Luận văn " NGHIÊN CỨU THÁI ĐỘ CỦA HỌC SINH PHỔ THÔNG ĐỐI VỚI TRUNG TÂM NIIT ANGIMEX " potx - Pdf 12

ĐẠI HỌC AN GIANG
KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH

NGUYỄN HỒNG THẢO
NGHIÊN CỨU THÁI ĐỘ CỦA HỌC SINH PHỔ THÔNG
ĐỐI VỚI TRUNG TÂM NIIT ANGIMEX
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh nông nghiệp KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Long Xuyên, tháng 06 năm 2007
ĐẠI HỌC AN GIANG
KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH


Người chấm, nhận xét 1:….………………………………………
(Họ tên, học hàm, học vị và chữ ký)
Người chấm, nhận xét 2:………………………………………
(Họ tên, học hàm, học vị và chữ ký) Khoá luận được bảo vệ tại Hội đồng chấm bảo vệ luận văn
Khoa Kinh tế - Quản trị kinh doanh ngày … tháng … năm ……

Long Xuyên, ngày 11 tháng 06 năm 2007.
Người thực hiện

Nguyễn Hồng ThảoTÓM TẮT
  
Trung tâm NIIT ANGIMEX là trung tâm công nghệ thông tin trực thuộc công ty
Xuất nhập khẩu An Giang (ANGIMEX) được thành lập và đi vào hoạt động năm 2004,
chức năng hoạt động chính của Trung tâm là liên kết với tập đoàn NIIT Ấn Độ đào tạo
lập trình viên quốc tế.
Học viên chính của Trung tâm hiện nay là: nhân viên trong các công ty, doanh
nghiệp, những người học tự do để nâng cao trình độ, sinh viên… Phần lớn trong số họ
hiện đang học tập, làm việc tại TP. Long Xuyên và có thu nhập khá. Tuy nhiên, tác giả
nhận thấy học sinh phổ thông tại TP. Long Xuyên là một đối tượng khá quan trọng mà
Trung tâm cần phải tìm hiểu đến vì họ là những người đang bắt đầu tìm hiểu về các
trung tâm đào tạo để chuẩn bị cho nghề nghiệp trong tương lai và với nguồn lực hiện
nay Trung tâm có thể thiết kế các chương trình đào tạo ngắn hạn thích hợp với học sinh
phổ thông để thu hút họ học tại Trung tâm. Vì thế, tác giả chọn đề tài “Nghiên cứu thái
độ học sinh phổ thông đối với Trung tâm” để tìm hiểu về: sự hiểu biết của học sinh về
Trung tâm, tình cảm và xu hướng hành động có liên quan đến Trung tâm.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là học sinh phổ thông tại 3 trường: THPT chuyên
Thoại Ngọc Hầu, THPT Long Xuyên, THPT Khuyến Học. Cỡ mẫu nghiên cứu 120
mẫu, trong đó mỗi trường có số lượng mẫu ngang nhau là 40 mẫu/ trường.
Nghiên cứu được tiến hành qua 2 bước: nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức.
Nghiên cứu sơ bộ dùng phương pháp thảo luận tay đôi với dàn bài thảo luận để thu nhận
các ý kiến làm cơ sở xây dựng bảng câu hỏi. Nghiên cứu chính thức chia thành hai giai
đoạn lấy mẫu: giai đoạn thử nghiệm và giai đoạn chính thức. Kết quả của giai đoạn
chính thức được tổng hợp, xử lý với công cụ hỗ trợ bằng phần mềm Excel và SPSS 13.0

1.1 Cơ sở hình thành 1
1.2 Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.2 Phạm vi nghiên cứu 2
1.3 Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu 2
1.4 Kết cấu đề tài 3
Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 4
2.1 Giới thiệu 4
2.2 Thái độ 4
2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến thái độ 5
2.3.1 Yếu tố văn hóa 5
2.3.2 Yếu tố xã hội 6
2.3.3 Yếu tố cá nhân 7
2.3.4 Yếu tố tâm lý 8
2.4 Mô hình nghiên cứu 9
2.5 Tóm tắt 11
Chương 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 12
3.1 Giới thiệu 12
3.2 Tổng thể nghiên cứu 12
3.3 Thiết kế nghiên cứu 14
3.3.1 Nghiên cứu sơ bộ 16
3.3.2 Nghiên cứu chính thức 16
3.4 Thang đo 20
3.5 Tóm tắt 21 Chương 4: GIỚI THIỆU TRUNG TÂM NIIT ANGIMEX 22
4.1 Giới thiệu 22
4.2 Lịch sử hình thành 22
4.3 Quá trình phát triển 24

Bảng 3.3: Cơ cấu mẫu nghiên cứu 19
Biểu đồ
Biểu đồ 3.1: Tiêu chí chọn trường 13
Biểu đồ 4.1: Kết qủa hoạt động của trung tâm qua các năm 25
Biểu đồ 5.1: Thông tin về giới tín của đáp viên 26
Biểu đồ 5.2: Thông tin về trường lớp của đáp viên 27
Biểu đồ 5.3: Thông tin về khối thi đại học yêu thích nhất của đáp viên 27
Biểu đồ 5.4: Thông tin về chứng chỉ tin học đã học của đáp viên 28
Biểu đồ 5.5: Thông tin về xếp loại học tập học kỳ 1 của đáp viên 28
Biểu đồ 5.6: Thông tin về chi tiêu hàng tháng của đáp viên 29
Biểu đồ 5.7: Mức độ nhận biết tên Trung tâm của đáp viên 30
Biểu đồ 5.8: Mức độ nhận biết các hoạt động của Trung tâm 31
Biểu đồ 5.9: Mức độ nhận biết các dịch vụ của Trung tâm 32
Biểu đồ 5.10: Mức độ tình cảm của học sinh đối với trung tâm 34
Biểu đồ 5.11: Sự yêu thích Trung tâm của học sinh 35
Biểu đồ 5.12: Lý do đáp viên thích Trung tâm 36
Biểu đồ 5.13: Lý do đáp viên không thích Trung tâm 36
Biểu đồ 5.14: Sự khác biệt về niềm hãnh diện của học sinh giữa các trường 38
Biểu đồ 5.15: Sự khác biệt về niềm hãnh diện của học sinh giữa các nhóm học lực 39
Biểu đồ 5.16: Xu hướng hành động của học sinh đối với Trung tâm 41
Biểu đồ 5.17: Lý do học sinh chưa có dự định học tại Trung tâm 42
Biểu đồ 5.18: Ý kiến của cá nhân chưa có dự định học tại Trung tâm 43
Biểu đồ 5.19: Sự khác biệt về xu hướng tiếp tục tìm hiểu Trung tâm giữa các trường 44
Biểu đồ 5.20: Sự khác biệt về xu hướng giới thiệu bạn bè đăng ký học tại Trung tâm
giữa các mức chi tiêu hàng tháng khác nhau 46 Hình
Hình 2.1: Mô hình ba thành phần thái độ 4
Hình 2.2: Các yếu tố ảnh hưởng đến thái độ 5

thông tin ngày càng trở nên cần thiết trong cuộc sống, nó luôn luôn chờ đợi sự khám
phá, vận dụng phát triển của con người.
Song song với hội nhập kinh tế là hội nhập về văn hóa giữa Việt Nam với các nước
phát triển đã ảnh hưởng rất nhiều đến phong cách sống của người dân Việt Nam nói
chung và nguời dân An Giang nói riêng, họ ngày càng thích học hỏi và làm việc trong
những ngành nghề mới phù hợp với xu hướng phát triển kinh tế - xã hội của nước ta
như hiện nay: ngoại ngữ, công nghệ thông tin, kinh tế,… cho thấy nhu cầu học công
nghệ thông tin trong Tỉnh sẽ ngày càng tăng cao. Đồng thời, tiềm năng phát triển của
các tỉnh Đồng bằng sông cửu long nói chung và An Giang nói riêng đang được khai
thác, phát triển nhằm thu hút vốn đầu tư của các công ty, doanh nghiệp trong và ngoài
nước. Do đó, nhu cầu sử dụng nguồn nhân lực tại địa phương sẽ tăng theo tốc độ đầu tư
của các công ty. Đặc biệt là nguồn nhân lực có trình độ về công nghệ thông tin hiện nay
chưa đáp ứng được nhu cầu của các công ty lớn trong Tỉnh. Đó chính là, cơ hội thuận
lợi cho các trường, trung tâm đào tạo việc làm trong và ngoài nước mở rộng đầu tư vào
An Giang.
Trong ngành giáo dục và đào tạo, khách hàng hiện nay rất quan tâm đến chất lượng
đào tạo giữa các trường với nhau. Xu hướng so sánh lựa chọn nơi đào tạo phù hợp với
mức đầu tư vào học tập của họ sẽ ngày càng cao. Bên cạnh đó, có rất nhiều tổ chức đào
tạo nổi tiếng trên thế giới đầu tư vào lĩnh vực giáo dục tại Việt Nam ngày càng gia tăng:
NIIT, Aptech, Đại học Troy (Hoa Kỳ)… vì thế môi trường giáo dục ở Việt Nam sẽ mang
tính cạnh tranh ngày càng cao. Hiện nay, Trung tâm NIIT ANGIMEX không chỉ cạnh
tranh với đối thủ chính là Aptech An Giang mà còn cạnh tranh với nhiều đối thủ khác ở
thành phố Cần Thơ và thành phố Hồ Chí Minh. Vì thế đòi hỏi Trung tâm phải không
ngừng nâng cao chất lượng, đa dạng các chuyên ngành đào tạo của mình để thu hút học
viên, hạn chế các trường hợp học viên đổ xô đăng ký học ở các thành phố lớn.
Trong nhóm khách hàng của Trung tâm, học sinh phổ thông chính là những khách
hàng tiềm ẩn rất quan trọng vì quyết định lựa chọn Trung tâm đào tạo nghề của học sinh
sẽ ảnh hưởng đến lượng học viên của Trung tâm trong tương lai. Vì thế, trong số các
yếu tố tác động đến hành vi quyết định lựa chọn nơi đào tạo của học sinh thì thái độ của
học sinh đối với trường, trung tâm đào tạo sẽ có ảnh hưởng rất lớn. Để giúp Trung tâm

Đối tượng nghiên cứu: Khách hàng của Trung tâm bao gồm nhiều đối tượng
khác nhau: nhân viên trong các công ty, doanh nghiệp, học sinh đã tốt nghiệp phổ thông
trung học, sinh viên trường Đại học An Giang,… Nhưng đề tài chỉ tập trung tìm hiểu
đối tượng là học sinh tại các trường trung học phổ thông vì đối tượng này là những
khách hàng tiềm ẩn khá quan trọng của Trung tâm.
Thời gian tiến hành đề tài nghiên cứu sẽ giới hạn trong khoảng: từ tháng
3/2007 đến tháng 6/2007.
1.3 Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu.
Nghiên cứu về thái độ sẽ là vấn đề thiết thực đối với Trung tâm. Sau khi đề tài hoàn
thành sẽ giúp Trung tâm nhận biết được những suy nghĩ và xu hướng hành động của học
sinh phổ thông về Trung tâm như thế nào, những tình cảm của học sinh đối với Trung
tâm từ khi Trung tâm thành lập đến nay, học sinh có quan tâm đến những hoạt động của
Trung tâm hay không, sau khi tốt nghiệp phổ thông, học sinh có mong muốn được học ở
Trung tâm hay không, họ có đặt những niềm tin vào Trung tâm hay không,…
Tôi mong muốn kết quả nghiên cứu này sẽ có thể trở thành tài liệu tham khảo hữu
ích cho những nghiên cứu sau, đồng thời đề xuất một số biện pháp tác động lên thái độ
học sinh phổ thông để họ quan tâm đến Trung tâm nhiều hơn, góp phần phát triển Trung
tâm cũng chính là đáp ứng nhu cầu nhân lực công nghệ thông tin của các công ty trong
Nghiên cứu thái độ của học sinh phổ thông đối Trung tâm NIIT ANGIMEX
SVTH: Nguyễn Hồng Thảo

3

và ngoài Tỉnh, hỗ trợ các doanh nghiệp thực hiện tin học hóa quản lý sản xuất kinh
doanh, góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội chung của Tỉnh.
1.4 Kết cấu đề tài.
Nội dung nghiên cứu của đề tài bao gồm các nội dung chính sau:
Chương 1: Tổng quan đây là chương giới thiệu sơ lược về đề tài.
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu, chương này trình bày tóm tắt
các khái niệm về thái độ, các thành phần của thái độ, các yếu tố tác động đến thái

cứu riêng của vấn đề nghiên cứu từ khái niệm về thái độ và các yếu tố ảnh hưởng đến
thái độ.
2.2 Thái độ
Thái độ là sự đánh giá có ý thức của một cá nhân có những tình cảm tốt xấu và
những xu hướng hành động có tính chất thuận lợi hay bất lợi về một sự vật hay vấn đề
nào đó.
Thái độ dẫn dắt con người xử sự theo một thói quen bền vững trước những kích
thích tương đồng mà không cần phải giải thích bằng một phương pháp mới. Vì vậy, thái
độ rất khó thay đổi, để thay đổi được thái độ người tiêu dùng đòi hỏi tốn nhiều thời gian
và chi phí, các doanh nghiệp tốt nhất nên làm cho sản phẩm của mình phù hợp với thái
độ của khách hàng mục tiêu hơn là cố gắng thay đổi chúng.
Theo Nguyễn Đình Thọ - Nguyễn Thị Mai Trang (Nguyên lý marketing, 2003) các
yếu tố: sự hiểu biết, cảm xúc, xu hướng hành vi hình thành nên thái độ của cá nhân. Mô
hình về thành phần của thái độ thường được sử dụng trong nghiên cứu phân tích người
tiêu dùng bao gồm 3 thành phần sau:

Hình 2.1: Mô hình ba thành phần thái độ.
11
Nguồn: Schifan &Kanuk (2000), trang 203.

Cảm
xúc
Xu hướng
hành vi
Sự hiểu
biết
Nghiên cứu thái độ của học sinh phổ thông đối Trung tâm NIIT ANGIMEX

Dựa theo ThS. Vũ Thế Dũng – ThS. Trương Tôn Hiền Đức. 2004. “Hành vi người tiêu dùng” trong
Quản trị tiếp thị lý thuyết và tình huống.

Thái độ

Yếu tố văn hoá
Văn hóa
Nhánh văn hóa
Giai tầng xã hội
Yếu tố xã hội
Các nhóm chuẩn mực
Gia đình
Vai trò và địa vị xã hội

Yếu tố tâm lý
Động cơ
Nhận thức
Sự hiểu biết
Ni
ềm tinYếu tố cá nhân
Tuổi tác giai đoạn
cuộc đời.
Cá tính, nhân cách


Các nhóm chuẩn mực là những nhóm có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến
thái độ hay hành vi của con người. Khi cá nhân càng đề cao nhóm chuẩn mực thì mức
độ ảnh hưởng của tập thể trong nhóm đến sự hình thành ý niệm của cá nhân về ưu điểm
của hàng hóa và nhãn hiệu càng lớn.
Những nhóm ảnh hưởng trực tiếp đến thái độ, hành vi của thành viên trong
nhóm là những nhóm mà cá nhân nằm trong đó và có sự tác động qua lại khá thường
xuyên với các thành viên trong nhóm như: gia đình, bạn bè, láng giềng, đồng nghiệp,…
Những nhóm chuẩn mực ảnh hưởng gián tiếp đến cá nhân là những nhóm mà
cá nhân không tham gia nhưng chúng có tác động đến thái độ của cá nhân: nhà khoa
học, chính khách, ca sĩ, cầu thủ, doanh nhân nổi tiếng,…
Mỗi nhóm chuẩn mực sẽ đặt ra những niềm tin, “luật lệ” của nhóm. Những quy
tắc này sẽ tạo sức ép thúc đẩy thành viên tuân theo và không mang tính bắt buộc. Tuy

3
(Nguyễn Đông Phương - Nguyễn Văn Trưng - Nguyễn Tân Mỹ - Quách Thi Bửu Châu – Ngô Thị Xuân
Phương - Nguyễn Văn Chu. 1999. “Môi trường marketing, nghiên cứu marketing” trong Marketing căn
bản, trang 44).

Nghiên cứu thái độ của học sinh phổ thông đối Trung tâm NIIT ANGIMEX
SVTH: Nguyễn Hồng Thảo

7

nhiên, cá nhân có nhu cầu được hội nhập, được tập thể động viên, ủng hộ, nhìn nhận sự
hiện diện của cá nhân. Khi cá nhân được nhóm chấp nhận, cá nhân dễ dàng tuân theo
những nguyên tắc chung của nhóm chuẩn mực.
 Gia đình.
Gia đình đóng vai trò rất quan trọng trong nhận thức của mỗi cá nhân. Trong
một gia đình, hành vi của thành viên này có thể ảnh hưởng mạnh mẽ đến thái độ của
thành viên khác. Nhất là các gia đình nhỏ thì tác động giữa các thành viên lên thái độ

Nghiên cứu thái độ của học sinh phổ thông đối Trung tâm NIIT ANGIMEX
SVTH: Nguyễn Hồng Thảo

8

2.3.4 Yếu tố tâm lý.
 Động cơ
Theo Philip Kotler động cơ là nhu cầu đã trở thành bức thiết đến mức độ buộc
con người phải tìm cách thoả mãn nó. Qua định nghĩa trên ta có thể hiểu động cơ như
động lực thúc đẩy hành vi nhằm thoả mãn nhu cầu cấp thiết. Khi cá nhân được thoả mãn
nhu cầu sẽ tự làm giảm tâm lý căng thẳng mà cá nhân đó phải chịu đựng.
Như vậy, nhu cầu chính là nhân tố gây ra động cơ. Khi doanh nghiệp nắm bắt
được nhu cầu khách hàng, khám phá được những nhu cầu tiềm ẩn và gây tác động đúng
thị hiếu của khách hàng thì kế hoạch marketing mới có thể mang lại hiệu quả.
Hai lý thuyết về nhu cầu được ứng dụng trong nghiên cứu người tiêu dùng
nhiều nhất là luận thuyết của Zigmund Freud và Abraham Maslow.
Zigmund Freud: phần lớn con người không có ý thức được đầy đủ về nguồn
gốc động cơ của chính mình. Ham muốn của con người là không có giới hạn trong khi
sự thoả mãn ham muốn là có giới hạn, ham muốn không bao giờ biến mất hoàn toàn.
Con người hành động mua theo lý trí mà còn nhiều nhu cầu mới nảy sinh trong quá
trình lựa chọn. Do đó, người thiết kế sản phẩm, người bán hàng có thể nắm bắt gợi thêm
những nhu cầu mới mà sản phẩm có thể thoả mãn, tạo thêm những động cơ mới thúc
đẩy hành vi, thái độ của khách hàng.
Abraham Maslow: lý thuyết nhu cầu của Maslow nhằm giải thích tại sao
trong những giai đoạn khác nhau con người bị thôi thúc bởi những nhu cầu khác nhau.
Maslow đã sắp xếp nhu cầu của con người theo năm cấp bậc. Theo ông, con
người sẽ cố gắng thoả mãn nhu cầu quan trọng nhất trước tiên, sau khi thoả mãn nhu
cầu đó, thì nhu cầu quan trọng tiếp theo sẽ trở thành động lực hành động. Thang nhu cầu
được Maslow mô tả trong học thuyết như sau:


Con người có thể nhận thức khác nhau về cùng một đối tượng do ba tiến trình
cảm nhận: (1) nhận thức có chọn lọc, (2) sự bóp méo có chọn lọc, (3) sự ghi nhớ có
chọn lọc.
(1) Nhận thức có chọn lọc: hằng ngày con người thường va chạm đến nhiều
tác nhân kích thích đến tư duy. Dĩ nhiên, người đó không có khả năng phản ứng với tất
cả những tác nhân đã ảnh hưởng mà người đó chỉ sàng lọc một vài tác nhân.
(2) Sự bóp méo có chọn lọc: nghĩa là con người có khuynh hướng biến đổi
thông tin, gán cho nó những ý nghĩ của cá nhân và có khuynh hướng giải thích thông tin
mà họ biến đổi theo hướng ủng hộ những ý tưởng và phán đoán được hình thành ở họ.
(3) Sự ghi nhớ có chọn lọc: con người có khuynh hướng chỉ ghi nhớ lại những
thông tin ủng hộ thái độ và niềm tin của họ.
 Sự hiểu biết
Sự hiểu biết là quá trình biến đổi hành vi của con người dựa vào kinh nghiệm
mà bản thân đã học tập và tích luỹ.
Sự hiểu biết là kết quả của quá trình tác động tương hỗ giữa các hướng dẫn,
kích thích, chỉ bảo, phản ứng và củng cố. Sự hiểu biết giúp con người có thể dễ phân
biệt sau khi mua một nhãn hiệu hàng hóa nào đó, có thể làm thay đổi thái độ đối với
nhãn hiệu đó.
 Niềm tin
Niềm tin là sự nhận định chứa đựng một ý nghĩa cụ thể mà người đó có được
về một cái gì đó.
Khách hàng nói chung có khuynh hướng xây dựng niềm tin của mình gắn với
các nhãn hiệu và niềm tin đó có thể thay đổi qua nhận thức và kinh nghiệm từ việc tiêu
dùng thực sự của họ.
Qua các khái niệm trên, chúng ta đã tiếp cận một cách tương đối về các yếu tố
tác động đến thái độ người tiêu dùng nói chung. Qua đó, ta có thể thấy quyết định thực
hiện một hành vi nào đó của mỗi cá nhân là kết quả của sự tác động qua lại phức tạp của
nhiều yếu tố lên thái độ.
2.4 Mô hình nghiên cứu.
Các khái niệm về thái độ và các yếu tố ảnh hưởng đến thái độ ở trên là cơ sở để ta

Yếu tố
văn hoá
Yếu tố
xã hội
Yếu tố
cá nhân
Yếu tố
tâm lý

Hiểu biết

Cảm tình

Xu hướng hành vi
- Tên Trung tâm.
- Hoạt động đào tạo
- Dịch vụ kèm theo
- Tên của trung tâm
- Sản phẩm của trung
tâm.
- Hãnh diện khi học
tại trung tâm
- Tìm kiếm thông tin
- Hành động bản
thân.
- Tác động đến người
khác.

Thái độ
Trung tâm NIIT

Chương 3
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Giới thiệu.
Sau khi đề cập đến cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu đến chương 3 là chương:
phương pháp nghiên cứu. Nội dung chương này đề cập đến phương pháp, cách thức
tiến hành nghiên cứu bao gồm các nội dung: 3.2 Tổng thể nghiên cứu, 3.3 Thiết kế
nghiên cứu, 3.4 Thang đo.
3.2 Tổng thể nghiên cứu.
Học sinh trung học phổ thông có độ tuổi phổ biến từ 16 đến 18 tuổi, là đối tượng đã
bắt đầu quan tâm đến nghề nghiệp cho tương lai, đa phần họ biết tự tìm hiểu thông tin
về những ngành nghề yêu thích và lựa chọn trường đào tạo phù hợp với điều kiện của
mình.
Từ những thông tin trên sách báo, những nghiên cứu trước liên quan đến học sinh
phổ thông, từ quan sát và hỏi ý kiến của một nhóm học sinh phổ thông trường THPT
Thủ Khoa Nghĩa TX. Châu Đốc, tác giả nhận định: So với những năm 90, học sinh phổ
thông hiện nay phát triển nhanh chóng về thể chất lẫn tinh thần. Họ năng động hơn,
thích thể hiện cá tính riêng, suy nghĩ phong phú và sáng tạo. Đặc biệt họ biết suy nghĩ
đến nghề nghiệp cho tương lai, những giờ học hướng nghiệp trên lớp giúp họ có kiến
thức trong việc lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với năng lực học tập, sở thích, nhu cầu xã
hội, kinh tế gia đình. Tuy nhiên, theo họ thì chương trình hướng nghiệp ở trường chưa
thỏa mãn được nhu cầu tìm kiếm thông tin về nghề nghiệp trong tương lai. Vì thế họ
thích tìm thêm thông tin từ thực tế qua: sách báo, ý kiến của người thân. Do đó, thái độ
của học sinh đối với một trường, một ngành nào đó sẽ chịu ảnh hưởng từ thái độ của
những người cung cấp thông tin cho họ như: thầy cô, người thân, nhà báo… Hiện nay,
có không ít học sinh đã mạnh dạn vào các trường đại học để học dự thính xem ngành đó
có phù hợp với mình hay không, tự mở cửa hàng kinh doanh để thách thức mình, đi làm
bán thời gian… để có thêm kinh nghiệm trong lựa chọn nghề nghiệp.
Theo nghiên cứu “Hành vi chọn ngành thi đại học của học sinh lớp 12” của tác
giả Nguyễn Phi Yến (2006) có tìm hiểu về giai đoạn bắt đầu suy nghĩ đến ngành thi đại
học của học sinh phổ thông ở An Giang. Đây là một dẫn chứng thực tế cho thấy học

Nguồn: Nguyễn Phi Yến (2006).
15
31
49
58
92
36
45
32
35
33
25
30
17
44
27
40
16
1642
43
0 20 40 60 80 100 120 140 160 180
Trường có danh tiếng
Có nhiều ngành nghề
Trường gần nhà
Tỷ lệ chọi thấp
Khả năng tài chính của gia đình
Quan trọng Tương đối quan trọng
Tương đối không quan trọng Không quan trọng
Nghiên cứu thái độ của học sinh phổ thông đối Trung tâm NIIT ANGIMEX
SVTH: Nguyễn Hồng Thảo

Nghiên cứu thái độ của học sinh phổ thông đối Trung tâm NIIT ANGIMEX
SVTH: Nguyễn Hồng Thảo

15Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu.
Quy trình trên được bắt đầu từ xác định vấn đề nghiên cứu. Đây là bước quan trọng
để xác định vấn đề được đưa ra có thực sự cần thiết cho Trung tâm và phù hợp với khả
năng của người nghiên cứu hay không. Để thực hiện bước này, tác giả đã đặt ra các câu
hỏi và tự trả lời để xác định vấn đề nào là thích hợp nhất: Trung tâm thường quan tâm
đến những đối tượng nào? Đối tượng nào sẽ ảnh hưởng lớn đến Trung tâm? Đối tượng
đó ở đâu? Tác giả có thể tiếp xúc với đối tượng nào để quan sát?
Xác định vấn đề
nghiên cứu.
Cơ sở lý thuyết
Mô hình nghiên
c
ứu
.

Dàn bài thảo luận
Thảo luận (n=12)
Phỏng vấn thử.
(n=5)

Hiệu chỉnh.

- Những hành động mà đáp viên có thể thực hiện trong tương lai có liên quan
đến Trung tâm.
- Theo đáp viên thì những yếu tố nào sẽ có ảnh hưởng đến thái độ của học
sinh.
Nội dung của dàn bài thảo luận được trình bày ở phần phụ lục.
Phương pháp chọn mẫu:
Tác giả lấy ý kiến trả lời các câu hỏi trong dàn bài thảo luận bằng cách chọn
mẫu thuận tiện được 7 học sinh phổ thông có biết đến Trung tâm để trao đổi. Địa điểm
chọn đối tượng là thư viện tỉnh An Giang và nhà sinh hoạt ký túc xá Đại học An Giang
là những nơi có học sinh phổ thông đến học và có đủ thời gian cho tác giả trò chuyện.
Ngoài ra tác giả còn hỏi ý kiến của một số người khác: nhân viên trong Trung tâm, sinh
viên trong trường Đại học An Giang có biết đến Trung tâm. Tổng số người mà tác giả đã
cùng thảo luận là: 12 người.
Phương pháp xử lý thông tin:
Sau khi ghi nhận các ý kiến thảo luận sẽ lựa chọn ý kiến nào thuộc các thành
phần của thái độ chuyển thành biến định lượng, lựa chọn thang đo thích hợp để xây
dựng bảng câu hỏi sao cho phù hợp với những học sinh có biết đến Trung tâm nhưng
chưa từng đến Trung tâm xin thông tin từ tư tấn viên vẫn có thể trả lời được các câu hỏi.
3.3.2 Nghiên cứu chính thức.
Nghiên cứu chính thức là nghiên cứu định lượng được chia thành hai giai đoạn
chọn mẫu nghiên cứu: giai đoạn thử nghiệm và giai đoạn chính thức.
 Giai đoạn thử nghiệm.
Sau khi hoàn thành bảng câu hỏi, thì tiến hành phỏng vấn thử để xem phản ứng
của đáp viên với bảng câu hỏi, khả năng trả lời của đáp viên, biến nào chưa hoàn chỉnh
sẽ được chỉnh sửa lại, bổ sung hoặc bỏ bớt các biến.
Cùng với phương pháp chọn mẫu thuận tiện như trên tác giả đã chọn được
khoảng 5 học sinh để phỏng vấn thử. Kết quả phỏng vấn bằng bảng câu hỏi và thăm dò
ý kiến về cách thiết kế bảng câu hỏi thì phần lớn đáp viên có thể trả lời được nội dung


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status