Khãa luËn tèt nghiÖp D¬ng H¬ng Giang
4
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ASEM VÀ VAI TRÒ CỦA
TIẾN TRÌNH ASEM TRONG
VIỆC THÚC ĐẨY MỐI QUAN
HỆ Á - ÂU
Khãa luËn tèt nghiÖp D¬ng H¬ng Giang
5
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ KHU VỰC HOÁ VÀ LIÊN KẾT KINH
TẾ KHU VỰC TẠI CHÂU Á-CHÂU ÂU
4
I. Những vấn đề cơ bản về khu vực hoá
4
1. Khu vực hoá là gì? 4
2. Những hình thức biểu hiện của khu vực hoá từ trước đến nay 6
2.1. Thoả thuận tự do thương mại 7
2.2. Đồng minh thuế quan 8
2.3. Thoả ước đầu tư 9
3. Mặt tích cực và tiêu cực của khu vực hoá 10
3.1. Mặt tích cực của khu vực hoá 10
3.1.1. Thúc đẩy thương mại 11
II. Tiến trình ASEM trong việc thúc đẩy mối quan hệ Á-Âu 46
1. Vai trò của ASEM trong việc thúc đẩy mối quan hệ Á-Âu 46
2. Hợp tác kinh tế ASEM 48
2.1. Mục tiêu và nguyên tắc hợp tác 48
2.1.1. Mục tiêu
48
2.1.3. Nguyên tắc
49
2.2. Lĩnh vực hợp tác 49
2.2.1. Thuận lợi hoá thương mại 50
2.2.2. Chương trình hành động xúc tiến đầu tư 54
2.2.3. Xúc tiến hợp tác tương hỗ giữa các doanh nghiệp 56
2.2.4. Viễn cảnh ASEM 57
2.2.5. Các lĩnh vực hợp tác kinh tế khác 58
CHƯƠNG III: VIỆT NAM TRONG TIẾN TRÌNH ASEM
60
I. Hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam 60
1. Tính tất yếu của hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam 60
1.1. Tính tất yếu của việc hội nhập 60
1.2. Quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về hội nhập kinh tế
quốc tế
62
2. Vài nét về tình hình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam 66
Khãa luËn tèt nghiÖp D¬ng H¬ng Giang
7
3. Những cơ hội và thách thức đối với Việt Nam trong quá trình hội nhập
kinh tế quốc tế
71
3.1. Những cơ hội đối với Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO.
Khãa luËn tèt nghiÖp D¬ng H¬ng Giang
8
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ KHU VỰC HOÁ VÀ
LIÊN KẾT KINH TẾ KHU VỰC TẠI CHÂU Á-CHÂU ÂU
I. Những vấn đề cơ bản về khu vực hoá
1. Khu vực hoá là gì ?
Ngay những năm đầu của thập niên 70, các học giả đã bắt đầu trăn trở về những
sự kiện kinh tế diễn ra trên thế giới. Và không cần chờ đến đầu thập niên 80 hay
90 của thế kỷ XX, các công trình nghiên cứu về vấn đề khu vực hoá ngày càng
trở nên rõ nét khi các liên kết kinh tế khu vực được hình thành ngày một nhiều
như Khu vực tự do Bắc Mỹ (NAFTA), Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
(ASEAN), Hợp tác kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC), Liên minh EU…
Theo kinh tế học cổ điển về lợi thể so sánh, hầu hết các quốc gia đều có thể có
lợi khi trao đổi buôn bán với các nước khác
1
. Thực tế cũng chứng minh rằng tự
do hoá thương mại giúp cho các quốc gia phát triển và từ đó giúp cho nền kinh
tế của quốc gia đó tăng trưởng. Chính vì vậy, các quốc gia theo dòng chảy này
tự nguyện tham gia vào cơ chế tự do hoá thương mại quốc tế dưới sự bảo trợ của
Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT) và Tổ chức Thương mại
Thế giới (WTO). Mục đích cuối cùng của cơ chế này là giảm rào cản thương
mại trên cơ sở các bên cùng có lợi.
Khu vực hoá cũng được hình thành trên nguyên lý tương tự. Sự khác biệt đầu
tiên của khu vực hoá so với toàn cầu hoá chính là nhằm giảm rào cản thương
mại giữa các nước trong cùng một khu vực. Hình thức khu vực hoá có thể dề
thấy nhất là các Khu vực mậu dịch (Regional Trade Area-RTA). Trong khu vực
trang trải các gánh nặng về thủ tục và luật lệ hành chính của nước sở tại. Hơn
nữa, hầu hết các khu vực mậu dịch đều có thời kỳ chuyển đổi khoảng 10 năm để
cắt giảm thuế quan đối với các sản phẩm mang tính nhạy cảm hơn và trì hoãn
bất kì ảnh hưởng thực tế nào đối trong một khoảng thời gian đáng kể.
Khãa luËn tèt nghiÖp D¬ng H¬ng Giang
10
Nhìn chung, khu vực hoá còn được ưa chuộng hơn toàn cầu hoá nếu xét về
chính trị.
2. Các hình thức biểu hiện của khu vực hoá từ trước đến nay
Tháng 3 năm 2002, có tới 168 khu vực mậu dịch đã được hình thành và đi vào
hoạt động trên toàn thế giới. Xét về mặt lịch sử, khu vực hoá lần đầu tiên xuất
hiện vào những năm 1950 và được khuấy động bởi sự hình thành của Cộng đồng
chung châu Âu (EU) vào năm 1957. Tuy nhiên vào lúc đó, liên kết kinh tế khu
vực không vượt khỏi lãnh địa châu Âu. Trên thực tế, khu vực hoá “thực sự” mới
được hình thành cách đây trong vòng 10 năm trở lại đây. Chẳng hạn, WTO được
thành lập vào tháng 1 năm 1995, 125 khu vực được công bố có trong danh sách
của WTO với mức công bố trung bình hàng năm là 15. Cũng chính tại thời điểm
WTO được thành lập, khu vực hoá càng ngày càng phát triển. Đây cũng là điểm
đối lập cơ bản khi so sánh khu vực hoá khi WTO ra đời với tiền thân GATT
2
vào giai đoạn trước năm 1955. Các hình thức khu vực hoá ngày càng đa dạng,
thậm chí có những nước là thành viên của một vài liên kết kinh tế khu vực. Vì
thế, có thể nói khu vực hoá đã và đang trở thành một nhân tố kết nối toàn cẩu.
Vể mặt địa lý và lịch sử, khu vực hoá bắt nguồn từ châu Âu, gần 60% liên kết
khu vực do WTO công bố vào cuối năm 2000 là các nước châu Âu.
Những liên kết khu vực ngày nay được biết đến nhiều nhất là: EU, Hiệp hội Tự
do thương mại châu Âu (the European Free Trade Association-EFTA), Hiệp
định tự do thương mại Bắc Mỹ (the North American Free Trade Agreement-
Latinh cũng khá đa dạng. Nếu không tính đến Mêhicô, khoảng 55% xuất khẩu
của Mỹ Latinh được xuất khẩu sang nửa còn lại của bán cầu. Điều này chứng tỏ
những ưu tiên do thương mại đem lại có thể vượt ra khỏi giới hạn địa lý. Một vài
ví dụ có thể là: Mêhicô-Israel, Canađa-Chilê, Hàn Quốc-Chilê.
2.1. Thoả thuận Tự do Thương mại (Free Trade Agreement-FTA)
Khãa luËn tèt nghiÖp D¬ng H¬ng Giang
12
Thoả thuận tự do thương mại theo WTO/GATT đặc biệt được hiểu là một khu
vực trong đó bao gồm ít nhất 2 lãnh thổ hải quan trở lên được hình thành khi
thuế và các quy định ngặt nghèo về thương mại được loại bỏ một cách đáng kể
3
.
Tháng 3/2002, hình thức phổ biến nhất của khu vực mậu dịch là các Thoả thuận
tự do thương mại- chiếm tới 70% . Trong số này, khoảng hơn nửa số Thoả thuận
tự do thương mại này là các thoả thuận song phương giữa 2 nước. Chính vì vậy,
Thoả thuận tự do thương mại đại diện cho giai đoạn đầu của khu vực hoá so với
Hiệp định chung về thuế quan.
Hình thức khu vực mậu dịch tự do với mục đích đạt được các thoả thuận về tự
do hoá thương mại không có những đòi hỏi mang tính rườm rà trong quá trình
hội nhập nên được hình thành một cách dễ dàng hơn và ngày càng trở nên phổ
biến. Khu vực mậu dịch tự do vì thế tạo động lực cho khu vực hoá phát triển như
một khối thống nhất kể từ khi WTO được thành lập vào năm 1995. Nhìm chung,
các chuyên gia cho rằng khu vực mậu dịch tự do vẫn phổ biến nhất ở châu Âu
trong khoàng 5 năm tới. Hiện nay, cũng cần lưu ý một điều rằng khu vực mậu
dịch tự do chủ yếu được hình thành giữa các nước phát triển và đang phát triển
dựa trên theo hướng Bắc-Nam hơn là theo hướng cổ điển Bắc-Bắc, Nam-Nam.
Có thể thấy một trong những khu vực mậu dịch tự do Bắc-Nam thành công nhất
điển hình là NAFTA.
Khu vực mậu dịch tự do cũng thường có các quá trình hoà giải. Vì vậy, quy trình
thường mất nhiều thời gian hơn để thương lượng. Thông thường đồng minh thuế
quan thường chiếm khoảng 9% trong khu vực mậu dịch. Vì thế, quy trình này
thường được xem như một giai đoạn phát triển hơn của hội nhập kinh tế tiến tới
tự do hoá thương mại dựa trên các quan hệ đa phương. Từ cơ sở nghiên cứu này
nhiều người cho rằng để toàn cầu hoá cần hạn chế các khu vực mậu dịch tự do
một cách tối đa đồng thời khuyến khích hơn nữa các Đồng minh thuế quan.
2.3. Thoả ước đầu tư
Một hình thức khác của khu vực hoá là các Thoả ước đầu tư. Dưói hình thức
này, đầu tư của các quốc gia và các công ty từ một quốc gia thành viên sẽ được
hưởng một mức đãi ngộ chung theo nguyên tắc NT và MFN. Mức đãi ngộ này
4
Điều XXIV, Đoạn 8 (a), GATT 1994
Khãa luËn tèt nghiÖp D¬ng H¬ng Giang
14
không chỉ được hưởng ở giai đoạn phải thực hiện các nghĩa vụ như nghĩa vụ sử
dụng sản phẩm nội địa hay nghĩa vụ phải xuất khẩu các sản phẩm trong nước. Vì
vậy, thoả ước đầu tư không chỉ được đàm phán dựa trên cơ sở song phương và
đa phương giữa một vài bên tham gia mà còn chủ yếu nhấn mạnh vào đầu tư.
Theo Thoả ước đầu tư. hầu hết các bên tham gia còn đưa ra ưu đãi đối với một
số ngành đối với các quốc gia được hưởng đãi ngộ quốc gia-MFN. Những ưu
đãi đối với một số ngành thường được tạo ra nhằm phục vụ lợi ích chính trị và
làm giảm sự ảnh hưởng của NT và MFN do luật của quốc gia đó mang lại.
Những ưu đãi này thường được dành cho các ngành như hàng không, vận tải
biển, ngân hàng, bảo hiểm, điện.
Thoả ước đầu tư hiển nhiên nhấn mạnh tới các quy tắc đối với nước đầu tư.
Những quy tắc đầu tư của các nước chủ đầu tư tất nhiên phải phù hợp với thông
lệ quốc tế. Nói một cách khác các quy tắc này phải phục vụ cho lợi ích chung
của cộng đồng theo nguyên tắc không phân biệt đối xử. Nếu vi phạm quy tắc
ích cho các quốc gia có lợi thế so sánh.
3.1.2. Thiết lập các khối kinh tế chuẩn bị liên kết đa phương
Theo dòng chảy lịch sử có thể thấy việc đàm phán thương mại đa phương bản
thân nó đã bao gồm những khó khăn và đòi hỏi nhiều thời gian để có thể thực
hiện. Điều này càng khó khi các thành viên của WTO ngày càng nhiều. Kể từ
vòng đàm phán Kennedy năm 1967, gần 100 quốc gia đã trở thành thành viên
của GATT/WTO. Theo cấp số nhân của con số này, số lượng sản phẩm, dịch vụ
và các vấn đề liên quan đến việc đàm phán và những khó khăn thực tế sẽ gặp
phải là không thể đo được. Chính vì lí do này, việc thiết lập các khối kinh tế như
Liên minh châu Âu, châu Mỹ và châu á là rất cần thiết và hiệu quả để có thể đạt
tới mục đích cuối cùng là tự do hoá thương mại toàn cầu. Bằng cách này, việc
Khãa luËn tèt nghiÖp D¬ng H¬ng Giang
16
thương lượng để đạt được tự do hoá thương mại sẽ được tiến hành dễ dàng và
nhanh hơn rất nhiều.Chẳng hạn như việc đàm phán ba bên thì hiển nhiên sẽ đơn
giản hơn so với 150 quốc gia cùng nhau ngồi vào bàn đàm phán và mỗi nước
thuộc 150 quốc gia này lại đưa ra những lợi ích và chương trình nghị sự khác
nhau của mình.
Sự nhất trí trong cùng một khu vực được tiến hành trên cơ sở song phương và đa
phương sẽ tạo đà cho cho tự do hoá thương mại. Nhiều người cho rằng những
vấn đề phức tạp mang tính chính sách chẳng hạn như dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí
tuệ, chiến lược cạnh tranh, tiêu chuẩn kỹ thuật, nguồn thu của chính phủ…nên
được giải quyết trên cơ sở nhất trí và theo cùng một hướng hơn là theo sở thích
và nguyện vọng khác nhau của nhiều quốc gia. Tại đây, khu vực hoá đóng vai
trò là một nhân tố thức đẩy sự tăng trưởng cũng như cầu cho việc xuất khẩu đối
với các quốc gia thuộc cùng một khối.
Theo một cách hiểu khác, những ưu đãi do khu vực hoá đem lại cũng có thể giúp
cho việc thiết lập một cơ chế bên trong cho hệ thống thương mại đa phương.
Nhiều quốc gia vướng phải những rào cản chính trị trong việc thiết lập tự do hoá
giáo, lịch sử và văn hoá. Bằng cách thúc đẩy sự ổn định về chính trị trong khu
vực trước, các quốc gia có cơ sở vững chắc cùng nhau hợp tác để đạt được
những lợi ích về kinh tế. Đây cũng là một trong những bước quan trọng nhất
trong việc hoạch định các chính sách tự do hoá thương mại đa phương.
Một trong những mặt tớch cực của khu vực hoỏ cú thể thấy một cỏch rừ nột là
hiệu quả của nú trong việc thỳc đẩy thương mại. Thương mại của một nước
được thúc đẩy đặc biệt nước đó có lợi thế so sánh về một sản phẩm đặc trưng
nào đó đối với các quốc gia khác trong khu vực. Ví dụ Braxin có lợi thế so sánh
về các sản phẩm làm bằng da so với các nước khác cùng khu vực như Chilê và
Argentina thỡ Chilờ và Achentina sẽ phải giảm mức thuế về cỏc sản phẩm làm
bằng da cựng mức với mức thuế đó cú sản trong khu vực đó, tức là ngang bằng
Khãa luËn tèt nghiÖp D¬ng H¬ng Giang
18
với mức thuế của Braxin. Từ đây, có thể nói rằng thương mại đó được thúc đẩy
nhờ khu vực hoá vỡ Braxin từ đó sẽ có lợi từ việc từ việc xuất khẩu những sản
phẩm làm bằng da mang tính cạnh tranh hơn sang Chilê và Achentina. Với cách
hiểu này, lợi thế so sánh của một nước trong khu vực cũng sẽ thúc đẩy tự do
hoá thương mại. Như vậy, thúc đẩy tự do thương mại có thể được xem là một
trong những mặt tích cực nhất của khu vực hoá, và đặc biệt nó đem lại nhiều lợi
ích cho các quốc gia có lợi thế so sỏnh.
3.2. Mặt tiêu cực của khu vực hoá.
3.2.1. Chệch hướng thương mại
Đối lập với thúc đẩy thương mại, chệch hướng thương mại lại là một khuynh
hướng được xảy ra đồng thời với quá trình khu vực hoá. Chệch hướng thương
mại sẽ xảy ra khi một quốc gia có lợi thế so sánh nhưng không thể sử dụng được
lợi thế so sánh của mình. Cùng một ví dụ, có thế thấy nếu Braxin có lợi thế so
sánh về các sản phẩm làm bằng da nhưng Chilê và Achentina lại cùng nhau liên
kết và buôn bán thì chệch hướng thương mại sẽ xảy ra với Braxin khi Chilê mua
các sản phẩm làm bằng da của Achentina thay vì Braxin. Điều này hoàn toàn có
bấy nhiêu và điều này khó để đạt tới sự nhất trí của các thành viên. Các nước
nằm trong cùng một khu vực sẽ đạt được lợi ích ít hơn khi hội nhập sâu hơn
trong khối. Liên minh châu Âu được coi là một ví dụ điển hình. Tuy nhiên, đây
cũng là một khối ngoại lệ vì các quốc gia thành viên trong khu vực này cùng
chia xẻ một hệ thống duy nhất về quy mô, tài nguyên, lịch sử và chính trị.
Hơn nữa, mặc dù được coi là một sự lựa chọn tốt cho công chúng, tự do thương
mại không tránh khỏi những vấn đề khó giải quyết mang tính bản chất do khu
vực hoá đem lại. Những quốc gia buộc phải tham gia vào khu vực mậu dịch tất
Khãa luËn tèt nghiÖp D¬ng H¬ng Giang
20
nhiên sẽ có ít động lực thúc đẩy khu vực đó phát triển. Khi khu vực đó càng
được mở rộng, nó sẽ tìm kiếm sự nhân nhượng từ những thành viên mới.
Một vài nước ở châu Phi và Trung Á cùng một lúc tham gia vào nhiều khu vực
mậu dịch đa phương. Ngoài sự khó khăn để có thể duy trì tư cách hội viên ở các
khối này, các nước này khó có thể giúp góp phần củng cố khu vực vì những
quốc gia này nhiều khi tham gia vào khối đó không đảm bảo được mục tiêu chủ
đạo mà khối đó vươn tới mà chỉ chạy theo mục đích riêng của mình. Tương tự
như vậy, các quốc gia với cùng mục tiêu và chính sách ngoại giao sẽ tìm thấy
những cơ hội từ đối tác của mình. Và như vậy, sẽ có những quốc gia còn lại nằm
ngoài lề, bị gạt ra khỏi cuộc chơi. Từ thực tế này, nhiều bè phái, đảng phái sẽ
xuất hiện nằm ngoài sự mong đợi.
Thậm chí khi các nước phát triển và đang phát triển cùg nhau ký kết cùng tham
gia vào một khối, khối này cũng sẽ bị thống trị bởi các quốc gia có thế lực kinh
tế. Như vậy, nhìn chung có thể nói rằng khu vực hoá chia nhỏ thế giới ra làm
nhiều mảnh và nó làm cho việc thiết lập môi trường hợp tác thương mại đa
phương trở nên khó khăn.
3.2.3. Hậu quả mang lại liên quan tới toàn cầu hoá
Dù có ẩn chứa nhiều điều hứa hẹn, toàn cầu hoá vẫn có những mặt trái và gây ra
không ít khó khăn. Nhiều người tin rằng toàn cầu hoá làm tăng khoảng cách
Thoả hiệp ưu đãi thương mại thương mại thường gây ra những chi phí giao dịch
không cần thiết. Trước hết, do các công ty thường tìm cách để đáp ứng đủ các
điều kiện đặt ra cho các quốc gia thuộc chung một khu vực để được hưởng
những ưu đãi khá phức tạp này. Những đảm bảo để có thể được hưởng những
Khãa luËn tèt nghiÖp D¬ng H¬ng Giang
22
điều kiện này thường đòi hỏi một thời gian dài, phức tạp và thông thường dẫn
tới các lãng phí các chi phí thương mại.
4. Mối quan hệ giữa khu vực hoá và toàn cầu hoá
Trong quan hệ với toàn cầu hoá, khu vực hoá được xem là bước chuẩn bị để tiến
tới toàn cầu hoá. Mặt khác, xu thế toàn cầu hoá hiện nay nó phản ánh một thực
trạng co cụm nhằm bảo vệ những lợi ích tương đồng giữa một vài nước trước
những nguy cơ, những tác động tiêu cực do toàn cầu hoá đặt ra. Như vậy, xét về
ngắn hạn dường như khu vực hoá đối nghịch với toàn cầu hoá, nhưng xét về dài
hạn thì chính khu vực hoá là bước chuẩn bị để thực hiện toàn cầu hoá.
Động lực gia tăng xu thế khu vực hoá trong giai đoạn hiện nay xuất phát từ mục
đích phát huy những lợi thế so sánh, những nét tương đồng của các quốc gia
trong mỗi nhóm khu vực. Đồng thời, xu thế khu vực hoá còn được đẩy mạnh bởi
chính xu thế toàn cầu hoá gia tăng mạnh mẽ vượt trước cả việc hoàn thiện những
định chế toàn cầu để quản lý quá trình này. Toàn cầu hoá kinh tế về bản chất là
đi đến tự do hoá các yếu tố sản xuất trên phạm vi toàn cầu nhằm phục vụ lợi ích
của các dân tộc. Tuy vậy do những khác biệt về trình độ phát triển, về nguồn lực
sản xuất đã đưa đến những lợi ích khác nhau khi tham gia vào quá trình này. Để
khắc phục điều đó các quốc gia có những điểm tương đồng tìm đến nhau để tạo
lập các tổ chức kinh tế, tạo cho nhau những điều kiện thuận lợi hơn các quy định
quốc tế hiện hành. Như vậy về trình độ hợp tác hoá khu vực hiện nay cao hơn so
với toàn cầu hoá kinh tế.
Việc nâng cao trình độ hợp tác khu vực xét về tương lai chính là cơ sở cho việc
thực hiện toàn cầu hoá kinh tế và cũng vì vậy chừng nào còn tồn tại các tổ chức
đông đảo. Liên Xô đang vận động hình thành một hệ thống “an ninh tập thể
Khãa luËn tèt nghiÖp D¬ng H¬ng Giang
24
Châu Á”. Nội bộ các nước ASEAN còn phức tạp, mâu thuẫn, tranh chấp nhau,
nhất là giữa Phi-lip-pin-Malaysia, Singapore-Malaysia, Malaysia -TháiLan ).
Để đối phó với các thách thức này, xu hướng co cụm lại trong một tổ chức khu
vực với một hình thức nào đó để tăng cường sức mạnh bản thân đã xuất hiện và
phát triển trong các nước thành viên tương lai của ASEAN.
ASEAN được thành lập bởi Tuyên bố Bangkok-Thái Lan. Khi mới thành lập
ASEAN bao gồm 5 nước là Inđônêxia, Malaysia, Philipine, Singapore và Thái
Lan. Năm 1984, Brunêi gia nhập và trở thành thành viên thứ 6 của ASEAN.
Ngày 28/7/1995, Việt Nam trở thành thành viên thứ 7 của Hiệp hội này. Ngày
23/7/1997 kết nạp Lào và Mianmar. Ngày 30/4/1999 kết nạp thêm Campuchia,
hoàn thiện ASEAN 10.
Bản tuyên bố Bangkok thể hiện ba mục tiêu lớn của Hiệp hội là:
Hợp tác kinh tế và xã hội giữa các quốc gia thành viên với niềm tin tưởng
rằng sự tăng cường về kinh tế là nguồn gốc của tiến bộ xã hội và văn hoá.
Hợp tác vì hoà bình và ổn định khu vực bằng việc triệt để tôn trọng công
bằng và ưu tiên luật pháp trong quan hệ giữa các nước trong khu vực và
nghiêm chỉnh tuân theo các nguyên tắc của Hiến chương Liên hiệp quốc.
Hợp tác với các tổ chức quốc tế và khu vực khác
Các nước ASEAN (trừ Thái Lan) đều trải qua giai đoạn lịch sử là thuộc địa của
các nước phương Tây và giành được độc lập dân tộc vào các thời điểm khác
nhau sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai. Mặc dù ở trong cùng một khu vực địa
lý, song các nước ASEAN rất khác nhau về chủng tộc, ngôn ngữ, tôn giáo và
văn hoá, tạo nên một sự đa dạng cho Hiệp hội.
Khu vực ASEAN là khu vực có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao so với các khu
vực khác trên thế giới, nếu tính trước khủng hoảng năm 1997 thì ASEAN được
Khãa luËn tèt nghiÖp D¬ng H¬ng Giang
Hiệp ước khuyến khích và đảm bảo đầu tư ASEAN
Nghị định thư về mở rộng danh mục thuế ưu đãi theo thoả thuận ưu đãi
thương mại ASEAN
Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ tư (1/1992)
Hội nghị nhấn mạnh trọng tâm vào tăng cường, đẩy mạnh hơn nữa hợp tác
kinh tế ASEAN. Hội nghị đã thông qua những văn kiện và quyết định
quan trọng sau:
Thành lập khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) vào năm 2006
Hiệp định khung về hợp tác kinh tế ASEAN
Hiệp định về Chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT)
Hội nghị cấp cao lần thứ năm (12/1995)
Hội nghị đã có những quyết định và văn bản quan trọng sau:
Nâng cao hợp tác chuyên ngành lên tầm cao mới, ngang với hợp tác
chính trị-an ninh và kinh tế thông qua phát triển con người, đoàn kết xã
hội để đạt được sự thịnh vượng chung cho toàn khu vực.
Rút ngắn thời gian hiệu lực AFTA từ 15 năm xuống còn 10 năm, thậm
chí có thể hoàn thành trước thời hạn 2003 và mở rộng hợp tác ASEAN
sang lĩnh vực mới như dịch vụ, sở hữu trí tuệ, lập khu vực đầu tư
ASEAN…
Ký kết Hiệp ước về một khu vực Đông Nam á phi vũ khí hạt nhân, là
một văn kiện quan trọng tiến tới xây dựng Đông Nam á thành một khu
vực hoà bình ổn định.
Khãa luËn tèt nghiÖp D¬ng H¬ng Giang
27
Thoả thuận họp Hội nghị Cấp cao chính thức 3 năm một lần và 2 Hội
nghị Cấp cao không chính thức giữa 2 ký Hội nghị Cấp cao chính thức.
Tiếp đến là Hội nghị cấp cao không chính thức được họp hàng năm tại các
quốc gia ASEAN.
Về cơ cấu tổ chức:
Giải quyết bất đồng hoặc tranh chấp bằng biện pháp hoà bình, thân
thiện;
Không đe doạ hoặc sử dụng vũ lực;
Hợp tác với nhau một cách có hiệu quả.Các nguyên tắc điều phối hoạt
động của hiệp hội
Các nguyên tắc điều phối hoạt động của Hiệp hội
Nguyên tắc nhất trí (consensus): một quyết định chỉ được coi là của
ASEAN khi được tất cả các nước thành viên nhất trí thông qua.
Nguyên tắc này đòi hỏi phải có quá trình đàm phán lâu dài nhưng đảm
bảo được việc tính đến lợi ích quốc gia của tất cả các nước thành viên.
Nguyên tắc bình đẳng (equality): thể hiện ở việc không phân biệt quốc
gia lớn hay nhỏ, giàu hay nghèo, tất cả đều bình đẳng với nhau trong