Rủi ro tín dụng và giải pháp nhằm hạn chế rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh Bình Phước. - Pdf 76

Chương 1
TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG VÀ RỦI RO TÍN
DỤNG NGÂN HÀNG
1.1 Hoạt động tín dụng
1.1.1 Khái niệm
Tín dụng là quan hệ vay mượn, quan hệ sử dụng vốn lẫn nhau giữa người cho
vay và người đi vay theo nguyên tắc có hoàn trả và có lãi suất. Bên đi vay có trách
nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán.
Căn cứ theo khoản 01 Điều 03 của Quy chế cho vay của Tổ chức Tín dụng đối
với khách hàng (QĐ 1627) “Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó TCTD giao
cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định
theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.”
Căn cứ theo Điều 20 của Luật các tổ chức tín dụng thì “Hoạt động tín dụng là
việc tổ chức tín dụng sử dụng nguồn vốn tự có, vốn huy động để cấp tín dụng”
Căn cứ theo Điều 49 của Luật này về “Cấp tín dụng” thì TCTD được cấp tín
dụng cho tổ chức, cá nhân dưới các hình thức cho vay, chiết khấu thương phiếu và giấy
tờ có giá khác, bảo lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức khác theo quy định của
NHNN.
1.1.2 Bản chất
Từ khái niệm trên, bản chất của tín dụng là một giao dịch về tài sản trên cơ sở
hoàn trả và có các đặc trưng sau:
- Tài sản giao dịch trong quan hệ tín dụng ngân hàng bao gồm hai hình thức là
cho vay (bằng tiền) và cho thuê (bất động sản và động sản).
- Xuất phát từ nguyên tắc hoàn trả, vì vậy người cho vay khi chuyển giao tài sản
cho người đi vay sử dụng phải có cơ sở để tin rằng người đi vay sẽ trả đúng hạn
- Giá trị hoàn trả thông thường phải lớn hơn giá trị lúc cho vay, hay nói cách
khác là người đi vay phải trả thêm phần lãi ngoài vốn gốc.
- Trong quan hệ tín dụng ngân hàng, tiền vay được cấp trên cơ sở bên đi vay cam
kết hoàn trả vô điều kiện cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán.
1
1.1.3 Phân loại hoạt động tín dụng

thời người đi vay trực tiếp trả nợ vay cho ngân hàng.
+ Cho vay gián tiếp: là khoản cho vay được thực hiện thông qua việc mua lại các
khế ước hoặc chứng từ nợ đã phát sinh và còn trong thời hạn thanh toán như là: chiết
khấu thương mại; bao thanh toán.
1.2 Rủi ro tín dụng
1.2.1 Khái niệm
Rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân
hàng, biểu hiện trên thực tế qua việc khách hàng không trả được nợ hoặc trả nợ không
đúng hạn cho ngân hàng.
Căn cứ vào khoản 01 Điều 02 của Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng
dự phòng để xử lý rủi ro theo Quyết định số 493 /2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của
Thống đốc NHNN thì “RRTD trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng là khả
năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng
không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết.”
Như vậy, có thể nói rằng RRTD có thể xuất hiện trong các mối quan hệ mà trong
đó ngân hàng là chủ nợ, mà khách hàng nợ lại không thực hiện hoặc không đủ khả năng
thực hiện nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn. Nó diễn ra trong quá trình cho vay, chiết khấu
công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá, cho thuê tài chính, bảo lãnh, bao thanh toán
của ngân hàng.
1.2.2 Phân loại rủi ro tín dụng
Nếu căn cứ vào nguyên nhân phát sinh, RRTD phân chia thành các loại sau:
- Rủi ro giao dịch (Transaction rish): là một hình thức của RRTD mà nguyên
nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh
giá khách hàng. Rủi ro giao dịch có ba bộ phận chính là rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm
và rủi ro nghiệp vụ.
+ Rủi ro lựa chọn là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín
dụng, khi ngân hàng lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định
cho vay.
3
+ Rủi ro bảo đảm phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như các điều khoản

1.2.3.2 Ảnh hưởng đến nền kinh tế xã hội
4
Bắt nguồn từ bản chất và chức năng của ngân hàng là một tổ chức trung gian tài
chính chuyên huy động vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế để cho các tổ chức, các doanh
nghiệp và cá nhân có nhu cầu vay lại. Do đó, thực chất quyền sở hữu những khoản cho
vay là quyền sở hữu của người đã gửi tiền vào ngân hàng. Bởi vậy, khi RRTD xảy ra thì
không những ngân hàng chịu thiệt hại mà quyền lợi của người gửi tiền cũng bị ảnh
hưởng.
Khi một ngân hàng gặp phải rủi ro tín dụng hay bị phá sản thì người gửi tiền ở
các ngân hàng khác hoang mang lo sợ và kéo nhau ồ ạt đến rút tiền ở các ngân hàng
khác, làm cho toàn bộ hệ thống ngân hàng gặp phải khó khăn.
Ngân hàng phá sản sẽ ảnh hưởng đến tình hình sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp, không có tiền trả lương dẫn đến đời sống công nhân gặp khó khăn. Hơn nữa, sự
hoảng loạn của các ngân hàng ảnh hưởng rất lớn đến toàn bộ nền kinh tế. Nó làm cho
nền kinh tế bị suy thoái, giá cả tăng, sức mua giảm, thất nghiệp tăng, xã hội mất ổn
định.
Ngoài ra, RRTD cũng ảnh hưởng đến nền kinh tế thế giới vì ngày nay, nền kinh
tế mỗi quốc gia đều phụ thuộc vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Kinh nghiệm cho ta
thấy cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á (1997) và mới đây là cuộc khủng hoảng tài
chính Mỹ (2007) đã làm rung chuyển toàn cầu. Mặt khác, mối liên hệ về tiền tệ, đầu tư
giữa các nước phát triển rất nhanh nên RRTD tại một nước lớn sẽ ảnh đến nền kinh tế
các nước có liên quan.
Tóm lại, RRTD của một ngân hàng xảy ra ở mức độ khác nhau: nhẹ nhất là ngân
hàng bị giảm lợi nhuận khi không thu hồi được lãi cho vay, nặng nhất khi ngân hàng
không thu được vốn và lãi, nợ thất thu với tỷ lệ cao dẫn đến ngân hàng bị lỗ và mất vốn.
Nếu tình trạng này kéo dài không khắc phục được, ngân hàng sẽ bị phá sản, gây hậu quả
nghiêm trọng cho nến kinh tế nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng. Chính vì vậy
đòi hỏi các nhà quản trị ngân hàng phải hết sức thận trọng và có những biện pháp thích
hợp nhằm giảm thiểu rủi ro trong cho vay.
1.2.4 Một số phương pháp lượng hóa và đánh giá rủi ro tín dụng.

(5) Các điều kiện (Conditions)
(6) Kiểm soát (Control)
6
* Mô hình điểm số tín dụng tiêu dùng:
Các yếu tố quan trọng liên quan đến khách hàng sử dụng mô hình cho điểm tín
dụng bao gồm: Hệ số tín dụng, tuổi đời, trạng thái tài sản, số người phụ thuộc, sở hữu
nhà, điện thoại cố định, số tài khoản cá nhân, thời gian công tác. Bảng dưới đây là
những hạn mục và điểm thường được sử dụng ở các ngân hàng của Hoa Kỳ.
Mô hình điểm số tín dụng tiêu dùng:
STT Các hạng mục xác định chất lượng tín dụng Điểm
1
Nghề nghiệp của người vay
- Chuyên gia hay phụ trách kinh doanh 10
- Công nhân có kinh nghiệm 8
- Nhân viên văn phòng 7
- Sinh viên 5
- Công nhân không có kinh nghiệm 4
- Công nhân bán thất nghiệp 2
2
Trạng thái nhà ở
- Nhà riêng 6
- Nhà thuê hay căn hộ 4
- Sống cùng bạn hay người thân 2
3
Xếp hạng tín dụng
- Tốt 10
- Trung bình 5
- Không có hồ sơ 2
- Tồi 0
4 Kinh nghiệm nghề nghiệp

34 – 36 điểm Cho vay đến 2.500 USD
37 – 38 điểm Cho vay đến 3.500 USD
39 – 40 điểm Cho vay đến 5.000 USD
41 – 43 điểm Cho vay đến 5.000 USD
1.2.4.2 Đánh giá rủi ro tín dụng.
Các chỉ số thường được sử dụng để đánh giá RRTD là:
* Tỷ lệ nợ q hạn
vay cho nợ dư Tổng
hạnquá nợ Dư
hạnquá nợ lệ Tỷ =
Quy định hiện nay của NHNN cho phép dư nợ q hạn của các NHTM
khơng được vượt q 5%. Nợ q hạn (non performing loan – NPL) là khoản nợ mà
một phần hoặc tồn bộ nợ gốc và / hoặc lãi đã q hạn.
Một cách tiếp cận khác, nợ q hạn là những khoản tín dụng khơng hồn trả
đúng hạn, khơng được phép và khơng đủ điều kiện để được gia hạn nợ. Để đảm bảo
quản lý chặt chẽ, các khoản nợ q hạn trong hệ thống NHTM Việt Nam được phân loại
theo thời gian và được phân chia theo thời hạn thành các nhóm sau:
+ Nợ q hạn dưới 90 ngày – Nợ cần chú ý
+ Nợ q hạn từ 90 đến 180 ngày – Nợ dưới tiêu chuẩn.
+ Nợ q hạn từ 181 đến 360 ngày – Nợ nghi ngờ.
+ Nợ q hạn trên 361 ngày – Nợ có khả năng mất vốn.
Tỷ trọng nợ xấu trên tổng dư nợ cho vay
Nợ xấu (hay nợ có vấn đề, nợ khơng lành mạnh, nợ khó đòi, nợ khơng thể đòi,
…) là khoản nợ mang các đặc trưng sau:
+ Khách hàng đã khơng thực hiện nghĩa vụ trả nợ với ngân hàng khi các cam kết
này đã hết hạn.
+ Tình hình tài chính của khách hàng đang và có chiều hướng xấu dẫn đến có
khả năng ngân hàng khơng thu hồi được cả vốn lẫn lãi.
8
+ Tài sản đảm bảo (thế chấp, cầm cố, bảo lãnh) được đánh giá là giá trị phát

cũng là những khoản tín dụng chiếm tỷ trọng thấp trong tổng dư nợ cho vay của ngân
hàng.
9
+ Nhóm dư nợ của các khoản tín dụng có chất lượng trung bình: là những
khoản cho vay có mức độ rủi ro có thể chấp nhận được và thu nhập mạng lại cho ngân
hàng là vừa phải. Đây là khoản tín dụng chiếm tỷ trọng áp đảo trong tổng dư nợ cho vay
của ngân hàng.
* Chỉ tiêu dư nợ trên vốn huy động
Có nghĩa là có bao nhiêu đồng vốn huy động tham gia vào dư nợ, nó còn gián
tiếp phản ánh khả năng huy động vốn tại địa phương của ngân hàng. Chỉ tiêu này lớn
chứng tỏ vốn huy động tham gia vào dư nợ ít, khả năng huy động vốn của ngân hàng
chưa được tốt.
100% x
động huyVốn
nợ Dư
động huyvốn trên nợ Dư =
* Chỉ tiêu hệ số thu nợ
Hệ số thu nợ cao cho thấy cơng tác thu nợ đang tiến triển tốt, RRTD thấp. Chỉ
tiêu này còn biểu hiện khả năng thu hồi nợ của ngân hàng từ việc cho khách hàng vay.
%100x
vay cho số Doanh
nợ thu số Doanh
nợ thu số Hệ =
* Chỉ tiêu vòng quay vốn tín dụng
Vòng quay vốn tín dụng dùng để đo lường tốc độ ln chuyển vốn của tín dụng
ngân hàng, nó cho thấy thời gian thu hồi nợ nhanh hay chậm. Nếu vòng quay vốn tín
dụng nhanh, tức việc đưa vốn vào sản xuất, kinh doanh của ngân hàng đạt hiệu quả cao.
quân bìnhnợ Dư
nợ thu số Doanh
dụng tín vốn quay Vòng =

Phân tán rủi ro trong cho vay: không dồn vốn cho vay quá nhiều đối với một
khách hàng hoặc không tập trung cho vay quá nhiều vào một ngành, lĩnh vực kinh tế có
rủi ro cao.
Thực hiện tốt việc thẩm định khách hàng và khả năng trả nợ trước khi quyết định
tín dụng.
Mua bảo hiểm cho các khoản tiền gửi, tiền vay.
Phải có chính sách tín dụng hợp lý và duy trì các khoản dự phòng để đối phó với
rủi ro.
Trước khi cho khách hàng vay, NH phải xem xét các điều kiện cơ bản như là:
Khả năng trả nợ của khách hàng so với mức cho vay; trị giá tài sản đảm bảo so với mức
11
cho vay; giới hạn tổng dư nợ cho vay một khách hàng, một nhóm khách hàng có liên
quan;….
1.2.5 Kinh nghiệm quản lý rủi ro tín dụng của các nước
* Quản lý RRTD bằng biện pháp trích lập dự phòng.
Trích lập dự phòng là cách thức hữu hiệu để quản trị rủi ro do tổn thất tín dụng.
Việc trích lập dự phòng phải căn cứ vào thực tế trả nợ vay thay vì căn cứ vào khả năng
trả nợ trong quá khứ của khách hàng. Các nước chia sẻ kinh nghiệm rằng họ áp dụng
các nguyên tắc dự phòng khác nhau dựa theo việc phân loại nợ vay có khả năng gây tổn
thất ở mức độ khác nhau.
- Hồng Kông: xếp loại rủi ro cho khách hàng và trích lập dự phòng tương ứng.
- Hàn Quốc: các nguyên tắc dự phòng phân lập theo loại tín dụng.
- Singapore: dự phòng tổn thất khoản vay ước tính từ danh mục vay được áp
dụng cho các khoản vay tiêu dùng.
- Thái Lan: phân loại khoản vay được đưa vào luật. Các cơ quan giám sát ngân
hàng có quyền yêu cầu trích lập dự phòng cho các khoản vay cần chú ý.
- Columbia: dự phòng cho tín dụng tiêu dùng, thương mại, cầm cố thế chấp và tín
dụng nhỏ theo thời hạn khoản vay từ 1-18 tháng.
* Quản lý RRTD bằng biện pháp tuân thủ những nguyên tắc tín dụng thận trọng.
- Hồng Kông: giới hạn cho vay các đối tác ở mức 5% giá trị ròng doanh nghiệp.

- Hàn Quốc: sử dụng mô hình CAMELS (vốn, tài sản, quản lý, thu nhập, thanh
khoản và thử nghiệm chịu đựng cực điểm). (Capital, Assets, Management, Earnings,
Liquidity and Stress testing)
- Singapore: kiểm tra trong quá trình phát vay, báo cáo hàng tháng và hàng quý.
- Thái Lan: kiểm tra trong quá trình phát vay và sau khi cho vay. Giám sát hệ số
đủ vốn dự báo. Có hệ thống báo cáo định kỳ.
- Columbia: kiểm tra trong quá trình phát vay, kiểm tra bởi Ủy ban giám sát NH.
Kết luận chương 1:
Đề tài đã hệ thống hóa cơ sở lý luận những vấn đề cơ bản về tín dụng và rủi ro
tín dụng trong hoạt động kinh doanh của các NHTM. Đề tài đã nghiên cứu bản chất, các
hình thức tín dụng, nguyên nhân rủi ro tín dụng, chỉ ra ảnh hưởng của tín dụng đối với
ngân hàng và nền kinh tế, nêu ra một số phương pháp phân tích RRTD. Đồng thời đề tài
13
cũng nêu ra một số bài học kinh nghiệm quản lý RRTD của một số nước. Những
nội dung này là cơ sở lý luận quan trọng để tác giả nghiên cứu chương 2.
14
Chương 2
THỰC TRẠNG RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH PHƯỚC
2.1 Vài nét về tỉnh Bình Phước
Bình Phước là tỉnh ở Miền Đông Nam Bộ, nằm trong Vùng Kinh tế trọng điểm
phía Nam có 240Km đường biên giới với Vương quốc Campuchia, là cửa ngõ và là cầu
nối của vùng với Tây nguyên và nước bạn Campuchia. Phía Bắc giáp tỉnh Đắk Nông
(Tây nguyên), phía Nam giáp tỉnh Bình Dương, phía Đông giáp tỉnh Lâm Đồng (Tây
nguyên) và Đồng Nai, phía Tây giáp tỉnh Tây Ninh và Vương quốc Campuchia. Bình
Phước có hơn 840 ngàn dân, có 07 huyện và 01 thị xã; trung tâm tỉnh lỵ nằm ở thị xã
Đồng Xoài cách thành phố Hồ Chí Minh 110Km
Là một tỉnh nằm trong vùng Trung du miền núi, vùng chuyển tiếp của đồng bằng
lên cao nguyên, có nhiều sông suối, gềnh thác, hồ đập, cho nên ở đây có quần thể thực
vật khá phong phú và có nhiều phong cảnh thiên nhiên tươi đẹp, tạo điều kiện phát triển

dung chủ yếu theo hướng dẫn tại Công văn 3831/UBND-KT ngày 12/12/2008.
Mục tiêu: tiếp tục thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định các cân đối lớn
về kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội và tăng trưởng bền vững.
Các chỉ tiêu kinh tế chủ yếu: trên cơ sở mục tiêu, nhiệm vụ nêu trên, các chỉ tiêu
chủ yếu năm 2009 được xác định như sau:
- Tốc độ tăng trưởng GDP đạt 14,0 %
- Giá trị sản xuất nông lâm – thủy sản tăng 7 -8%
- Giá trị sản xuất công nghiệp – xây dựng tăng 23 – 27%
- Giá trị sản xuất ngành dịch vụ tăng 19 – 22%
2.2 Hoạt động của hệ thống ngân hàng trên địa bàn tỉnh BP
Trên địa bàn tỉnh Bình phước có các loại hình NHTM sau đây :
- Loại hình NHTM nhà nước: Chi nhánh NHTM nhà nước cấp một có ba đơn vị,
gồm: Ngân Hàng Nông Nghiệp & Phát Triển Nông Thôn, NHTMCP Công Thương,
Ngân Hàng Đầu Tư Và Phát Triển. Các ngân hàng này có hoạt động lâu đời nhất tại địa
phương nên có ưu thế rất lớn về quy mô, uy tín, tầm ảnh hưởng cũng như chiếm thị
phần lớn, nhất là NH nông nghiệp & phát triển nông thôn.
- Loại hình NHTM cổ phần: Chi nhánh NHTM cổ phần cấp một có năm đơn vị,
gồm: NHTMCP Sài Gòn Thương Tín, NHTMCP Đông Á, NHTMCP Nam Á,
NHTMCP An Bình, NHTMCP Á Châu. Các NH này có mặt trên địa bàn Bình Phước từ
16
năm 2007 nên thị phần còn nhỏ hơn rất nhiều so với các NHTM nhà nước nhưng
với sự nhạy bén trong cạnh tranh nên thị phần, uy tín của các NH này ngày càng lớn
mạnh.
Với sự cạnh tranh mạnh mẽ giữa các NHTM nên số lượng các chi nhánh và
phòng giao dịch của các NHTM hoạt động trên địa bàn phân bổ rộng khắp các khu vực
thành thị, khu vực đông dân cư trong tỉnh là một điều kiện thuận lợi cho các DN, cá
nhân thuận lợi tiếp cận các dịch vụ của ngân hàng.
2.2.1 Tình hình huy động vốn
Nghiệp vụ huy động vốn tuy không mang lại lợi nhuận trực tiếp cho ngân hàng
nhưng nó là nghiệp vụ rất quan trọng. Nó góp phần mang lại nguồn vốn cho ngân hàng

+ Ngoại tệ, vàng 31 0,8% 43 1% 43 1%
- Tiền gửi của các tổ chức kinh tế 2.186 57% 1.638 37.5% 1.421 33,3%
+ Nội tệ 1.097 28,6% 1.352 31% 1.183 28%
+ Ngoại tệ, vàng 1.089 28,4% 286 6,5% 238 5,3%
- Tiền gửi khác 213 5,6% 525 12% 570 13,4%
+ Nội tệ 170 4,4% 481 11% 537 12,6%
+ Ngoại tệ, vàng 43 1,2% 44 1% 33 0,8%
Tốc độ tăng trưởng HĐV 13,9%
(Nguồn: NHNNVN chi nhánh Bình Phước)
Qua bảng 2.1 ta thấy nguồn vốn huy động của các NHTM năm 2008 đạt 4.368 tỷ
đồng, tăng 533 tỷ đồng so với năm 2007, đạt tốc độ tăng trưởng 13,9%. Cụ thể:
- Nếu xét nguồn vốn huy động theo kỳ hạn nợ:
Biểu đồ 2.1: Cơ cấu huy động theo kỳ hạn nợ
Huy động vốn theo thời hạn nợ
3.459
802
- -
3.640
3.257
712
578
16
-
500
1.000
1.500
2.000
2.500
3.000
3.500

-
500
1.000
1.500
2.000
2.500
2007 2008 Mar-09
Năm
Tỷ đồng
- Tiền gửi tiết kiệm
- Tiền gửi của các tổ chức kinh
tế
- Tiền gửi khác
+ Năm 2007: nguồn vốn huy động do tiền gửi của các tổ chức kinh tế là chủ yếu
(chiếm 57%) và kế đến là do tiền gửi tiết kiệm (chiếm 37,4%), chứ tiền gửi khác chiếm
một phần nhỏ (chiếm 5,6%)
+ Năm 2008 và quý 1 năm 2009 có cơ cấu về nguồn vốn huy động gần giống
nhau nhưng gần như đảo chiều so với cơ cấu nguồn vốn huy động năm 2007: nguồn vốn
huy động do tiền gửi tiết kiệm là chủ yếu (chiếm trên 50%) và kế đến là tiền gửi của các
tổ chức kinh tế (chiếm trên 33%), chứ tiền gửi khác chiếm một phần nhỏ (chiếm trên
12%) Nguyên nhân trong năm 2008 Việt Nam bị lạm phát cao nên NHNN thực hiện
chính sách thắt chặt tiền tệ (tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, bắt buộc các NHTM mua tín
phiếu bắt buộc, tăng lãi suất cơ bản …) nên hầu hết các NHTM gặp rủi ro thanh khoản,
dẫn đến cuộc chạy đưa lãi suất huy động không theo quy luật là lãi suất huy động ngắn
hạn lớn hơn lãi suất huy động trung, dài hạn. Do đó nguồn vốn nhàn rỗi chảy vào
NHTM tăng dưới hình thức gủi tiết kiệm ở kỳ hạn ngắn hạn tăng lên trong năm 2008 và
ba tháng đầu năm 2009.
19
- Nếu xét theo hình thức huy động vốn mà có xét đến loại đồng tiền huy
động:

vốn mà các tổ chức kinh tế này có thể gửi bằng nội tệ hay ngoại tệ vì trong năm 2007
tình hình ngoại tệ khan hiếm nên các tổ chức kinh tế gửi tiền bằng ngoại tệ để đáp ứng
nhu cầu kinh doanh của mình.
+ Năm 2008 và quý 1 năm 2009 có cơ cấu về nguồn vốn huy động chia theo loại
tiền tệ cũng gần giống nhau nhưng gần như đảo chiều so với cơ cấu nguồn vốn huy
động năm 2007: nguồn vốn huy động do do tiền gửi tiết kiệm là chủ yếu (chiếm trên
50%), trong đó chủ yếu là tiền gửi tiết kiệm bằng đồng nội tệ (chiếm trên 49,5%) còn
tiền gửi tiết kiệm bằng ngoại tệ, vàng chỉ chiếm một phần nhỏ là 1,0 %. Tiền gửi của
các tổ chức kinh tế chiếm trên 33%, trong đó là tiền gửi của các tổ chức kinh tế bằng
đồng nội tệ cũng là chủ yếu (chiếm 28 %) còn tiền gửi bằng ngoại tệ, vàng chiếm một
20
số nhỏ trên 5,3%. Tiền gửi khác chiếm một phần nhỏ (chiếm trên 12%) trong đó
chủ yếu là tiền gửi khác bằng đồng nội tệ là chủ yếu chiếm trên 11% còn tiền gửi khác
bằng ngoại tệ, vàng chỉ chiếm một phần nhỏ là khoảng 1,0%. Vậy tổng nguồn vốn huy
động theo đồng nội tệ chiếm trên 88,5% và theo ngoại tệ, vàng chiếm 11,5%. Nguyên
nhân là do lãi suất huy động tiền đồng tăng mạnh, còn lãi suất huy động USD trên thị
trường có xu hướng không tăng đáng kể vì để thực hiện chủ trương của NHNN về bình
ổn thị trường ngoại tệ, hạn chế bớt tình trạng găm giữ ngoại tệ, giải quyết bài toán dư
thừa vốn ngoại tệ và tạo điều kiện cho doanh nghiệp nhập khẩu tiếp cận được nguồn
vốn ngoại tệ nên các NHTM thực hiện giảm lãi suất huy động USD nên gửi tiết kiệm
bằng nội tệ hấp dẫn nhà đầu tư hơn, dẫn đến nguồn vốn huy động bằng tiền đồng tăng
mạnh so với năm 2007.
2.2.1.2 Đánh giá chung về huy động vốn của các NHTM trên địa bàn Bình Phước
Hoạt động huy động vốn của các NHTM trên địa bàn tỉnh Bình Phước trong
những năm qua đạt được những kết quả sau:
- Nguồn vốn huy động năm sau cao hơn năm trước đã tạo điều kiện cho các
NHTM chủ động mở rộng khả năng cho vay và tìm kiếm lợi nhuận.
- Các sản phẩm dịch vụ huy động vốn ngày càng phong phú, đa dạng với nhiều
loại hình, kỳ hạn khác nhau tạo nên sự tiện lợi và thu hút khách hàng gửi tiền. Hầu hết
các NHTM trên địa bàn tỉnh Bình Phước đã và đang sử dụng nhiều nghiệp vụ và biện

máy móc thiết bị, công nghệ hiện đại ….
- Tỷ trọng huy động ngoại tệ còn thấp so với tổng nguồn vốn huy động. Điều này
đã gây khó khăn cho NHTM trong việc đẩy mạnh cho vay ngoại tệ để tài trợ nhập khẩu.
2.2.2 Tình hình sử dụng vốn
Bình Phước là một tỉnh tuy còn nghèo nhưng có nhiều tiềm năng kinh tế của khu
vực Đông Nam Bộ nói riêng và là vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, nhưng để khai
thác có hiệu quả các tiềm năng đó cần có những động lực thúc đẩy cần thiết, trong đó
nguồn vốn tín dụng của các NHTM để đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển kinh tế là rất
quan trọng. Trong những năm qua hoạt động tín dụng của các NHTM ngày càng mở
rộng.
2.2.2.1 Tình hình doanh số cấp tín dụng
Hoạt động cho vay là hoạt động chủ yếu của các NHTM, nó quyết định đến phần
lớn đến hiệu quả kinh doanh, quá trình tuần hoàn và chu chuyển vốn trong hoạt động
kinh doanh tiền tệ của ngân hàng. Tình hình doanh số cấp tín dụng của các NHTM trên
địa bàn Bình Phước trong giai đoạn từ 2007 đến quý 1 năm 2009 như sau:
Bảng 2.2: Tình hình doanh số cấp tín dụng của các NHTM trên địa bàn
Đơn vị tính: tỷ đồng
22
Năm
Tổng doanh số cấp tín dụng (lũy kế từ đầu năm)
Ngắn hạn Trung, dài hạn
Số tiền Tỷ trọng Số tiền Tỷ trọng
Tổng cộng
2007 5.512 70,32% 2.326 29,67% 7.838
2008 6.148 77,1% 1.827 22,9% 7.975
Tháng 3/2009 2.314 78,2% 646 21,8% 2.960
(Nguồn: NHNNVN chi nhánh tỉnh Bình Phước)
Biểu 2.4: Doanh số cấp tín dụng của các NHTM trên địa bàn
Doanh số cấp tín dụng
5512

mới thành lập được 12 năm, kinh tế chưa phát triển, đời sống người dân đang còn
nghèo; loại hình doanh nghiệp vừa và nhỏ là chủ yếu (chiếm 95%), vốn tự có của các
doanh nghiệp này rất thấp, chủ yếu dựa vào vốn vay và các doanh nghiệp chủ yếu kinh
doanh ở lĩnh vực nông sản (cao su, cà phê, điều…) nhưng giá nông sản trong năm 2008
đã giảm mạnh do kinh tế thế giới khủng hoảng đã làm cả doanh nghiệp và nông dân lâm
vào tình trạng thiếu vốn ngắn hạn để trả lương nhân công, mua nguyên vật liệu…. Do
đó, các NHTM trên địa bàn Bình Phước đẩy mạnh cho vay ngắn hạn để tài trợ vốn cho
23
các DNV&N và các hộ gia đình phát triển kinh tế trang trại. Ngoài ra, các dự án lớn,
các khu công nghiệp thuộc các Chơn Thành, Bình Long, Đồng Phú đang trong giai
đoạn triển khai, chưa thu hút được nhiều nhà đầu tư trong khi NHNN thực hiện chính
sách thắt chặt tiền tệ nên các NHTM tập trung thu hồi nợ trung, dài hạn và cũng thắt
chặt việc cho vay trung, dài hạn. Bởi lẽ, những món vay có thời hạn càng dài thì càng ẩn
chứa nhiều rủi ro cho nên ngân hàng có xu hướng tăng tỷ trọng cho vay ngắn hạn để
mau thu hồi vốn cho vay, quay vòng vốn nhanh đặc biệt trong điều kiện thắt chặt tiền tệ
và lãi suất có nhiều biến động như thời gian qua.
2.2.2.2 Tình hình doanh số thu nợ
Doanh số thu nợ là việc thu nợ được tiến hành theo kỳ hạn nợ đã ghi trong hợp
đồng tín dụng. Khách hàng có thể trả nợ trước hạn và phải trả nợ ngân hàng khi đến
hạn.
Bảng 2.3: Tình hình doanh số thu nợ của các NHTM trên địa bàn
Đơn vị tính: tỷ đồng
Năm
Tổng doanh số thu nợ
Ngắn hạn Trung, dài hạn
Số tiền Tỷ trọng Số tiền Tỷ trọng
Tổng cộng
2007 2.884 78,65% 783 21,35% 3.667
2008 5.878 79,90% 1.480 20,10% 7.358
Tháng 3/2009 1.429 75,45% 465 25,55% 1.894

các nhà xuất, nhập khẩu và những DN có nhu cầu vốn lưu động bổ sung cho việc sản
xuất, kinh doanh dịp cuối năm.
Đến tháng 3 năm 2009, doanh số thu nợ là 1.894 tỷ đồng, trong khi doanh số cho
vay là 2.960 tỷ đồng. Nguyên nhân là đầu năm 2009, NHNN chủ trương tháo gỡ khó
khăn về vốn cho nền kinh tế với các giải pháp hạ lãi suất cơ bản, cho vay cấp bù lãi suất
nên doanh số cho vay tăng lên hơn so với doanh số thu nợ.
2.3 Kết quả kinh doanh
Trong điều kiện ngày càng cạnh tranh mạnh mẽ thì việc cố gắng hoạt động sao
cho thu nhập từ lãi vay và thu nhập từ dịch vụ NHTM tăng lên với chi phí hoạt động
thấp để tạo ra lợi nhuận lớn đáp ứng nhu cầu phát triển và bền vững là một yếu tố quyết
định sức mạnh của chính NH đó. Do đó, các NHTM không ngừng phát triển trên lĩnh
vực huy động vốn, cho vay và cải tiến các dịch vụ NH qua các năm, cụ thể như sau:
Bảng 2.4: Bảng kết quả kinh doanh của các NHTM trên địa bàn
Đơn vị tính: tỷ đồng
Chỉ tiêu
2007 2008 3/2009
Số tiền Tỷ
trọng
Số tiền Tỷ
trọng
Số tiền Tỷ
trọng
1. Tổng thu nhập, trong đó: 783,5 100% 535,3 100% 229 100%
- Thu lãi cho vay 778,2 99,3% 530,7 99,1% 225,8 98,6%
- Thu dịch vụ 5,3 0,7% 4,6 0,9% 3,2 1,4%
2. Tổng chi phí 693 479,6 203,4
3. Lợi nhuận trước thuế
(LNTT)
90,5 55,7 25,6
(Nguồn: NHNNVN chi nhánh tỉnh Bình Phước)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status