LUẬN VĂN: Đảng phát Động và lãnh đạo các cao trào cách mạng (1939-1945) - Pdf 12



LUẬN VĂN:
Đảng phát Động và lãnh đạo
các cao trào cách mạng (1939-1945)

Lời nói đầu
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và bè lũ tay sai, đã nổi lên
nhiều cao trào cách mạng nhưng hầu hết đều thất bại do nhiều ngyên nhân khách
quan và chủ quan. Chỉ có cuộc cách mạng tháng tám (1945) là mang lại chiến thắng
lịch sử cho dân tộc ta nó đánh dấu một bước ngoặt lịch sử cho cách mạng Việt
Nam. chấm dứt một thời kỳ đen tối và mở ra một trang sử mới cho cách mạng Việt
Nam.
Thắng lợi của cách mạng tháng tám có một phần không nhỏ công lao của bè
bạn quốc tế và sự lãnh đạo tài tình của đảng biết tận dụng đúng thời cơ đặc biệt là
công lao to lớn của lãnh tụ Nguyễn ái Quốc. Thắng lợi này là do sự kết hợp giữa

có Việt Nam,điều này gây ảnh hưởng mạnh mẽ đến xã hội nước ta.Làm xã hội nước
ta càng trở nên phân hoá sâu sắc hơn, mâu thuẫn trong xã hội càng trở nên gay gắt
Ngày 1-9-1858 thực đân Pháp nổ súng xâm lược nước ta.Từ khi thực đân Pháp
xâm lược, chúng tăng cường khai thác tài nguyên và bóc lột nhân dân ta: Nhiều
ngành sản xuất trì trệ, hàng vạn công nhân bị sa thải, sản xuất nông nghiệp bị đình
đốn, hàng vạn ha ruộng đất bị bỏ hoang, tiểu thương, tiểu thủ buôn bán bị thua lỗ,
công chức bị mất việc, học sinh, sinh viên ra trường không có việc làm. Đời sống
của mọi tầng lớp nhân dân bị đe doạ nghiêm trọng. Sự tăng cường bóc lột thuộc địa,
khủng hoảng kinh tế và chính sách khủng bố của bọn thực dân, phong kiến tràn
lan.Nhân dân ta đã liên tiếp nổi dậy cầm vũ khí chống bọn cướp nước. Nhưng tất cả
những cuộc đấu tranh đó đều không giành được thắng lợi. Năm 1911, Nguyên ái
Quốc đã ra đi tìm đường cứu nước. Đến tháng 7-1920, Người đọc được bản sơ thảo
lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lê-nin,
người đã rất xúc động và nhận ra rằng : ” đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là
con đường giải phóng cho chúng ta “.
Ngày 3-2-1930, đảng cộng sản Việt Nam ra đời, mở ra một thời kỳ mới cho cách
mạng việt nam,thời kỳ đứng lên dành chính quyền giải phóng dân tộc làm chủ đất
nước.
Sự ra đời của đảng cộng sản việt nam là kết quả tất yếu của cuộc đấu tranh dân
tộc và giai cấp ở nước ta trong thời đại mới,là sản phẩm của sự kết hợp giữa chủ
nghĩa Mác –Lênin và phong trào yêu nước và phong trào công nhân ở Việt Nam
trong những năm 20 của thế kỷ này.
Sự ra đời của đảng cộng sản Việt Nam “chứng tỏ rằng giai cấp vô sản nước ta đã
trưởng thành,đủ sức lãnh đạo cách mạng”.Đó là cái mốc đánh dấu sự chuyển biến
của giai cấp công nhân Việt Nam từ trình độ tự phát sang trình độ tự giác.Đó còn là
cái mốc đánh dấu bước ngoặt trong đại lịch sử cách mạng nước ta.Cuộc khủng
hoảng về đường lối cứu nước ởnước ta kéo dài trong mấy thập kỷ đã được giải

huyện nam đàn ngày 30-8-1930, của 20.000 nông dân Thanh Chương ngày 1-9-
1930, của 3.000 nông dân huyện Can Lộc ngày 7-9-1930. Phần lớn những cuộc
biểu tình này là những cuộc đấu tranh chính trị có vũ trang tự vệ, quần chúng phá
huyện đường, đốt giấy tờ, phá nhà giam, bẻ gông, xiềng xích, giải phóng những
người bị bắt.Trước khí thế đấu tranh mạnh mẽ của quần chúng, bọn thực dân phong
kiến hoảng sợ, nhiều tên tri huyện, lý tưởng phải nộp ấn tín hoặc chạy trốn, nhiều
nơi chính quyền địch tan rã.
Ngày 18 –11 – 1930, giữa lúc cao trào cách mạng của quần chúng đã đến
đỉnh cao nhất , Xô Viết Nghệ Tĩnh ra đời, cuộc đấu tranh giữa cách mạng và phản
cách mạng trở nên quyết liệt,
Cùng với những điều kiện chung của cao trào cách mạng 1930-1931, Nghệ
Tĩnh còn có những đặc điểm riêng tạo nên đỉnh cao của cao trào cách mạng. Nhân
dân Nghệ Tĩnh có truyền thống cách mạng lâu đời.
Trong cao trào cách mạng 1930-1931, nhiều chi bộ của đông dương cộng
sản đảng và các tổ chức quần chúng như: nông hội, công hội, đã phát triển, cơ sở
đảng khá mạnh, lực lượng đảng viên tương đối đông. Tổng số đảng viên của Đảng
bộ Nghệ An, Hà Tĩnh, Vinh-Bến Thuỷ những năm 1930-1931 là 2.010 người, có
399 hội viên hội phụ nữ giải phóng và 2.356 đoàn viên đoàn thanh niên cộng sản.
Dưới sự lãnh đạo của đảng các xã bộ nông thôn, bộ nông ra đời và làm
nhiệm vụ chính quyền cách mạng. Đó là hình thức chính quyền cách mạng đầu tiên
ở nước ta, được gọi là các Xô Viết.
Để đối phó với cao trào cách mạng 1930-1931,đặc biệt là đối phó vỡi Xô
Viết Nghệ Tĩnh , bọn thực dân pháp và quan lại Nam Triều đã tập trung tòan
lực.Chúng giết sạch ,đốt sạch nhưng nhân dân ta không chùn bước, những người
cộng sản chôn cất những đồng chí đã ngã xuống, lau sạch vết máu trên thân mình,
tiếp tục đi vào quần chúng vận động họ để xây dựng lại cơ sở. Nhiều chiến sĩ cộng
sản phải vào tù , nhưng họ đã biến nhà tù thành trường học giữ vững ý chí, hun đúc

chúng rộng rãi, tập hợp được nhiều tầng lớp, giai cấp trong nhân dân ở mọi miền tổ
quốc. Nội dung và hình thức đấu tranh của quần chúng phong phú đấu tranh ngoai
đường phố, trong nghị trường, trên báo chí, trên mặt trân tư tưởng Cao trào mặt
trận dân chủ 1936-1939 là vận động quần chúng rộng lớn và sôi nổi của đảng chưa
từng thấy dưới thời Pháp thống trị. Đảng đã động viên và giáo dục chính trị cho
hàng triệu quần chúng, mà đông đảo là công nông trong cuộc đấu tranh chính trị
rộng khắp thành thị và nông thôn, từ nhà máy, hầm mỏ đồn điền đến các làng mạc
xa xôi ở nông thôn và miền núi. Đây là cuộc tổng diễn tập lần thứ hai cho cuộc cách
mạng tháng tám 1945 lực lượng cách mạng đẫ phát triển nhanh chóng đội ngũ cán
bộ của đảng thêm đông đảo, tích luỹ thêm nhiều kinh nghiệm mới: Kinh nghiẹm về
sử dụng, kết hợp các hình thức tổ chức và đấu tranh công khai và bí mật, đấu tranh
kinh tế với chính trị, văn hoá tư tưởng kết hợp tuyên truyền và tổ chức đấu tranh
giành thắng lợi trong từng cuộc chiến đấu, từng trận tuyến cách mạng, tích luỹ lực
lượng để tiến lên. Cao trào đã xây dựng được đội quân chính trị to lớn cho cách
mạng, bao gồm hàng triệu quần chúng công nông và gới trí thức. Thắng lợi đã tạo
ra lực lượng mới và mặt trận mới cho cao trào cứu nước ,giải phóng dân tộc . Đảng
coi trọng tổng kết kinh nghiệm thực tiễn đấu tranh cách mạng, rút ra vấn đề chiến
lược, sách lược về xây dựng đảng, về công tác vận động quần chúng, xây dựng mặt
trận thống nhất, phê bình những quan điểm chủ trương không đúng với đường lối,
chính sách của đảng, kiên quyết chống lại đướng lối chính trị của bọn tơrốtkít . Giữ
vững vai trò lãnh đạo của đảng, đội ngũ cán bộ đảng viên phát triển mạnh , đào tào
rèn luyện qua thực tiễn đấu tranh cách mạng . uy tín và ảnh hưởng của đảng đối với
quần chúng được nâng cao, thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân theo đảng theo
cách mạng.

sách nhằm phát xít hoá bộ máy thống trị của thực dân Pháp, vơ vét sức người sức
của Việt Nam dốc vào cuộc chiến tranh đế quốc và đối phó với phong trào cách
mạng của các dân tộc ở Đông Dương.
Trong khi đó, phát xít Nhật tăng cường sức ép với chính quyền thực dân
Pháp ở Đông Dương. Chúng đòi đóng cửa biên giới Việt Trung, đình chỉ tiếp tế cho
Tưởng Giới Thạch, được sử dụng sân bay, hải cảng ở Bắc Đông Dương Mặc dù
thực dân Pháp chấp nhận mọi yêu sách của Nhật, cuối tháng 9-1940, quân đội Nhật
vẫn vượt biên giới vào Bắc Việt Nam. Chúng biến Việt Nam thành căn cứ quân sự
để tiến công Nam Trung Quốc và làm bàn đạp mở rộng xâm lược khu vực Đông
Nam á. Phát xít Nhật giữ nguyên bộ máy thống trị của thực dân Pháp, sử dụng nó
để vơ vét kinh tế, phục vụ nhu cầu chiến tranh và đàn áp phong trào cách mạng
Đông Dương, ổn định tình hình trong vùng cho chúng.
Trên thực tế, Việt Nam đã bị đặt dưới hai ách thống trị của Pháp.
2. tình hình trong nước và khu vực.
Khi ở pháp, các thế lực phat xít lên nắm chính quyền , chúng đưa pháp và
các thuộc địa vào cuộc chiến tranh và Việt Nam cũng bị lôi cuốn vào cuộc chiến
tranh này. Chúng thực hiện các chính sách về kinh tế , chính trị và quân sự để vơ
vét bóc lột tài nguyên nhân lực của nước ta , chúng định tiêu diệt đảng cộng sản
Đông Dương, chúng bắt thanh niên Đông Dương đi lính cho chúng. Trong thời kỳ
đó xúât hiện mâu thuẫn giữa nhân dân Đông Dương với đế quốc Pháp và tay sai,
đây là cơ sở lý luận của đảng ta quyết định điều chỉnh chiến lược cách mạng.
II.Chủ trương điều chỉnh chiến lược cách mạng của Đảng cộng sản Đông Dương.
1.Thông cáo TW của toàn đảng ra ngày 29-9-1939.
- TW chỉ thị cho các cán bộ đảng viên của đảng cộng sản đang hoạt động
hợp pháp phải mau chóng rút vào bí mật.
- Quyết định chuyển trọng tâm hoạt động của đảng đến nông thôn nhưng
vẫn phải chú trọng xây dựng, phát triển lực lượng ở thành phố.

phải bao gồm hai nội dung là chống đế quốc và chống phong kiến. Đó là hai nhiệm
vụ cơ bản của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ( lúc đó gọi là cách mạng tư
sản dân quyền ) do giai cấp công nhân lãnh đạo.
Cách mạng phản đế và cách mạng điền địa là hai bộ phận khăng khít, là hai cái
mấu chốt của cách mạng tư sản dân quyền, không giải quyết được cách mạng điền
địa thì không giải quyết được cách mạng phản đế. Trái lại, không giải quyết được
cách mạng phản đế thì không giải quyết được cách mạng điền địa – cái nguyên tắc
chính ấy không bao giờ thay đổi được nhưng nó phải ứng dụng một cách khéo léo
thế nào để thực hiện được nhiệm vụ chính cốt của cách mạng là đánh đổ đé quốc.
Đảng nhấn mạnh : “Tất cả mọi vấn đề của cách mạng, kể cả vấn đề điền địa cũng
phải nhằm vào cái đích ấy mà giải quyết”. Đây là chuyển hướng quan trọng nhất về
chỉ đạo chiến lược.
Để tập trung lực lượng đánh đổ đế quốc, đảng chủ trương tạm gác khẩu hiệu
cách mạng ruộng đất mà thay bằng khẩu hiệu tịch ký ruộng đất của đế quốc Pháp và
của những địa chủ phản bội quyền lợi đân tộc, chưa đánh vào toàn bộ giai cấp địa
chủ phong kiến. Đảng chủ trương tạm gác khẩu hiệu lập chính quyền Xô Viết công-
nông-binh thay khẩu hiệu lập chính phủ cộng hoà dân chủ. Đảng chỉ ra rằng, Mặt
trận dân chủ thích hợp với hoàn cảnh trước kia nay không còn thích hợp nữa, do đó
chủ trương lập mặt trận dân tộc thống nhất phản đế Đông Dương thay Mặt trận
dân chủ Đông Dương.
Hội nghị TW Đảng tháng 11-1939 đánh dấu sự chuyển hướng cơ bản về chỉ
đạo chiến lược và phương pháp cách mạng của Đảng. Điều đó thể hiện sự nhạy bén
về chính trị và năng lực sáng tạo của Đảng. Được hướng dẫn bởi tư tưởng đó,
phong trào cách mạng Việt Nam có những bước tiến mới.
3. Hội nghị TW lần thứ VII (11.1940)
Hội nghị TW lần thứ VII 11-1940, diễn ra ở Đìng Bảng, Bắc Ninh do đồng chí
Trường Chinh lúc đó là bí thư Đảng uỷ Bắc Kì đứng ra tổ chức.

càng chứng minh luận điểm trên là đúng.
- Đoàn kết rộng rãi lực lượng của toàn dân tộc vào trận tuyến đấu tranh
chống đế quốc là nhiệm vụ cốt yếu của đảng, là trách nhiệm lịch sử của giai cấp
công nhân.
Đảng chủ trương “công, nông phải đưa cao cây cờ dân tộc lên”,vì quyền lợi
sinh tồn của toàn đân tộc mà sẵn sàng bắt tay với tiểu tư sản và các tầng lớp tư bản
bản xứ, trung, tiểu địa chủ còn căm tức đế quốc, vì sự căm tức ấy có thể làm cho họ
có ít nhiều tinh thần chống đế quốc.
Đảng chủ trương dùng chữ “cứu quốc” thay chữ “phản đế”. Các tổ chức
quần chúng đều lấy tên cứu quốc: nông dân cứu quốc, nhi đồng cứu quốc, phụ nữ
cứu quốc
Trong công tác tuyên truyền, Đảng chủ trương khêu gợi tinh thần yêu nước
của nhân dân.
- Vấn đề dân tộc trước hết phải được giải quyết trong phạm vi từng nước trên
nguyên tắc tôn trọng tự nguyện dân tộc, tự quyết dân tộc.
Trước đây vấn đề dân tộc được Đảng ta đặt ra trong phạm vi toàn Đông
Dương, (Đảng Cộng Sản Đông Dương, mặt trận phản đế Đông Dương, mặt trận dân
chủ Đông Dương, chính phủ Cộng Hoà dân chủ Đông Dương), song hội nghị ban
chấp hành TW lần thứ VIII chỉ đặt vấn đề đó trong khuân khổ mỗi nước Việt Nam,
Lào, Campuchia nhằm phát huy cao độ tinh thần độc lập, tự cường của mỗi dân tộc
đồng thời cũng không ngừng tăng cường tình đoàn kết chiến đấu chống kẻ thù
chung của các đân tộc trên bán đảo Đông Dương.
Đảng ta cho rằng, phải vận dụng một phương pháp hiệu triệu hết sức thống
thiết, làm sao đánh thức được tinh thần dân tộc xưa nay trong nhân dân. Cho nên,
mặt trân của ta phải đổi ra cái tên khác cho có tinh thần dân tộc hơn, có một mãnh
lực để hiệu triệu hơn và nhất là có thể thực hiện được trong tình thế hiện tại.
Theo đề nghị của đồng chí Nguyễn ái Quốc, hội nghị ban chấp hành TW lần

chống đế quốc. Đường lối đó có ý nghĩa quyết định trong việc vân động toàn Đảng,
toàn dân chuẩn bị cho cuộc tổng khởi nghĩa tháng Tám sau này.
III. công tác chuẩn bị cuộc tổng khởi nghĩa khởi nghĩa. Thực hiện nghị quyết hội
nghị Trung ương lần VIII của đảng.
Cuối năm 1942 tình hình trong nước có nhiều biến động. Đông Dương mâu
thuẫn Pháp Nhật phát triển sâu sắc , bọn quân Phiệt Nhật ngày càng lấn át quân
Pháp. trước tình hình đó từ ngày 25 đến 28-2-1943 ban thường vụ Trung ương họp
ở Võng Lai-Đông Anh- Hà Nội . Hội nghị Trung ương chủ trương mở rộng mặt
trận để đoàn kết mọi lực lượng có thể đoàn kết , tranh thủ mọi khả năng chống phát
xít Nhật – Pháp . ban thường vụ Trung ương chủ trương đẩy mạnh phong trào phát
triển ở thành thị ,trước hết là phong trào công nhân . mùa thu năm 1944 đảng uốn
nắn lao động ở Võ Nhai và không cho phép liên tỉnh Cao-Bắc–Lạng phát động
chiến tranh du kích . Trong thư gửi đồng bào cả nước 10-1944 đồng chí Nguyễn ái
Quốc chỉ rõ phe xâm lược gần đến ngày bị tiêu giệt .Cơ hội cho nhân dân ta giải
phóng chỉ trong một năm hoặc một năm rưỡi nữa . Thời gian gấp rút ta phải lam
nhanh , bởi vậy đồng chí Nguyễn ái Quốc chủ trương cùng với đấu tranh chính trị
,phải đẩy mạnh đấu tranh quân sự với quy mô thích hợp .
1.đảng đẩy mạnh xây dựng lực lượng chính trị quần chúng.
Nêu cao ngọn cờ cứu quốc, Đảng vận động xây dựng lực lượng quần chúng,
tổ chức các đoàn thể cứu quốc ở cả nông thôn và đô thị, trên cơ sở đó xây dựng Mặt
trận Việt minh các cấp trong cả nước. Ngày 25 tháng 10 năm 1941 Mặt trận Việt
minh tuyên bố ra đời.
Việt minh đã công bố 10 chính sách vừa ích nước vừa lợi dân. Từ đầu nguồn
cách mạng Pắc Bó, Việt minh đã lan toả ra khắp nông thôn, thành thị, có hệ thống
từ Trung ương đến cơ sở. Một số tổ chức chính trị yêu nước ra đời, và tham gia làm
thành viên Mặt trận Việt minh như Đảng dân chủ Việt Nam ( tháng 6-1944 ). Lực
lượng chính trị quần chúng ngày càng đông đảo và được rèn luyện trong đấu tranh

quan điểm nhận thức tư tưởng đối với đường lối mới của Đảng, củng cố hạt nhân
lãnh đao, chuẩn bị cho Đảng sẵn sàng tiến lên đảm nhiệm sứ mệnh lãng đạo và tổ
chức cuộc tổng khởi nghĩa. Đảng đã tranh thủ tăng cường đội ngũ cán bộ, đảng viên
của mình bằng cách bí mật tổ chức một số cán bộ Đảng viên bị giam trong các nhà
tù vượt ngục trở về địa phương hoạt động và quyết định kết nạp Đảng viên “lớp
Hoàng Văn Thụ”. Nhiều người ưu tú trong phong trào Việt minh đã được kết nạp
vào Đảng.
5.Chuẩn bị triệu tập Quốc dân đại hội, chờ đón thời cơ.
Công cuộc chuẩn bị lực lượng đang diễn ra rất tích cực. Tình hình thời cuộc
thế giới lúc này cũng rất khẩn trương. Giữa lúc đó, tháng 10 năm 1944 Hồ Chí
Minh gửi thư cho đồng bào toàn quốc, thông báo chủ trương của Đảng về việc triệu
tập đại hội đại biểu quốc dân và nhấn mạnh: “phe xâm lược gần đến ngày bị tiêu
diệt. Các đồng minh quốc tế sắp tranh được sự thắng lợi cuối cùng. Cơ hội cho dân
tộc ta giải phóng chỉ ở trong một năm hoặc một năm rưỡi nữa. Thời gian rất gấp ta
phải làm nhanh”.
Chương III :
Cách mạng tháng tám nổ ra và thắng lợi
1.hoàn cảnh dẫn tới cuộc tổng khởi nghĩa
Cuối năm 1944, đầu năm 1945, chiến tranh thế giới thứ hai bước vào giai đoạn
kết thúc. Quân đội Liên Xô mở cuộc tấn công về phía Béclin, lần lượt giải phóng
các nước Trung, Đông âu.
Quân Anh-Mĩ đổ bộ lên đất Pháp, mở mặt trận mới đánh phát xít Đức. Tháng
8-1944, Pháp được giải phóng. Tướng ĐờGôn lên cầm quyền.
ở mặt trận Châu á-Thái Bình Dương, phát xít Nhật bị thua ở nhiều nơi.

đấu tranh, tập dượt quần chúng tiến lên khởi nghĩa giành chính quyền. Đẩy mạnh
tuyên truyền xung phong có vũ trang, đánh vào các kho thóc của Nhật đẻ giả quyết
nạn đói, đẩy mạnh xây dựng các đội tự vệ cứu quốc, bộ đội du kích, thành lập căn
cứ địa cách mạng, phát động chiến tranh du kích ở những nơi có điều kiện. Phát
động chiến tranh du kích, giải phóng từng vùng, mở rộng căn cứ địa là phương
pháp duy nhất của dân tộc để đóng vai trò chủ động trong việc đánh đuổi quân
Nhật ra khỏi nước ta và sẵn sàng chuyển sang hình thức khởi nhĩa khi có đủ điều
kiện.
Ban thường vụ TW dự kiến điều kiện để có thể thực hiện tổng khởi nghĩa là: khi
quân Đồng minh kéo vào Đông Dương đánh Nhật đã bám chắc, tiến sâu trên đất
nước ta và quân Nhật đã kéo ra mặt trận ngăn cản quân Đồng minh để phía sau sơ
hở. Cũng có thể là cách mạng Nhật bùng nổ và chính quyền cách mạng của nhân
dân Nhật được thành lập, hoặc Nhật bị mất nước như Pháp năm 1940 và quân đội
viễn chinh Nhật mất tinh thần. Ban thường vụ TW nhắc nhở là dù sao, ta cũng
không được ỷ lại và tự bó tay mình trong khi tình thế chuyển biến thận lợi, mà phải
nêu cao tinh thần tích cực chủ động, dựa vào sức mình là chính.
Từ giữa tháng 3-1945 trở đi, cao trào kháng Nhật cứu nước diễn ra mạnh mẽ,
phong phú về nội dung và hình thức, kết hợp chặt chẽ, linh hoạt đấu tranh chính trị
của quần chúng với đấu tranh vũ trang, tiến hành chiến tranh du kích cục bộ, khởi
nghĩa từng phần, giành chính quyền bộ phận, thành lập căn cứ địa và khu giải
phóng, nhanh chóng phát triển lực lượng về mọi mặt, gấp rút chuẩn bị để chớp thởi
cơ tiến lên tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước.
Phong trào đấu tranh vũ trang, khởi nghĩa từng phần đã diễn ra nhiều ở vùng
miền thượng du và trung du. Các lực lượng vũ trang gồm Việt Nam tuyên truyền
giải phóng quân, Cứu quốc quân và các đội vũ trang cứu quốc ở địa phương đã phối
hợp với quần chúng giải phóng đưọc hàng loạt xã, châu, huyện thuộc các tỉnh Cao
Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang. Cuộc khởi nghĩa đã diễn ra

sai mất tinh thần. Quần chúng cách mạng đã sẵn sàng nổi dậy giành chính quyền.
Tình thế cách mạng trực tiếp đã xuát hiện. Đảng cộng sản đã chuẩn bị và quyết tâm
phất động tổ chức toàn dân tiến hành tổng khởi nghĩa giành lấy chính quyền từ tay
Nhật và đứng ở địa vị người chủ đất nước để tiếp quân đồng minh vào giải giáp
quân Nhật.
Chủ trương, phương châm lãnh đạo tổng khởi nghĩa được thể hiện rõ trong
Nghị quyết của Hội nghị toàn quốc của Đảng cộng sản Đông Dương họp ở Tân
Trào ngày 13-15/8/1945. Nghị quyết khẳng địng cơ hội tốt cho ta giành độc lập
dân tộc đã tới. Tình thế vô cùng khẩn cấp đòi hỏi phải:Tập trung lực lượng vào
những việc chính; thống nhất mọi phương diện quân sự, chính trị, hành động và chỉ
huy, kịp thời hành động không bỏ lỡ cơ hội. Khẩu hiệu đấu tranh lớn là: phản đối
xâm lược! Hoàn toàn độc lập! Chính quyền nhân dân! phương châm hành động là
phải đánh chiếm ngay những nơi chắc thắng không kể thành phố hay nông thôn,
quân sự và chính trị phải phối hợp, làm tan rã tinh thần quân địch và dụ chúng hàng
trước khi đánh. Phải chộp lấy những căn cứ chính (cả các đô thị) trước khi quân
Đồng minh vào, thành lập ngay các uỷ ban nhân dân ở những nơi giành được chính
quyền.
Hội nghị toàn quốc của Đảng còn đề ra những chủ trương chính sách đối nội,
đối ngoại cần được thi hành sau khi ta đã giành được chính quuyền
Ngày 16 và 17-8-1945, Đại hội đại biểu quốc dân họp ở Tân Trào, tham gia
Đại hội có hơn 60 đai biểu Bắc, Trung, Nam, đại biểu Việt kiều, đại biểu các đảng
phái, các đoàn thể quần chúng, các dân tộc, các tôn giáo. Đai hội đã nhất trí với chủ
trương phát động Tổng khởi nghĩa cuả Đảng, thông qua 10 chính sách lớn, trong đó
điểm đầu tiên là phải giành lấy chính quyền, xây dựng một nước Việt Nam dân chủ
công hoà trên nền tảng hoàn toàn độc lập, lập Uỷ ban dân tộc giải phóng Việt Nam
do Hồ Chí Minh làm chủ tịch. Quốc dân đại hội Tân Trào là một tiến bộ lớn trong
lịch sử đấu tranh giải phóng của dân tộc ta từ ngót một thế kỉ nay mang tầm vóc

Minh, nhân đân cả nước, triệu người như một đã nhất tề nổi dậy với ý chí dù có hi
sinh đến đâu, dù có đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho
được độc lập.
Từ khởi nghĩa từng phần giành chính quyền cục bộ, Đảng ta đã bắt mạch đúng
thời cơ, nhanh chóng chuyển sang phát động quần chúng tiến hành tổng khởi nghĩa.
Đảng đã huy động lực lượng toàn dân, sức mạnh của cả dân tộc đứng dậy tự mình
giả phóng cho mình.
Toàn dân đã xuống đường biểu tình, thị uy vũ trang, chiếm lấy các công sở, các cơ
quan các cấp của chính quyền bù nhìn tay sai của Nhật, xoá bỏ toàn bộ hệ thống
cai trị của chúng. Cố một vài đảng bộ địa phương phải sử dụng lực lượng vũ trang
cách mạng để chống lại sự phản kháng của bọ ngoan cố phản động.
Lực lượng chính trị của quần chúng của toàn dân kết hợp với lực lượng vũ
trang, trong đó lực lượng chính trị quần chúng đóng vai trò quyết định chủ yếu tạo
nên sức mạnh to lớn trong cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945.
Đảng đã lãnh đạo toàn dân nổi dậy đồng loạt cả ở nông thôn và đô thị. Chỉ
trong vòng 15 ngày, từ 14 đến 28 tháng Tám, cuộc tổng khởi nghĩa đã thắng lợi
hoàn toàn.
Từ ngày 14-8 đến ngày 18-8, nhiều xã, huyên thuộc phần lớn các tỉnh ở Bắc
Kì, một số tỉnh ở Trung Kì và Nam Kì đã nối tiếp nhau chớp thời cơ đứng lên giành
chính quyền.
Ngày 16-8-1945, một đơn vị giải phóng quân, do đồng chí Võ Nguyên Giáp chỉ
huy, xuất phát từ Tân Trào tiến về thị xã Thái Nguyên. Quân giải phóng chiếm
nhiều vị trí, bao vây và tiến công quân Nhạt trong thị xã.
Ngày 18-8, lực lượng khởi nghĩa của Băc Giang, Hải Dương, Hà Tĩnh, Quảng
Nam đã giành được chính quyền ở tỉnh lị.
Tại Hà Nội, ngày 15-8-1945, Uỷ ban quân sự cách mạng Hà Nội (tức Uỷ ban
khởi nghĩa) đã được thành lập. Uỷ ban đã khẩn trương hoàn thành kế hoạch khởi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status