Luận văn
BAO THANH TOÁN TẠI
CÁC NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN
TRÊN ĐỊA BÀN TP.HCM
THỰC TRẠNG
VÀ GIẢI PHÁP
i
MỤC LỤC
oOo
Trang
LỜI MỞ ĐẦU
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGHIỆP VỤ BAO THANH TOÁN.
1. Những vấn đề cơ bản về nghiệp vụ bao thanh toán 1
1.1 Cơ sở ra đời của bao thanh toán. 1
1.2 Khái niệm, bản chất bao thanh toán 1
1.2.1 Quan điểm của FCI 1
1.2.2 Theo công ước UNIDROIT 1
1.2.3 Theo quyết định số 1096/2004/QĐ-NHNN 2
1.2.4 Theo quan điểm của người nghiên cứu 2
2. Phân loại bao thanh toán. 2
2.1 Phân loại theo ý nghĩa bảo hiểm rủi ro thanh toán 2
2.1.1 Bao thanh toán truy đòi 2
2.1.2 Bao thanh toán không truy đòi 2
2.2 Phân loại theo tính chất có thông báo hay không thông báo 2
2.2.1 Bao thanh toán có thông báo 2
2.2.2 Bao thanh toán không thông báo 3
2.3 Phân loại theo phạm vi thực hiện 3
2.1 Môi trường pháp lý; đối tượng, điều kiện thực hiện 18
2.1.1 Các văn bản pháp luật hiện hành 18
2.1.2 Đối tượng thực hiện, sử dụng BTT 22
2.2 Các khó khăn khi triển khai thực hiện BTT tại VN 23
2.2.1 Về sản phẩm 23
2.2.2 Về thông tin và thẩm định thông tin 24
2.2.3 Quy mô ngân hàng 25
2.2.4 Tâm lý của các doanh nghiệp 25
2.2.5 Trình độ nhân viên 25
2.3 Tình hình BTT tại Việt Nam 25
2.4 Tình hình BTT cụ thể tại các NHTM 28
iii
2.4.1 NHTMCP Á Châu 28
2.4.1.1 Điều kiện thực hiện BTT tại ngân hàng Á Châu 28
2.4.1.2 Phương thức BTT Á Châu cung cấp 29
2.4.1.3 Các khoản phải thu không được thực hiện BTT 29
2.4.1.4 Đối tượng khách hàng được ACB thực hiện BTT 29
2.4.1.5 Mặt hàng áp dụng BTT 30
2.4.1.6 Lãi và phí nghiệp vụ BTT. 30
2.4.1.7 Hạn mức BTT của bên bán hàng 30
2.4.1.8 Giá mua bán khoản phải thu. 30
2.4.1.9 Quy trình thực hiện BTT tại ACB 31
2.4.1.10 Doanh thu BTT tại ACB qua các năm 32
2.4.2 NH Kỹ thương Việt Nam (TCB) 33
2.4.2.1 Điều kiện thực hiện BTT trong nước 33
2.4.2.2 Các ngành mà TCB thực hiện BTT trong nước 34
2.4.2.3 Mức phí áp dụng tại TCB 34
2.4.2.4 Tình hình thực hiện BTT tại TCB 34
2.4.3 NH Xuất nhập khẩu Việt Nam 35
2.4.3.1 Điều kiện thực hiện BTT 35
khách hàng 40
2.1.1.3 Thành lập bộ phận tư vấn khách hàng BTT 41
2.1.1.4 Chính sách giá cả hợp lý 41
2.1.2 Xác định ngành nghề, khách hàng mục tiêu hướng tới phục vụ đạt hiệu
quả cao nhất. 42
2.1.3 Xây dựng hệ thống công nghệ thông tin hiện đại 42
2.1.4 Quản lý rủi ro tốt nhất. 42
2.1.4.1 Xây dựng quy trình lựa chọn và kiểm soát bên bán. 42
2.1.4.2 Xây dựng quy trình lựa chọn và kiểm soát bên mua 45
2.1.5 Đào tạo và phát triển nhân viên thực hiện nghiệp vụ BTT 47
2.1.6 Mở rộng quan hệ đại lý 48
3. Các kiến nghị 50
v
DANH SÁCH CÁC BẢNG BIỂU
oOo
Trang
Bảng 2.1: Doanh số BTT thế giới phân chia theo châu lục 15
Bảng 2.2: BTT thế giới qua các năm. 16
Bảng 2.3: Doanh số các nước dẫn đầu BTT 17
Bảng 2.4: Danh sách chi nhánh ngân hàng nước ngoài tham gia
thực hiện BTT phụ lục
Bảng 2.5: Danh sách ngân hàng thương mại trong nước tham gia
thực hiện BTT phụ lục
Bảng 2.6 : Doanh số BTT của Việt Nam (theo thống kê của FCI) 27
Bảng 2.7: Kết quả thực hiện BTT qua các năm của ACB 32
Bảng 2.8: Dư nợ BTT tại ACB năm 2005. 32
Bảng 2.9: Tình hình BTT tại ACB năm 2006. 32
Bảng 2.10: Thống khê các ngành nghề Techcombank thực hiện BTT 34
Bảng2.11: Tình hình BTT tại Techcombank 34
vii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
oOo
ACB : Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu
BTT : Bao thanh toán
Eximbank : Ngân hàng xuất nhập khẩu Việt Nam
FCI : Hiệp hội bao thanh toán quốc tế (Factors Chain Internatinal )
L/C : Letter Of Credit
NHTM : Ngân hàng thương mại
NHNN : Ngân hàng nhà nước
Techcombank : Ngân hàng kỹ thương Việt Nam
TCTD : Tổ chức tín dụng ix
Mục đích nghiên cứu:
Phân tích – đánh giá hiệu quả hoạt động bao thanh toán tại một số ngân hàng thương
mại trên địa bàn thành phố HCM. Từ cái nhìn tổng thể, thực tế qua các năm thực hiện nghiệp
vụ, ta đánh giá được những thành tích, hiệu quả đã đạt được cũng như những bất cập và các
hạn chế. Cuối cùng đưa ra giải pháp để phát triển nghiệp vụ bao thanh toán ở các ngân hàng
thương mại trên địa bàn thành phố HCM nói riêng và của nước ta nói chung.
Những điểm nổi bật của đề tài:
Phân tích những yếu kém của quy chế thực hiện , thực trạng của các ngân hàng tiêu
biểu, từ đó đưa ra các kiến nghị, giải pháp mới.
Phương pháp nghiên cứu:
Để đạt được các mục đích nghiên cứu nêu trên phải có phương pháp khoa học. Bao
gồm các phương pháp sau:
- Nghiên cứu tổng hợp cơ sở lý luận về BTT để hiểu được bản chất, vai trò của nó.
- Nghiên cứu thực trạng hoạt động BTT thông qua các số liệu thu thập được. Phân tích, so
sánh giữa các ngân hàng với nhau.
- Từ việc đánh giá đó, đưa ra giải pháp, kiến nghị cụ thể.
Kết quả kỳ vọng:
Hoàn thành đề tài tốt trong thời gian nghiên cứu, đưa ra các giải pháp tốt, thiết thực
đối với nghiệp vụ bao thanh toán tài NHTM tại Tp.Hcm.
Bố cục đề tài:
xi
9. Những vấn đề cơ bản về nghiệp vụ bao thanh toán
9.1 Cơ sở ra đời của bao thanh toán.
Nghiệp vụ bao thanh toán có lịch sử phát triển lâu dài, xuất phát từ hoạt động đại lý
hưởng hoa hồng khoảng 2000 năm trước dưới thời đế chế La Mã, phát triển ở Anh vào thế
kỷ 15 dưới hình thức ứng trả trước một phần cho người ủy nhiệm (nhà cung ứng sản phẩm),
và phát triển mạnh từ thế kỷ 19 thông qua các nhà đại lý thanh toán ngành dệt may của Mỹ,
ngành công nghiệp điện, hóa chất, sợi tổng hợp…Do đó, có thể khẳng định rằng cơ sở ra đời
của BTT chính là các khoản phải thu phát sinh trong quan hệ thương mại giữa các bên. Chỉ
khi đã phát sinh hoặc sẽ phát sinh các khoản phải thu giữa bên mua và bên bán thì BTT mới
có thể ra đời.
9.2 Khái niệm, bản chất bao thanh toán
9.2.1 Quan điểm của FCI
Theo Hiệp hội Bao thanh toán quốc tế ( FCI ), bao thanh toán là một dịch vụ tài chính
trọn gói, kết hợp việc tài trợ vốn lưu động, phòng ngừa rủi ro tín dụng, theo dõi công nợ và
thu hồi nợ. Đó là sự thỏa thuận giữa đơn vị bao thanh toán và người bán, trong đó đơn vị bao
thanh toán sẽ mua lại khoản phải thu của người bán, thường là không truy đòi, đồng thời có
trách nhiệm đảm bảo khả năng chi trả của người mua. Nếu người mua phá sản hay mất khả
năng chi trả vì những lý do tín dụng thì đơn vị bao thanh toán sẽ thay người mua trả tiền cho
người bán. Khi người mua và người bán ở hai nước khác nhau thì dịch vụ này được gọi là
bao thanh toán quốc tế.
toán khoản phải thu.
Đơn vị bao thanh toán chỉ có quyền đòi lại số tiền đã ứng trước cho bên bán hàng
trong trường hợp bên mua từ chối thanh toán khoản phải thu do bên bán giao hàng không
đúng hợp đồng hoặc vì lý do khác không liên quan đến khả năng thanh toán của bên mua
hàng.
10.2 Phân loại theo tính chất có thông báo hay không thông báo
10.2.1 Bao thanh toán có thông báo
Bao thanh toán có thông báo là hình thức bao thanh toán, trong đó người mua được
thông báo là khoản thanh toán tiền hàng được chuyển nhượng cho đơn vị bao thanh toán.
10.2.2 Bao thanh toán không thông báo
xiii
Bao thanh toán không thông báo là hình thức bao thanh toán, trong đó người mua
không biết việc khoản tiền hàng mình phải thanh toán đã được chuyển cho đơn vị bao thanh
toán. 10.3 Phân loại theo phạm vi thực hiện
10.3.1 Bao thanh toán trong nước
Theo Quyết định số 1096/2004/QĐ-NHNN ban hành ngày 06/09/2004 của Thống đốc
NHNN: Bao thanh toán trong nước là việc bao thanh toán dựa trên hợp đồng mua bán, trong
đó bên bán hàng và bên mua hàng đều là người cư trú theo quy định của pháp luật về quản lý
ngoại hối.
10.3.2 Bao thanh toán quốc tế
Bao thanh toán xuất nhập khẩu (bao thanh toán quốc tế) là việc bao thanh toán dựa
trên hợp đồng xuất nhập khẩu bằng việc cung cấp BTT xuất khẩu và BTT nhập khẩu.
Về cơ bản, trình tự của BTT quốc tế cũng tương tự như BTT trong nước. Điểm khác
biệt là khả năng có sự tham gia của hệ thống hai đại lý (hai đơn vị BTT đứng ra làm đại lý
cho nhau để cung cấp dịch vụ cho người xuất khẩu và người nhập khẩu). Các đại lý thường
có trụ sở tại nước của người xuất khẩu và nước của người nhập khẩu. BTT quốc tế thường
được chia thành BTT nhập khẩu và BTT xuất khẩu.
(8) Đơn vị BTT ứng trước một phần tiền cho người bán theo thỏa thuận trong hợp
đồng BTT.
(9) Khi đến hạn thanh toán, đơn vị BTT tiến hành thu hồi nợ từ người mua.
(10) Người mua thanh toán tiền hàng cho đơn vị BTT.
(11) Sau khi đã thu hồi tiền hàng từ phía người mua, đơn vị BTT thanh toán nốt tiền
chuyển nhượng khoản phải thu cho người bán.
xv
Sơ đồ 1: Hệ thống một đơn vị bao thanh toán
(Điển hình được sử dụng nghiệp vụ bao thanh toán trong nước)
11.2 Hệ thống hai đơn vị BTT
Hệ thống hai đơn vị thanh toán thường sử dụng trong bao thanh toán quốc tế (Xuất
nhập khẩu hàng hoá). Sau đây là quá trình thực hiện của hệ thống này:
(1) Người bán và người mua tiến hành thương lượng trên hợp đồng mua bán hàng
hóa.
(2) Người bán đề nghị đơn vị bao thanh toán xuất khẩu tài trợ với tài sản đảm bảo
chính là khoản phải thu trong tương lai từ hợp đồng mua bán hàng hóa (hoặc các hình thức
bảo đảm khác nếu có).
(3) Đơn vị bao thanh toán xuất khẩu đề nghị đơn vị bao thanh toán nhập khẩu cùng
thực hiện hợp đồng bao thanh toán.
(4) Đơn vị bao thanh toán nhập khẩu thực hiện phân tích các khoản phải thu, tình
hình hoạt động và khả năng tài chính của bên mua hàng.
(5) Đơn vị bao thanh toán nhập khẩu đồng ý tham gia giao dịch bao thanh toán với
đơn vị bao thanh toán xuất khẩu. Đơn vị bao thanh toán xuất khẩu chấp thuận tài trợ cho
người bán.
(6) Đơn vị bao thanh toán xuất khẩu và người bán thỏa thuận và ký kết hợp đồng bao
thanh toán.
xvi
(7) Người bán giao hàng cho người mua theo đúng thỏa thuận trong hợp đồng mua
bán hàng hóa.
người mua thì được quyền phát mãi tài sản cầm cố hoặc tiếp nhận tài sản cấm cố để thu hồi
tiền đã BTT.
Tài sản cầm cố có thể là:
- Phương tiện vận chuyển (chỉ giao bản gốc giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu tài sản
cho ĐVBTT).
- Vật tư hàng hóa ( có thể chuyển giao và quản lý tài sản cầm cố qua kho của đơn vị
trung gian hoặc ngay tại kho của đơn vị được BTT).
- Chứng từ có giá, cổ vật, báu vật (bắt buộc phải chuyển giao).
12.3 Bảo lãnh của bên thứ ba.
Là việc một đơn vị hay cá nhân (gọi là bên bảo lãnh) cam kết với đơn vị BTT sẽ thực
hiện thanh toán tiền thay cho doanh nghiệp (bên được bảo lãnh) nếu đơn vị BTT không thu
hồi được nợ phải thu và được truy đòi bên bảo lãnh. Đơn vị BTT thường áp dụng hình thức
bảo lãnh khi thực hiện BTT miễn truy đòi bên mua.
Phương pháp bảo lãnh:
- Bảo lãnh bằng tài sản: bên bảo lãnh có thể thế chấp, cầm cố tài hoặc dùng tiền ký
quỹ cho ĐVBTT.
- Bảo lãnh bằng năng lực chi trả.
- Bảo lãnh bằng uy tín.
xviii
12.4 Các hình thức bảo đảm khác
13. Các khoản phải thu không được áp dụng BTT.
Những khoản phải thu sau đây không được thực hiện bao thanh toán:
- Phát sinh từ hợp đồng mua, bán hàng hoá bị pháp luật cấm
- Phát sinh từ các giao dịch, thoả thuận bất hợp pháp
- Phát sinh từ các giao dịch, thoả thuận đang có tranh chấp
- Phát sinh từ các hợp đồng bán hàng dưới hình thức ký gửi.
- Phát sinh từ hợp đồng mua, bán hàng có thời hạn thanh toán còn lại dài hơn 180
ngày.
- Các khoản phải thu đã được gán nợ hoặc cầm cố, thế chấp.
- Các khoản phải thu đã quá hạn thanh toán theo hợp đồng mua, bán hàng.
nghiệp…
Thứ hai, điều kiện cấp tín dụng thương mại dễ dàng, hấp dẫn làm mãi lực sản xuất
tăng mạnh.
Là một đối tác tài chính, các tổ chức bao thanh toán sẽ đem lại cho người bán nguồn
lực tài chính để mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, tồn trữ thêm nhiều hàng tồn kho,
cung ứng nhiều đơn hàng hay chỉ đơn giản là tìm kiếm các cơ hội làm ăn mới. Các tổ chức
bao thanh toán luôn khẳng định mình sẽ luôn sát cánh với khách hàng, thấu hiểu mọi nhu
cầu của họ, và thiết lập một chương trình hỗ trợ tài chính để giúp đỡ họ.
Rất nhiều chủ thể kinh tế rơi vào tình trạng càng phát triển kinh doanh lại càng thiếu
tiền. Khi đó, bao thanh toán sẽ là phương tiện rất hiệu quả giúp họ vượt qua khó khăn.
Người mua nào cũng mong muốn mua hàng từ một người bán đưa ra giá thấp nhất mà lại có
nguồn hàng dồi dào nhất. Nhưng chính điều đó lại đẩy người bán vào tình thế khó xử, càng
phát triển lại càng phải bán chịu nhiều hơn. Thật không may là phần lớn người bán không
thể nào xoay sở được với tất cả các khoản bán chịu này. Dù việc buôn bán có phát đạt đến
thế nào thì tới một lúc người bán cũng nhận thấy rằng mình đang rơi vào một tình thế rất
nguy hiểm.
Các tổ chức bao thanh toán sẽ giảm thiểu rủi ro này bằng cách chuyển các hóa đơn
chưa thu được tiền thành tiền mặt, nhờ đó mà người bán có thể tiếp tục cấp tín dụng thương
mại cho người mua mà không cần phải lo rủi ro thanh khoản nữa. Hệ quả trực tiếp của việc
xx
này là người bán nâng cao được năng lực cạnh tranh của mình nhờ sẵn sàng chấp nhận
khoảng thời gian bán chịu hấp dẫn người mua hơn.
Các tổ chức bao thanh toán cam kết tận dụng sự thông thạo trong lĩnh vực tín dụng,
thu hồi nợ, cung ứng nguồn tiền mặt hay tài trợ giúp cho người bán nâng cao được hiệu quả
hoạt động, vừa tăng doanh số vừa giảm được mất mát do không thu hồi được nợ, đồng thời
cải thiện rõ rệt dòng lưu chuyển tiền tệ. Nhờ mọi rắc rối kể trên đã được chuyển sang cho tổ
chức bao thanh toán nên người bán có thể toàn tâm toàn ý tập trung vào việc sản xuất hay
cung ứng hàng hóa.
Nói tóm lại, người bán càng thêm có nhiều cơ hội làm ăn nhờ:
- Sẵn sàng bán chịu cho người mua mà không sợ ảnh hưởng đến dòng lưu chuyển tiền
I.
Tài s
ản l
ưu đ
ộng
1. Vốn bằng tiền
2. Các khoản phải thu
3. Hàng tồn kho
II. Tài sản cố định
12.500.000
3.000.000
4.500.000
5.000.000
14.000.000
I.
N
ợ ngắn h
ạn
1 Các khoản phải trả
2 Vay ngắn hạn
II. Nợ dài hạn
III. Vốn chủ sở hữu
5
.500.000
ản
Giá tr
ị
Ngu
ồn vốn
Giá tr
ị
I. Tài s
ản l
ưu đ
ộng
1. Vốn bằng tiền
2. Các khoản phải thu
3. Hàng tồn kho
II. Tài sản cố định
9
.7
00.000
3.000.000
1.700.000
5.000.000
14.000.000
IV.
bên cạnh đó, các khoản phải trả, vay ngắn hạn cũng giảm đáng kể từ đó giúp doanh nghiệp
gia tăng khả năng thanh toán, các chỉ số tài chính của doanh nghiệp cũng được cải thiện.
14.2 Đối với người mua.
Cho tới thời điểm hiện tại, L/C vẫn là biện pháp kiểm soát thương mại quốc tế được
chấp nhận phổ biến nhất trên toàn cầu, bảo đảm rằng nhà xuất khẩu sẽ cung cấp hàng đúng
xxii
như quy định trong hợp đồng hay đơn đặt hàng và nhà nhập khẩu sẽ thực hiện nghĩa vụ
thanh toán của mình. Nhưng nếu hàng đến chậm hay ghé vào nơi không định trước, không
theo lệ thường thì L/C sẽ gây khó khăn rất lớn cho nhà nhập khẩu. Nói tóm lại, sử dụng bao
thanh toán quốc tế, người mua (nhà nhập khẩu) có những lợi ích sau đây:
- Được mua chịu hàng dễ dàng.
- Không cần phải mở L/C.
- Tăng sức mua hàng mà vẫn không vượt quá hạn mức tín dụng cho phép.
- Có thể nhanh chóng đặt hàng mà không bị trì hoãn, không tốn phí mở L/C, hay phí
thương lượng
- Đơn giản hóa thủ tục thanh toán nhờ tập trung thanh toán về một đầu mối là ngân
hàng.
14.3 Đối với đơn vị BTT.
Thực hiện nghiệp vụ bao thanh toán, các đơn vị bao thanh toán cũng có được một
thuận lợi là được hưởng lợi ích kinh tế theo quy mô. Các lợi ích đó là:
Thứ nhất, doanh thu hoạt động kinh doanh của đơn vị BTT sẽ tăng lên nhanh chóng
nhờ các khoản tiền thu được khi thực hiện nghiệp vụ này như phí, lãi suất…
Thứ hai, việc thực hiện BTT làm đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ cho đơn vị BTT,
đem lại tiện ích mới cho khách hàng và nguồn thu không nhỏ cho ngân hàng. Nghiệp vụ
BTT còn cung cấp một số dịch vụ khác như:
- Bảo hiểm rủi ro cho doanh nghiệp,
- Quản lý các khoản phải thu và thu nợ cho khách hàng.
- Tài trợ cốn cho các doanh nghiệp.
Trong nền kinh tế hội nhập hiện nay, việc đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ của các
ngân hang, tổ chức tài chính là rất quan trong vì nó không những giúp ngân hàng, tổ chức tài
hàng. Khi thực hiện bất cứ một nghiệp vụ nào cũng có rủi ro riêng của nó, khi thực hiện
BTT, các rủi ro đối với người bán, đơn vị thực hiện BTT là không thể tránh khỏi. Các rủi ro
này có thể nhận thấy từ các bên như:
15.1 Rủi ro từ phía khách hàng:
Rủi
ro từ phía người bán:
xxiv
Trong nghiệp vụ BTT miễn truy đòi, người bán hầu như không chịu rủi ro phát sinh
vì đã bán toàn bộ khoản nợ cho NH. Trong nghiệp vụ BTT có truy đòi thì người bán vẫn còn
chịu trách nhiệm hay chịu rủi ro từ phía người mua. Khi người mua mất khả năng thanh
toán, người mua có trách nhiệm hoàn lại số tiền đã ứng trước từ phía đơn vị BTT.
Rủi
ro từ phía người mua:
Người mua sẽ chịu rủi ro từ phía người bán gây ra, chẳng hạn hàng hóa giao không
đúng chất lượng, không đúng quy cách. Hoặc trường hợp người bán lập chứng từ giả lường
gạt đơn vị BTT để đòi nợ người mua gây rắc rối cho hoạt động sản xuất kinh doanh của
người mua.
15.2 Rủi ro từ phía đơn vị BTT.
Trong nghiệp vụ BTT, đơn vị BTT là đơn vị chịu nhiều rủi ro nhất, những rủi ro này
có thể bắt nguồn từ phía người bán, người mua và ngay cả từ chính đơn vị BTT. Những rủi
ro đó có thể là:
Rủi
ro từ phía người bán: Người bán bán lại các khoản phải thu cũng có nghĩa là chuyển toàn bộ
rủi ro cho đơn vị thực hiện BTT. Trong trường hợp đơn vị BTT chấp nhận BTT không có
quyền truy đòi người bán, đơn vị BTT phải nắm rõ thông tin về phía người bán như tình
hình tài chính, khả năng thu hồi các khoản tài trợ, cũng như quá trình giao thương trong quá
khứ với người mua. Nếu người bán không đủ khả năng đảm bảo cho khoản tài trợ, rủi ro về
phía đơn vị BTT là rất lớn. Bởi vì, khi đơn vị BTT không thu hồi được nợ từ người mua thì
cũng khó khăn trong việc truy đòi người bán. Do đó, khi thực hiện BTT đối với người bán
thì đơn vị BTT cần phải thẩm định người bán về tình hình tài chính, hoạt động kinh doanh