BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
Bộ môn kinh tế thương mại
***
ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG
KINH TẾ THƯƠNG MẠI ĐẠI CƯƠNG
1
Hà nội tháng 2/2006
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
Bộ môn kinh tế thương mại
***
ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG
KINH TẾ THƯƠNG MẠI ĐẠI CƯƠNG
Chủ biên: TS. Ngô Xuân Bình
Những người tham gia biên soạn: TS. Ngô Xuân Bình
TS. Thân Danh Phúc
TS. Hà Văn Sự
2
Hà nội tháng 2/2006
CHƯƠNG 1: CHƯƠNG MỞ ĐẦU
1.1. BẢN CHẤT KINH TẾ CỦA THƯƠNG MẠI
1.1.1. Lịch sử về sự ra đời của thương mại
Thương mại là một phạm trù kinh tế ra đời và tồn tại gắn liền với sự ra đời và tồn
tại của Kinh tế hàng hóa.
Về mặt lịch sử, kinh tế loài người đã trải qua hai quá trình là Kinh tế tự nhiên và
kinh tế hàng hóa. Xã hội loài người bắt đầu bằng kinh tế tự nhiên. Trong nền kinh tế
tự nhiên con người sản xuất ra các sản phẩm với mục đích phục vụ cho nhu cầu của
bản thân họ,vì thế chưa có trao đổi hàng hóa và dịch vụ.
Trao đổi hàng hóa chỉ xuất hiện trong nền kinh tế hàng hóa khi phân công lao
động xã hội đã tương đối phát triển và chế độ tư hữu hình thành. Trong lịch sử phát
thông hàng hóa phát triển ở một trình độ cao hơn.
Như vậy, sự xuất hiện của hoạt động thương mại gắn liền với sự xuất hiện của
thương gia. Về lịch sử, những người thương gia xuất hiện vào cuối chế độ công xã
nguyên thủy và đầu chế độ phong kiến
Những hoạt động thương mại lúc đầu chỉ giới hạn chủ yếu trong lĩnh vực trao đổi
các sản phẩm hữu hình (thương mại hàng hóa ), sau đó được mở rộng sang các sản
phẩm vô hình (thương mại dịch vụ), và trong nền kinh tế hiện đại, thương mại còn
liên quan rất chặt chẽ với các hoạt động đầu tư và sở hữu trí tuệ.
Những người thương gia ngày càng đông trong xã hội như là kết quả tất yếu của
quá trình phân công lao động xã hội ngày càng mở rộng và chuyên sâu . Khi đó, một
bộ phận lao động xã hội tách khỏi sản xuất, độc lập với sản xuất, chuyên làm chức
năng lưu thông làm xuất hiện một ngành kinh tế mới đó là ngành Thương mại.
Ngành thương mại ra đời như là kết quả tất yếu của sự phát triển trao đổi và phân
công lao động xã hội. Phân công lao động lần thứ nhất bằng việc tách chăn nuôi ra
khỏi trồng trọt đã thúc đẩy sự phát triển của trao đổi và tiền tệ xuất hiện trong giai
đoạn này. Phân công lao động lần thứ hai bằng việc tách thủ công nghiệp khỏi nông
nghiệp, sản xuất hàng hóa hình thành. Phân công lao động lần thứ ba với việc tách
riêng chức năng tiêu thụ khỏi chức năng sản xuất, đã làm xuất hiện một ngành kinh tế
chuyên làm chức năng trao đổi, mua bán nhằm vào mục đích kiếm lời trong nền kinh
tế đó là ngành thương mại.
Phân công lao động xã hội vẫn tiếp tục phát triển và tạo ra nhiều ngành mới.
Trong lĩnh vực thương mại, ngoài ngành phân phối là ngành chuyên cung cấp các
dịch vụ mua bán hàng hóa hữu hình gồm bán buôn và bán lẻ, còn có các ngành
thương mại dịch vụ chuyên đảm nhận việc cung ứng dịch vụ cho thị trường thông qua
các hoạt động thương mại vì mục đích lợi nhuận (hiện nay theo phân loại của WTO,
lĩnh vực thương mại dịch vụ được phân thành 12 ngành, trong đó có 155 tiểu ngành
dịch vụ khác nhau).
4
Ngành thương mại ra đời vừa là sự tiến bộ của lịch sử, vừa là điều kiện thúc đẩy
sự phát triển một bước cao hơn nữa của sản xuất hàng hóa. Sản xuất hàng hóa và lưu
5
Dịch vụ thương mại gồm tất cả những hoạt động thương mại ngoài hoạt động
thương mại cơ bản (hoạt động mua và bán ), chúng phát sinh gắn với mua bán, hỗ
trợ cho mua bán được thực hiện nhanh chóng và có hiệu quả.
Hoạt động thương mại được tiến hành theo nguyên tắc tự nguyện, tự thỏa thuận
và cùng có lợi. Vì thế quá trình mua bán vừa là quá trình cạnh tranh vừa là quá trình
hợp tác giữa người bán và người mua.
Thông qua các hoạt động thương mại, người bán đạt được giá trị nhằm mục đích
lợi nhuận, người mua có được giá trị sử dụng để thỏa mãn các nhu cầu tiêu dùng khác
nhau. Chính nhờ hoạt động thương mại mà sản xuất và tiêu dùng nối liền với nhau
trong điều kiện của kinh tế hàng hóa.
b. Thương mại - khâu trao đổi (lưu thông) của quá trình tái sản xuất xã hội
Tái sản xuất xã hội gồm 4 khâu cơ bản: Sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu
dùng. Bốn khâu này có quan hệ mật thiết và tác động qua lại với nhau trong đó mối
quan hệ giữa sản xuất và tiêu dùng là mối quan hệ cơ bản nhất.
Là hình thái phát triển của trao đổi và lưu thông hàng hóa, thương mại được coi
là một khâu cơ bản của tái sản xuất. Thương mại chính là khâu trao đổi nằm trung
gian giữa sản xuất và tiêu dùng. Trong điều kiện xã hội hóa sản xuất và lưu thông
hàng hóa ngày một phát triển, hàng hóa được tạo ra trong khâu sản xuất, sau đó được
chuyển sang khâu lưu thông qua các giai đoạn khác nhau của khâu lưu thông: Mua,
vận chuyển, dự trữ, bán. Kết thúc khâu lưu thông, hàng hóa sẽ được chuyển sang lĩnh
vực tiêu dùng.
Trong điều kiện kinh tế hàng hóa, đại bộ phận các sản phẩm và dịch vụ được sản
xuất ra đều phải trải qua khâu lưu thông, thông qua hoạt động mua bán bằng tiền mới
có thể chuyển sang lĩnh vực tiêu dùng để thỏa mãn nhu cầu khác nhau của xã hội. Vì
thế khâu lưu thông rất quan trọng. Nó là cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng. Nền kinh
tế hàng hóa giống như một cơ thể sống. Trong đó, lưu thông hàng hóa, thương mại
được xem như hệ tuần hoàn. Thương mại phát triển, lưu thông hàng hóa thông suốt là
biểu hiện của nền kinh tế lành mạnh, thịnh vượng.
c. Thương mại - ngành kinh tế
phạm vi biên giới của một quốc gia.
Thương mại Quốc tế bao gồm việc mua bán hàng hóa và dịch vụ qua biên giới
quốc gia có thể ở phạm vi toàn cầu (WTO), có thể ở phạm vi khu vực (EU,
ASEAN ) hoặc thương mại song phương giữa 2 quốc gia. Thương mại quốc tế phản
ánh những mối quan hệ kinh tế thương mại giữa các chủ thể kinh tế của các quốc gia
với nhau. Chúng tuân thủ những luật lệ và những thông lệ buôn bán toàn cầu, khu vực
và các hiệp định thương mại ký kết song phương giữa các quốc gia.
7
Trong hoạt động ngoại thương, xuất khẩu là việc bán hàng hóa và dịch vụ cho
nước ngoài và nhập khẩu là việc mua hàng hóa và dịch vụ của nước ngoài.
Ngoại thương là hoạt động kinh tế đã có từ rất lâu, nhưng ngoại thương chỉ thực
sự phát triển trong thời đại Tư bản chủ nghĩa. Ngày nay toàn cầu hóa kinh tế thế giới
và tự do hóa thương mại là một xu hướng phổ biến, thì sự phát triển ngoại thương hết
sức mạnh mẽ. Ngoại thương không chỉ có ý nghĩa đơn thuần là sự trao đổi buôn bán
với bên ngoài mà thực chất cùng với các quan hệ kinh tế đối ngoại khác ngoại thương
tham gia vào phân công lao động quốc tế.
Thương mại nội địa diễn ra trên thị trường nội địa, ngoại thương là hoạt động
thương mại diễn ra trên thị trường quốc tế. Thị trường thế giới và thị trường nội địa là
những thị trường khác nhau vì vậy thương mại nội địa và ngoại thương được thực
hiện theo những hình thức và phương pháp hoàn toàn không giống nhau.
1.1.3.2. Theo các khâu của quá trình lưu thông
Người ta phân thành Thương mại bán buôn và thương mại bán lẻ.
Thương mại bán buôn chủ yếu xảy ra trong lĩnh vực buôn bán các sản phẩm vật
thể. Chủ thể của hoạt động thương mại bán buôn là những nhà sản xuất và thương gia.
Chúng phản ánh các mối quan hệ kinh tế thương mại giữa những nhà sản xuất, giữa
nhà sản xuất với thương gia và giữa những người thương gia với nhau. Khi hoàn
thành các hoạt động mua bán buôn, hàng hóa vẫn chưa kết thúc quá trình lưu thông,
chúng nằm lại trong khâu sản xuất để sau khi kết thúc sản xuất lại tiếp tục quay trở lại
lưu thông hoặc vẫn nằm trong lưu thông để chờ bán cho người tiêu dùng cuối cùng.
Thương mại bán lẻ: phản ánh mối quan hệ buôn bán hàng hóa và các dịch vụ
Sự phân biệt giữa hai khái niệm này dựa trên sự khác biệt về các phương thức
mua bán trong thương mại. Các phương thức mua bán trong thương mại truyền thống
được xẩy ra trong môi trường tự nhiên ở đó người mua, người bán thường tiếp xúc
trực tiếp trên thị trường dưới nhiều hình thức khác nhau.Trong thương mại truyền
thống người mua người bán gặp gỡ trực tiếp, tiến hành các giao dịch mua bán ở các
chợ, siêu thị, trung tâm thương mại, hội chợ triển lãm thương mại truyền thống đã
có từ rất lâu cùng với sự ra đời của trao đổi .
Ngược lại, thương mại điện tử là một phương thức trao đổi mua bán bằng
phương pháp điện tử trong môi trường điện tử. Thương mại điện tử chỉ xuất hiện
trong xã hội hiện đại. Hiện nay thương mại điện tử đang phát triển rất nhanh chóng
trên toàn thế giới và đó là xu hướng phát triển tất yếu vừa là yếu tố hợp thành của nền
kinh tế số hóa.
Theo định nghĩa phổ biến hiện nay, thương mại điện tử là phương thức hoạt
động thương mại bằng các phương pháp điện tử, là việc trao đổi thông tin thương
mại thông qua các phương tiện công nghệ điện tử mà không cần phải in ra giấy trong
bất cứ công đoạn nào của quá trình giao dịch.
9
Các phương tiện điện tử được sử dụng trong phương thức mua bán này rất đa
dạng: điện thoại, máy fax, truyền hình,các hệ thống thiết bị công nghệ thanh toán điện
tử, các mạng nội bộ (intranet), mạng ngoại bộ (extranet), mạng toàn cầu internet…
Cần lưu ý rằng “Thương mại điện tử” còn được hiểu theo nghĩa rộng hơn so với
cách hiểu thông thường chỉ là buôn bán các hàng hóa và dịch vụ. Trong thực tế, áp
dụng thương mại điện tử sẽ làm thay đổi hình thái hoạt động của gần như tất cả các
hoạt động kinh tế.
Thương mại điện tử sẽ trở thành phương thức thương mại phổ biến trong xã hội
tương lai, tuy nhiên thương mại truyền thống vẫn giữ nguyên giá trị về kinh tế và văn
hóa, nó vẫn tồn tại song song cùng với thương mại điện tử mặc dù kinh tế thị trường
và thương mại thế giới không ngừng mở rộng và phát triển.
1.1.3.5. Phân loại theo mức độ cản trở thương mại
Người ta phân thành thương mại có bảo hộ và thương mại tự do hóa.
Anh sẽ sản xuất được nhiều vải vóc hơn và nước Mỹ cũng sẽ sản xuất được nhiều lúa
mì hơn so với khi hai nước đó còn ở tình trạng tự túc tự cấp. Nước Mỹ sẽ tiến hành
trao đổi một phần lúa mì để đổi lấy một lượng vải vóc của nước Anh. Người ta cũng
chứng minh được rằng cả 2 nước Mỹ và Anh sẽ cùng được hưởng lợi nhờ quan hệ
thương mại với nhau.
1.2.2.Lý thuyết của D. Recardo hay còn gọi là lý thuyết về lợi thế so sánh
Nhược điểm của lý thuyết về lợi thế so sánh tuyệt đối của A. Smith là không lý
giải được hoạt động thương mại khi một trong hai nước có lợi thế tuyệt đối sản xuất
tất cả các mặt hàng. David Ricardo đã phát triển và đưa ra một lý thuyết tổng quát hơn
về thương mại so với lý thuyết của A. Smith đó là Lý thuyết lợi thế so sánh. Lí thuyết
này được trình bày trong tác phẩm “những nguyên lý của kinh tế chính trị học 1817”.
Theo D. Ricardo thương mại giữa 2 nước dựa trên lợi thế tương đối.
Lợi thế tương đối hay còn gọi là lợi thế so sánh đề cập tới việc các quốc gia có
thể sản xuất ra khối lượng các mặt hàng giống nhau khi sử dụng các nguồn lực như
nhau nhưng với chi phí khác nhau.
Do sự không đồng đều về lợi thế tuyệt đối, nếu mỗi nước chuyên môn hóa vào
sản xuất mặt hàng có lợi thế tuyệt đối lớn hơn và dùng một phần để trao đổi với nước
khác bằng mặt hàng có lợi thế tuyệt đối nhỏ hơn thì cả 2 nước sẽ cùng thu được lợi
ích thông qua thương mại.
Ví dụ: Có 2 nước X và Y và cùng có 2 loại hàng dệt may và lúa mì.
a =
Chi phí sản xuất hàng dệt may của nước X
Chi phí sản xuất hàng dệt may của nước Y
11
b =
Chi phí sản xuất lúa mì của nước X
Chi phí sản xuất lúa mì của nước Y
Nếu a < b thì nước X nên chuyên môn hóa vào sản xuất và xuất khẩu hàng dệt
may và ngược lại nước Y chuyên môn hóa vào sản xuất và xuất khẩu lúa mì. Sau quá
trình chuyên môn hóa và thương mại, tổng sản phẩm hàng dệt may và lúa mì mà 2
hưởng của các yếu tố sản xuất tiềm tàng đến thương mại và giải thích các động thái
thương mại xuất phát từ sự khác nhau về mức độ sẵn có của các yếu tố sản xuất.
Một quốc gia sẽ chuyên môn hóa sản xuất và xuất khẩu những mặt hàng mà việc
sản xuất chúng sử dụng nhiều yếu tố sản xuất mà nước đó tương đối dư thừa và rẻ,
đồng thời sẽ nhập khẩu những mặt hàng khi sản xuất chúng đòi hỏi sử dụng nhiều yếu
tố sản xuất mà nước đó tương đối khan hiếm và đắt. Cụ thể một quốc gia tương đối dư
thừa lao động, nhưng lại thiếu vốn sẽ sản xuất và xuất khẩu những mặt hàng cần
nhiều lao động và nhập khẩu những mặt hàng cần nhiều vốn. Heckscher và Ohlin
cũng cho rằng trong trường hợp này, quan hệ thương mại làm lợi cho cả 2 quốc gia
tham gia vào trao đổi
2.3. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU MÔN HỌC
KINH TẾ THƯƠNG MẠI
2.3.1. Đối tượng, nội dung và kết cấu của môn học kinh tế thương mại
Kinh tế thương mại là môn học kinh tế, môn kinh tế ngành.
Giống như kinh tế chính trị học và kinh tế học là những môn khoa học nghiên
cứu các nguyên lý, các quy luật kinh tế chi phối và vận động nền kinh tế quốc dân.
Kinh tế thương mại dựa trên những nguyên lý mà kinh tế chính trị học, kinh tế học đã
phát hiện để đi sâu nghiên cứu các nguyên lý, các quy luật kinh tế nhằm bổ sung và cụ
thể hóa chúng trong lĩnh vực lưu thông hàng hóa và dịch vụ.
Đối tượng nghiên cứu của kinh tế thương mại là tất cả các hiện tượng, các hoạt
động và các mối quan hệ kinh tế trong lĩnh vực buôn bán trong một quốc gia và của
quốc gia đó với bên ngoài.
Các hiện tượng, các hoạt động và các mối quan hệ kinh tế trong buôn bán nội địa
và buôn bán quốc tế luôn vận động theo những quy luật và tính quy luật nhất định.
Kinh tế thương mại nghiên cứu chúng nhằm tìm ra bản chất kinh tế của chúng, cũng
như tìm ra các quy luật chung hoặc tính quy luật vận động của chúng. Trên cơ sở đó
xây dựng cơ sở khoa học cho việc tổ chức và quản lý các hoạt động thương mại phục
vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước.
Các hiện tượng, các hoạt động và các mối quan hệ thương mại một mặt vận động
theo những quy luật chung, phổ biến, tuy nhiên những biểu hiện của chúng trong
cứu những nội dung chủ yếu của quá trình chuyển đổi thương mại từ nền kinh tế kế
hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt
nam từ năm 1986. Phần cuối của học phần sẽ nghiên cứu những vấn đề cốt lõi và đặc
14
thù của kinh tế thương mại Việt nam như: thương mại và thị trường nông thôn, hội
nhập thương mại Việt nam với thế giới và khu vực, kế hoạch hóa thương mại vĩ mô
Khi đề cập đến nội dung của môn học, có thể có rất nhiều những ý kiến khác
nhau. Những nội dung đề cập đến trong giáo trình này trước hết dựa vào chương trình
môn học đã được hội đồng khoa học trường Đại học Thương mại thông qua. Ngoài ra
những người biên soạn cố gắng chú trọng trình bày những vấn đề có tính chất phổ
biến, và những vấn đề đặc trưng nhất, thiết yếu nhất của kinh tế thương mại Việt nam
trong giai đoạn hiện nay.
2.3.3. Phương pháp nghiên cứu môn học và vị trí của môn học Kinh tế thương
mại
Kinh tế thương mại là môn học kinh tế ngành. Là môn khoa học xã hội nên các
phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử được sử dụng nghiên cứu kinh tế
thương mại.
Phương pháp duy vật biện chứng đòi hỏi phải nghiên cứu các sự vật và các hiện
tượng trong sự vận động và trong mối quan hệ tác động qua lại với các hiện tượng và
sự vật khác. Phép biện chứng duy vật coi nguồn gốc của sự phát triển là sự thống nhất
và đấu tranh của các mặt đối lập, và quá trình phát triển không ngừng của các hiện
tượng và sự vật là sự tích lũy những biến đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về
chất.
Trong khi đó, phương pháp duy vật lịch sử đòi hỏi nghiên cứu sự vật, hiện tượng
ở thực tại nhưng có mối liên hệ chặt chẽ với quá khứ, lịch sử của sự vật và hiện tượng
đó. Nhờ vậy mà có thể dự báo được xu hướng vận động và phát triển của sự vật và
hiện tượng trong tương lai.
Thương mại là một hệ thống kinh tế với sự tham gia của nhiều yếu tố cấu thành.
Vì vậy phương pháp tiếp cận hệ thống cũng cần thiết sử dụng làm phương pháp
nghiên cứu môn học.
Trong mọi hình thái kinh tế xã hội còn tồn tại sản xuất và lưu thông hàng hóa
chức năng của thương mại là thực hiện lưu thông hàng hóa và cung ứng dịch vụ
thông qua mua bán bằng tiền.
Tuy nhiên cũng cần phân biệt chức năng thương mại với các tư cách là khâu của
tái sản xuất, hoạt động kinh tế và ngành kinh tế.
Là hoạt động kinh tế thương mại thực hiện chức năng mua bán hàng hóa và các
dịch vụ bằng tiền.
Là một khâu của tái sản xuất thương mại thực hiện chức năng cầu nối giữa sản
xuất với tiêu dùng thông qua trao đổi, đảm bảo thực hiện tái sản xuất nhanh chóng,
hiệu quả trong điều kiện của kinh tế hàng hóa.
Là một ngành kinh tế, thương mại thực hiện chức năng tổ chức lưu thông hàng
hóa và cung ứng dịch vụ, thông qua mua bán để gắn liền sản xuất với thị trường trong
và ngoài nước nhằm thỏa mãn nhu cầu thị trường về hàng hóa và dịch vụ với chi phí
thấp nhất.
2.1.2. Biểu hiện chức năng của thương mại trong lĩnh vực thương mại hàng hóa
Trong thương mại hàng hóa, chức năng của thương mại có thể được chia thành 2
nhóm chức năng cơ bản sau:
2.1.2.1. Chức năng thay đổi hình thái giá trị, thực hiện giá trị
Thương mại có chức năng thay đổi hình thái giá trị từ tiền sang hình thái vật chất
trong hành vi mua (T - H) và ngược lại trong hành vi bán.
17
Cùng với việc thay đổi hình thái giá trị là quá trình chuyển đổi quyền sở hữu về
hàng hóa và tiền tệ. Quyền sở hữu tiền tệ chuyển từ người mua sang người bán và
ngược lại, quyền sở hữu hàng hóa chuyển từ người bán sang người mua.
Nhờ chức năng này của thương mại mà người bán đạt được giá trị nhằm tìm
kiếm lợi nhuận, người mua có được các giá trị sử dụng để thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng
khác nhau của họ.
Để thực hiện được chức năng này, thương mại phải tiến hành hàng loạt những
hoạt động gắn với việc thay đổi hình thái giá trị và chuyển đổi quyền sở hữu như: mua
hàng, bán hàng, xúc tiến thương mại, tiếp thị, quảng cáo
2.1.2.3. Sự phát triển nhận thức về chức năng thương mại hàng hóa trong xã hội
hiện đại
Trong xã hội hiện đại cùng với việc phồn thịnh về kinh tế, nhu cầu của con người
ngày càng gia tăng và đa dạng hơn. Việc thoả mãn những nhu cầu ngày càng tăng và
đa dạng của xã hội làm nảy sinh mâu thuẫn trong phân bổ và sử dụng quĩ thời gian
của con người. Để thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng và đa dạng của con người, đòi
hỏi một mặt phải không ngừng sản xuất ra ngày càng nhiều của cải và dịch vụ , mặt
khác phải tăng quĩ thời gian sử dụng cho cho việc tiêu dùng các của cải và các dịch
vụ. Mâu thuẫn là ở chỗ quĩ thời gian tự nhiên của mỗi con người là một hằng số trong
khi đó xã hội càng phát triển quĩ thời gian dành cho tiêu dùng trong tổng quĩ thời gian
tự nhiên đòi hỏi ngày càng gia tăng.
Để gia tăng thời gian cho tiêu dùng trong điều kiện quĩ thời gian tự nhiên không
đổi thì vấn đề tiết kiệm và sử dung hợp lý quĩ thời gian trong tiêu dùng trở nên rất bức
thiết. Việc mở rộng các dịch vụ bán hàng đặc biệt là các dịch vụ trước, trong và sau
bán hàng như: dịch vụ hoàn thiện sản phẩm , các dịch vụ chuẩn bị sẵn sàng nhất cho
người tiêu dùng và các dịch vụ liên quan đến quá trình tổ chức phục vụ quá trình tiêu
dùng cá nhân nhằm tạo sự thoải mái, thuận tiện, tiết kiệm thời gian cho người tiêu
dùng đang ngày gắn với hoạt động buôn bán và trở thành các hoạt động thuộc chức
năng của thương mại trong xã hội hiện đại.
Kinh tế thị trường hiện đại với các đặc trưng không phải là “khan hiếm” mà “dư
thừa” làm cho cạnh tranh khốc liệt ngày càng buộc các doanh nghiệp thương mại cần
phải nhận thức sâu sắc hơn xu hướng thay đổi này trong chức năng của thương mại.
2.1.3. Biểu hiện các chức năng thương mại trong lĩnh vực dịch vụ
Do những đặc tính riêng biệt của dịch vụ: tính vô hình, sản xuất và tiêu dùng
đồng thời, nên chức năng của thương mại cũng có sự biểu hiện khác so với thương
mại hàng hóa.
Thương mại dịch vụ thực hiện đồng thời cả chức năng sản xuất, chức năng lưu
thông và chức năng tổ chức tiêu dùng các sản phẩm dịch vụ. Nghĩa là trong thương
mại dịch vụ các doanh nghiệp không chỉ thuần túy thực hiện việc mua bán, ngoài việc
thực hiện chức năng thương mại nó còn đồng thời thực hiện chức năng sản xuất ra các
dịch vụ đa dạng trong nhiều ngành dịch vụ vì mục tiêu lợi nhuận. Đó là lĩnh vực rất
rộng, bao gồm nhiều ngành quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Ngành thương mại
20
thông qua hoạt động mua bán hàng hóa và dịch vụ với mục đích lợi nhuận có liên
quan và tác động to lớn tới nhiều ngành, nhiều lĩnh vực đa dạng của nền kinh tế.
Thứ tư: Thương mại còn được xem như một hệ thống kinh tế.
Thương mại là một tập hợp các yếu tố có mối liên hệ qua lại thực hiện việc trao
đổi mua bán hàng hóa và các dịch vụ thông qua tiền tệ vì lợi nhuận. Hệ thống thương
mại được hình thành bởi 2 hệ thống con là cung và cầu. Các hệ thống này hoạt động
và liên hệ với nhau qua hoạt động của người mua, người bán trên thị trường. Đó là
một hệ thống kinh tế mở với môi trường kinh tế, chính trị, luật pháp, công nghệ, xã
hội và môi trường tự nhiên bên ngoài.
Thương mại một mặt chịu sự chi phối của các yếu tố môi trường nói trên, những
yếu tố này có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của thương mại nhưng ngược
lại thương mại cũng tác động trở lại làm biến đổi những yếu tố môi trường.
Vì thế tác động thương mại không chỉ thuần túy mang tính chất kinh tế, thương mại
còn có tác động mang tính chất xã hội, chính trị, pháp luật, công nghệ và ảnh hưởng
mật thiết với môi trường tự nhiên.
2.2.2. Phân loại tác động của thương mại
Tác động của thương mại rất phức tạp và đa chiều. Chúng ta có thể phân loại tác
động thương mại trên một số tiêu chí cơ bản sau:
2.2.2.1. Theo xu hướng ảnh hưởng của tác động
Tác động của thương mại được phân thành các tác động tích cực và tác động
tiêu cực.
Những tác động của thương mại mà kết quả của ảnh hưởng có thể là những lợi
ích (vật chất hoặc tinh thần) hoặc tạo ra sự thúc đẩy vận động của các quá trình kinh
tế-xã hội theo chiều hướng tiến bộ. Đó là những tác động tích cực.
Ngược lại những tác động của thương mại mà kết quả mang lại là những tổn thất
(về vật chất và tinh thần) hay tạo ra xu hướng kìm hãm, đẩy lùi sự vận động của các
quá trình kinh tế - xã hội được coi là những tác động tiêu cực.
thực vật, động vật ), các yếu tố hạ tầng (giao thông vận tải, hệ thống thông tin,
truyền thông )
Con người càng ngày càng nhận thức sự cần thiết và quan trọng của sự phát triển
bền vững. Vì vậy nghiên cứu các tác động thương mại cần xem xét toàn diện không
chỉ ảnh hưởng về kinh tế mà cả những khía cạnh tác động thương mại về xã hội, môi
trường cũng ngày càng được chú trọng trong việc hoạch định chiến lược và chính
sách thương mại phát triển của các quốc gia.
2.2.2.4. Các cách phân loại khác
22
Ngoài các cách phân loại cơ bản trên, người ta còn có thể phân loại tác động
thương mại theo nhiều tiêu thức khác như:
Tác động trực tiếp hoặc gián tiếp, tác động có thể lượng hóa được (đo lường
được) và những tác động khó đo lường được (nhiều tác động thương mại có thể cảm
nhận được bằng định tính song rất khó định lượng).
Một số tác động thương mại mà hậu quả của nó có thể khắc phục được dễ dàng,
nhưng cũng có nhiều tác động mà hậu quả lại có thể là vĩnh viễn không khắc phục
được hoặc nếu sửa chữa được thì phải tốn kém nhiều tiền của, sức lực và thời gian.
2.2.3. ý nghĩa của việc nghiên cứu những tác động của thương mại
Nghiên cứu những tác động của thương mại rất quan trọng, nó không chỉ giúp
cho việc thúc đẩy hoạt động thương mại ở phạm vi doanh nghiệp đạt được những mục
tiêu kinh doanh mà còn có tầm quan trọng đối với việc quản lý hoạt động thương mại
ở phạm vi vi mô một cách có kết quả và hiệu quả, góp phần đảm bảo hiệu quả kinh tế
xã hội của thương mại cũng như đáp ứng những đòi hỏi của sự phát triển kinh tế bền
vững.
2.3. NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA THƯƠNG MẠI VỀ KINH TẾ, XÃ HỘI VÀ MÔI
TRƯỜNG
2.3.1. Những tác động kinh tế của thương mại
2.3.1.1. Thương mại với tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế là mức tăng lượng của cải vật chất của cải của một quốc gia
trong một thời kỳ nhất định. Mức gia tăng của cải có thể được tính bằng hiện vật hoặc
diện: cơ cấu lãnh thổ, cơ cấu ngành và cơ cấu thành phần của nền kinh tế.
Thương mại có thể tác động làm thay đổi cơ cấu thành phần kinh tế theo hướng
đa dạng hóa thành phần kinh tế, thay đổi vai trò của các thành phần kinh tế xu hướng
biến đổi có thể không giống nhau trong các nền kinh tế. ở Việt nam sự biến đổi theo
xu hướng xuất hiện nhiều thành phần kinh tế, kinh tế tư nhân, kinh tế vốn đầu tư nước
ngoài ngày càng chiếm tỷ trọng gia tăng vai trò ngày càng lớn trong nền kinh tế quốc
dân.
Thương mại có thể tác động làm biến đổi cơ cấu lãnh thổ của nền kinh tế theo xu
hướng làm xuất hiện những vùng kinh tế trọng điểm, các vùng kinh tế đặc biệt có tác
động lớn tới nền kinh tế, làm thay đổi cơ cấu kinh tế thành thị, nông thôn, kích thích
phát triển kinh tế của các vùng núi, vùng sâu, vùng xa, vùng kinh tế biên giới
Thương mại có thể tác động làm biến đổi cơ cấu kinh tế ngành của nền kinh tế.
Xu hướng chung tác động thương mại là kích thích phát triển những ngành kinh tế có
lợi thế so sánh, kích thích phát triển các ngành dịch vụ đặc biệt là các ngành dịch vụ
hạ tầng của nền kinh tế như: vận tải, viễn thông, ngân hàng và các ngành dịch vụ
đáp ứng nhu cầu nâng cao chất lượng cuộc sống: y tế, giáo dục, thể thao, giải trí, du
lịch Nhờ vậy mà làm biến đổi cơ cấu khu vực sản xuất và lĩnh vực dịch vụ theo
24
hướng tăng tỷ trọng ngành dịch vụ và công nghiệp, giảm dần tỷ trọng nông, lâm, ngư
nghiệp.
2.3.1.3. Thương mại với cán cân thanh toán quốc gia
Cán cân thanh toán quốc gia là một bảng cân đối hay một bản báo cáo thống kê
tổng kết tất cả các giao dịch tài chính với nước ngoài mà một quốc gia tham gia trong
1 thời gian nào đó. Cán cân thanh toán quốc gia mô tả mối quan hệ giữa 2 luồng thanh
toán vận hành liên tục một vào và một ra mà một đất nước phải có.
Cán cân thương mại là một bộ phận rất quan trọng của cán cân thanh toán quốc
gia. Đó là mức chênh lệch của giá trị xuất khẩu và nhập khẩu các hàng hóa và các
dịch vụ và giá trị nhập khẩu của chúng trong một thời kỳ nhất định.
Nếu giá trị xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ của 1 quốc gia lớn hơn so với giá trị
nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ thì cán cân thương mại dương (hay thặng dư). Điều đó