tín dụng xác định do người vay và người đi vay thoả thuận.
- Người chủ sở hữu tín dụng nhận được khoản thu nhập dưới hình thức lợi tức.
1.1.2.2 Chức năng của tín dụng
Trong nền kinh tế hàng hoá, tín dụng thực hiện hai chức năng cơ bản sau:
8
- Tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ trên cơ sở có hoàn trả.
Tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ là hai mặt thống nhất của hoạt động tín
dụng. Thông qua chức năng này, tín dụng đã trực tiếp tham gia điều tiết các nguồn vốn
tạm thời dư thừa từ các cá nhân, các tổ chức kinh tế để bổ sung kịp thời cho những
doanh nghiệp, Nhà nước hay cá nhân đang thiếu vốn.
- Phản ánh và kiểm soát các hoạt động kinh tế
Thông qua quá trình tập trung và phân phối lại vốn, tín dụng góp phần phản ánh
được mức độ phát triển kinh tế về các mặt như: nhu cầu vốn trong từng thời kỳ, khối
lượng tiền tệ nhàn rỗi trong xã hội.
Đặc biệt trong hoạt động cho vay, ngân hàng luôn thực hiện quá trình kiểm tra
tình hình tài chính, tình hình sử dụng vốn của đơn vị để góp phần đảm bảo an toàn vốn
cho ngân hàng.
Thông qua việc tổ chức thanh toán không dùng tiền mặt, kiểm tra tình hình tài
+ Hoạt động của TDNH còn có tác động và ảnh hưởng lớn đối với tình hình lưu
thông tiền tệ của quốc gia. Nhờ hoạt động TDNH mà vốn tiền tệ của xã hội được huy
động và sử dụng tối đa cho nhu cầu phát triển kinh tế, đẩy mạnh chu chuyển vốn, tập
trung qua hệ thống ngân hàng.
- Tín dụng Nhà nước: là quan hệ tín dụng giữa Nhà nước với các tổ chức và cá
nhân trong xã hội, được thực hiện dưới hình thức Nhà nước phát hành công trái để huy
động vốn cho ngân sách phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.
10
- Tín dụng quốc tế: là quan hệ tín dụng giữa các chính phủ hoặc giữa các tổ chức
tiền tệ của các nước được thực hiện bằng nhiều hình thức khác nhau nhằm hỗ trợ vốn
cho phát triển kinh tế - xã hội của một nước.
1.1.4.2 Đặc điểm của TDNH
Tín dụng ngân hàng có 4 đặc điểm:
- TDNH được thực hiện cho vay và thu nợ chủ yếu dưới hình thức tiền tệ, nguồn
vốn mà các ngân hàng sử dụng cho vay hình thành từ những khoản tiền tệ tạm thời
nhàn rỗi trong xã hội.
- Trong quan hệ TDNH, người cho vay là các ngân hàng, người đi vay là các tổ
chức và cá nhân.
- TDNH là hình thức tín dụng gián tiếp.
- TDNH vừa mang tính chất sản xuất kinh doanh gắn với hoạt động của các
doanh nghiệp, vừa là tín dụng tiêu dùng, vì vậy quá trình phát triển của TDNH không
hoàn toàn phù hợp với quá trình phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hoá.
1.1.4.3 Phân loại TDNH
Có nhiều cách tiếp cận để phân loại hoạt động TDNH.
- Căn cứ vào loại hình nghiệp vụ: cho vay, chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ
có giá, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng, bao thanh toán.
- Căn cứ vào thời hạn tín dụng: tín dụng ngắn hạn, tín dụng trung và dài hạn.
- Căn cứ vào tài sản đảm bảo: tín dụng có đảm bảo bằng tài sản, tín dụng không
có đảm bảo bằng tài sản.
gia tăng gián tiếp.
12
Giá trị gia tăng trực tiếp do các dự án có vốn tín dụng tăng thêm.
Giá trị gia tăng gián tiếp thu được từ những hoạt động kinh tế khác do phản ứng
dây chuyền từ những dự án có vốn tín dụng sinh ra.
+ Tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động.
+ Góp phần tăng nguồn thu cho ngân sách, thúc đẩy kinh tế phát triển …
+ Góp phần phát triển địa phương: tăng thu nhập bình quân đầu người …
1.2 Doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.2.1 Khái niệm về DNV&N
Cho đến nay các quốc gia trên thế giới vẫn chưa có một khái niệm chung về loại
hình DNV&N mà tuỳ thuộc vào đặc điểm của từng quốc gia, từng đặc điểm của nền
kinh tế mà đưa ra những qui định về DNV&N. Thông thường các quốc gia căn cứ vào
qui mô về vốn của doanh nghiệp, số lao động thường xuyên tại doanh nghiệp, tổng
doanh thu, tổng tài sản… của doanh nghiệp. Ví dụ ở philipines việc phân loại doanh
nghiệp dựa vào qui mô về vốn hoặc theo số nhân công của doanh nghiệp; ở Đài loan
việc phân loại doanh nghiệp dựa vào 4 tiêu thức là tổng giá trị tài sản hiện có, số lao
động sử dụng thường xuyên, vốn đã góp và doanh số hàng năm …
Ở Việt Nam, căn cứ vào đặc điểm, tình hình thực tế của đất nước cùng với yêu
cầu bức thiết trong vấn đề hỗ trợ phát triển đối với các doanh nghiệp, ngày 23/11/2001
Chính phủ đã ban hành Nghị định số 90/2001/NĐ-CP về việc “Trợ giúp phát triển
doanh nghiệp nhỏ và vừa”. Tại điều 3 của nghị định này định nghĩa: “Doanh nghiệp
nhỏ và vừa là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật
hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm
không quá 300 người”. Cũng tại Nghị định này, đối tượng DNV&N được cụ thể hoá,
bao gồm: các doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo Luật doanh nghiệp; các doanh
nghiệp thành lập và hoạt động theo Luật DNNN; các Hợp tác xã thành lập và hoạt
13
liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp như hoạt động cung ứng đầu vào, tiếp nhận
đầu ra, các hoạt động phụ trợ phục vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp …
Lý do thành công trong việc giải quyết việc làm của DNV&N là: thứ nhất, số
lượng doanh nghiệp nhiều, ở hầu hết các quốc gia, DNV&N thường chiếm trên 90%
tổng số doanh nghiệp; thứ hai, các DNV&N phân bố rộng rãi từ thành thị đến nông
thôn, từ đồng bằng đến miền núi, giải quyết nhu cầu việc làm ở các địa phương góp
phần cân đối lao động; thứ ba, do dễ khởi sự nên các DNV&N có thể giải quyết nhanh
chóng số lao động dôi dư tạm thời của nền kinh tế.
1.2.3.2 Có khả năng tận dụng các nguồn lực xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế,
góp phần nâng cao khối lượng và chất lượng hàng hoá dịch vụ
- Về vốn: đối với các nước đang phát triển và kém phát triển thì việc tận dụng mọi
nguồn vốn trong xã hội là rất cần thiết. Các DNV&N tận dụng được nguồn vốn do các
cá nhân có vốn tự đầu tư hoặc góp vốn cùng nhau kinh doanh ở bất cứ nơi đâu, bất kỳ
lĩnh vực hoạt động nào với qui mô tuỳ ý.
- Về lao động: do nhu cầu đa dạng nên các DNV&N có thể sử dụng lao động ở
mọi trình độ, từ lao động có trình độ cao đến lao động có trình độ thấp hay cả những
lao động chưa qua đào tạo, thuộc mọi lĩnh vực, ở khắp các địa phương.
- Về mặt kỹ thuật: DNV&N dễ dàng lựa chon kỹ thuật phù hợp với khả năng về
vốn và trình độ lao động. Những kỹ thuật được ứng dụng trong các DNV&N rất đa
dạng, phong phú từ thủ công đến cơ khí hoá, tự động hoá; từ truyền thống đến tiên tiến,
hiện đại.
- Về nguyên vật liệu: các DNV&N có thể vươn tới được những vùng nguyên liệu
dù nhỏ hay xa đến mấy, nhất là những nơi mà các doanh nghiệp lớn không thể bao phủ
hết được. Do đó DNV&N đóng góp quan trọng vào quá trình phát triển công nghiệp
rộng khắp về mặt địa lý.
15
1.2.3.3 Góp phần to lớn trong việc phát triển những nhà kinh doanh, những nhà
quản trị và đội ngũ công nhân lành nghề.
Có thể coi các DNV&N là nơi ươm mầm những tài năng quản trị và phát triển
các sản phẩm xuất khẩu hoặc những sản phẩm có khả năng thay thế hàng nhập khẩu.
Chất lượng sản phẩm có thể không cao, nhưng chắc chắn là giá cả sẽ thấp so với hàng
nhập khẩu. Đặc biệt, việc phát triển DNV&N tạo khả năng thúc đẩy tiềm năng của các
ngành nghề truyền thống ở các địa phương của mỗi nước, nhất là các ngành thủ công
mỹ nghệ, đây là những ngành có tỷ trọng xuất khẩu cao ở các nước.
Những vai trò vừa nêu trên của DNV&N đã cho thấy sự cần thiết phải phát triển
loại hình doanh nghiệp này.
1.3 Sự cần thiết mở rộng và nâng cao hiệu quả của TDNH
1.3.1 Vai trò của TDNH đối với sự phát triển của DNV&N
Có nhiều kênh cung ứng vốn cho DNV&N nhưng kênh TDNH vẫn là kênh quan
trọng bậc nhất ngay sau việc tự tài trợ bằng nguồn vốn chủ sở hữu có giới hạn của
doanh nghiệp. Nguyên nhân là do các nguồn vốn khác có những hạn chế riêng nhất
định:
- Vốn tự tích luỹ bằng lợi nhuận: nguồn vốn này có giới hạn, thường nhỏ và manh
mún, đồng thời phải là quá trình lâu dài vì vậy sẽ không theo kịp tốc độ phát triển của
nền kinh tế, làm cho doanh nghiệp trở nên thiếu sức cạnh tranh. Nhưng dù sao đây
cũng là nguồn vốn được các DNV&N ưu tiên sử dụng để tài trợ trước hết rồi mới đến
các nguồn vốn khác.
17
- Vốn từ vay mượn bạn bè, người thân: thường là rất khó khăn và hạn chế, rất ít
doanh nghiệp có thể phát triển mạnh bằng nguồn vốn này.
- Được cấp tín dụng thương mại: cũng chỉ có giới hạn trong khả năng nguồn vốn
của nhà cung cấp, phụ thuộc vào chính sách bán chịu của nhà cung cấp và có thời hạn
tín dụng ngắn. Bên cạnh đó, nó lại buộc các DNV&N phải chịu sự lệ thuộc cả về qui
mô và khả năng lựa chọn đối với người cung cấp nguyên vật liệu đầu vào, bao hàm các
yếu tố như chủng loại, chất lượng, giá cả … của nguyên vật liệu.
- Vay từ những cá nhân hay tổ chức cho vay không chính thức: lãi suất thường rất
cao, bất hợp lý và có khả năng gây ra những vấn đề phức tạp trong quan hệ.
Trong khi đó, nếu được vay bằng nguồn vốn TDNH thì các DNV&N sẽ được
là đang giảm dần tỷ trọng cho vay đối với các DNNN do loại hình doanh nghiệp này có
những hạn chế nhất định và đang trong quá trình sắp xếp lại. Chính khu vực DNV&N
sẽ là một thị trường tiềm năng để các TCTD mở rộng tín dụng và đa dạng hoá danh
mục đầu tư của mình.
1.3.3 Đặc điểm của hoạt động TDNH đối với DNV&N
Do những đặc thù riêng của loại hình DNV&N nên việc cho vay đối với các
doanh nghiệp này cũng có những đặc điểm riêng, không giống với cho vay doanh
nghiệp lớn:
- Do hoạt động của các DNV&N diễn ra trên qui mô không lớn lắm nên dễ nắm
bắt và bao quát được, vì vậy công tác thẩm định đòi hỏi ít thời gian và ít kỹ năng hơn
so với thẩm định doanh nghiệp lớn; qui trình và thủ tục cho vay cũng đơn giản hơn.
- Nhân viên tín dụng thường ít gặp trở ngại trong việc tiếp xúc với doanh nghiệp,
trong việc yêu cầu được kiểm tra sổ sách, chứng từ của doanh nghiệp. Tuy nhiên khó
19
khăn trong việc thẩm định cho vay đối với DNV&N chính là ở chổ khả năng cung cấp
các số liệu kế toán tài chính, khả năng lập dự toán và phương án sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp, không lập được bảng lưu chuyển tiền tệ , hoặc các báo cáo tài chính
thường không trung thực và không được kiểm toán. Đặc biệt, tại hầu hết các doanh
nghiệp DNV&N việc hạch toán kế toán không theo chuẩn mực chung, mà chỉ mở sổ
theo dõi sơ sài, và không lập báo cáo tài chính.
- Rủi ro trong cho vay đối với DNV&N được đánh giá là cao hơn nhiều so với
cho vay các doanh nghiệp lớn. Vì những lý do: thứ nhất, các DNV&N dễ khởi sự và
cũng dễ kết thúc; thứ hai, trình độ quản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
thường không cao nên dễ bị thua lỗ; thứ ba, thông tin về các DNV&N trên thị trường
rất hạn chế, không phổ biến như thông tin về các doanh nghiệp lớn …
- Lãi suất cho vay thường cao để phần nào bù đắp rủi ro cao. Đối với các doanh
nghiệp lớn, sản xuất kinh doanh có hiệu quả, uy tín thì giữa các ngân hàng thường có
sự cạnh tranh gay gắt để thu hút khách hàng; mà công cụ cạnh tranh phổ biến và dễ
thực hiện nhất chính là lãi suất, do vậy lãi suất cho vay áp dụng đối với các doanh
Từ thực tiễn hoạt động TDNH đối với DNV&N các nước, chúng ta thấy rằng
Chính phủ không trực tiếp cung cấp nguồn vốn cho các DNV&N mà chỉ hỗ trợ bằng
những cơ chế chính sách như thành lập các ngân hàng chuyên cho vay các DNV&N,
qui định tỷ lệ cho vay DNV&N trên số dư huy động của các ngân hàng, thành lập Quỹ
bão lãnh tín dụng DNV&N, trung tâm tư vấn DNV&N.
Với những kinh nghiệm như trên, có thể rút ra những bài học kinh nghiệm trong
việc tài trợ vốn cho các DNV&N ở Việt Nam như sau:
- Nhà nước chỉ giữ vai trò hỗ trợ trong việc cấp TDNH cho các DNV&N bằng cơ
chế chính sách.
- Thành lập các ngân hàng chuyên cho vay các DNV&N.
21
- Thành lập và vận hành Quỹ bảo lãnh tín dụng DNV&N để bảo lãnh cho các
DNV&N vay vốn của các NHTM. Thành lập ngân hàng chuyên cho vay DNV&N, các
trung tâm tư vấn DNV&N.
- Các NHTM chủ động phân loại khách hàng để cho vay tín chấp đối với những
doanh nghiệp được xếp loại cao.
Kết luận chương I:
Đối với các nền kinh tế đang phát triển, các DNV&N đóng vai trò rất quan trọng,
nó đóng góp phần lớn vào sự tăng trưởng kinh tế của quốc gia. Tầm quan trọng của các
DNV&N còn được thể hiện ở khả năng tạo ra nhiều công ăn việc làm, giảm bất bình
đẳng về thu nhập, tạo ra một môi trường cạnh tranh. Để các DNV&N đủ mạnh về số
lượng, qui mô, năng lực hoạt động đủ sức cạnh tranh trên thị trường đòi hỏi các
DNV&N phải có đủ nguồn vốn đầu tư thích hợp.
2005
TỔNG SỐ
15.499 17.805 20.82
5
25.208 28.271
1. Khu vực DNNN
20 22 22 1
7
10
+ DNNN Trung ương
44432
+ DNNN Địa phương
16 18 18 14 8
2. Khu vực DN ngoài NN
15.47
7
17.781 20.801 25.189 28.255
+ Hộ kinh doanh cá thể
15.216 17.453 20.316 24.615 27.624
+ DN Tư nhân
239 298 440 506 551
+ Công ty TNHH
18 25 37 49 52
+ Công ty cổ phần
4 5 8 19 28
3. Khu vực có vốn ĐTNN
2222
6
+ 100 % vốn nước ngoài
11113
263 330 48
7
57
6
64
7
N
ông nghiệp và Lâm nghiệp
5 7 91012
Thuỷ sản
41 52 73 86 92
Công nghiệp khai thác mỏ
44 555
Công nghiệp chế biến
43 61 95 117 127
Sản xuất & phân phối điện, khí đốt và nước
11 111
Xây dựng
14 16 23 31 37
Thương nghiệp, sửa chữa xe có động cơ, mô tô, xe máy,
đồ dùng gia đình
135 164 247 286 320
Khách sạn và nhà hàng.
44 5818
Vận tải, kho bãi và thông tin liên lạc.
6 9 13 14 16
Tài chính, tín dụng.
45 7910
Hoạt động khoa học và công nghệ.
11 111
Biểu đồ 2.1. Cơ cấu vốn của doanh nghiệp tư nhân Việt Nam tiêu biểu
67%
5%
3%
7%
4%
9%
5%
0%
10%
20%
30%
40%
50%
60%
70%
Tiet kiem ca
nhan
Tiet kiem cua
gia dinh va ban
be
Cac to chuc dau
tu
Vay cua gia
dinh va ban be
Nguoi cho vay
tien khong chinh
thuc
Ngan hang Nguon khac