Đảng phát động và lãnh đạo cao trào Giải phóng dân tộc (1939-1945) - Pdf 12

Lời nói đầu
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và bè lũ tay sai, đã nổi
lên nhiều cao trào cách mạng nhng hầu hết đều thất bại do nhiều ngyên nhân
khách quan và chủ quan. Chỉ có cuộc cách mạng tháng tám (1945) là mang
lại chiến thắng lịch sử cho dân tộc ta nó đánh dấu một bớc ngoặt lịch sử cho
cách mạng Việt Nam. chấm dứt một thời kỳ đen tối và mở ra một trang sử
mới cho cách mạng Việt Nam.
Thắng lợi của cách mạng tháng tám có một phần không nhỏ công lao
của bè bạn quốc tế và sự lãnh đạo tài tình của đảng biết tận dụng đúng thời
cơ đặc biệt là công lao to lớn của lãnh tụ Nguyễn ái Quốc. Thắng lợi này là
do sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác-Lênin và phong trào yêu nớc của nhân dân
ta. nó đã khẳng định đợc cách mạng Việt Nam trên vị thế thế giới.
Mục Lục
Trang
Lời nói đầu 1
Chơng I:
Đảng cộng sản Việt Nam ra đời
các cao trào cách mạng 2
ChơngII:
Đảng phát Động và lãnh đạo
các cao trào cách mạng (1939-1945) 5
ChơngIII:
Cách mạng tháng tám nổ ra và thắng lợi 12
Ch ơng I: đảng cộng sản việt nam ra đời
các cao trào cách mạng
I. Đảng cộng sản việt nam ra đời và các cao trào cách
mạng.
1.Đảng cộng sản việt nam ra đời.
Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất,mặc dù là nớc thắng trận nhng nền
kinh tế Pháp đã bị tổn thất nặng nề.Để bù đắp những thiệt hại do chiến
tranh gây ra, thực dân Pháp ra sức khai thác và bóc lột các nớc thuộc địa

của đảng cộng sản Việt Nam một đảng Mác xít Lênin nít kiên cờng,có đờng
lối cách mạng khoa học và sáng tạo,đã phát triển với bớc đi vững trắc,đủ sức
đơng đầu với mọi kẻ thù và liên tiếp dành những thắng lợi vĩ đại , mang tầm
vóc lịch sử.
Sự ra đời của đảng cộng sản Việt Nam gắn liền với tên tuổi của Hồ Chí
Minh, ngời sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện đảng.
2.các cao trào cách mạng.
Phong trào giải phóng dân tộc ở các nớc thuộc địa và nửa thuộc địa phát
triển mạnh mẽ, nhất là ở các nớc Châu á. Phong trào bãi công, biểu tình ở
các nớc t bản Anh Pháp, Mỹ Đức lan rộng.
Sau khi đợc thành lập, thực hiện cơng lĩnh của đảng trong hoàn cảnh lịch sử
cụ thể, đảng chủ trơng phát động quần chúng đấu tranh đòi tự do dân chủ, cải
thiện đời sống cho nhân dân, chống địch khủng bố trắng, đòi trả tự do cho
những ngời yêu nớc bị bắt, đòi bồi thờng cho những gia đình nạn nhân và
làng mạc bị tàn phá.
Trong lời kêu gọi nhân ngày thành lập đảng, đồng chí Nguyễn ái
Quốc đã nêu rõ: Hỡi công nhân, nông dân binh lính thanh niên, học sinh,
anh chị em bị áp bức bóc lột , ủng hộ đảng , đi theo đảng, gia nhập đảng, gia
nhập đảng và thực hiện 10 khẩu hiệu do chính cơng của đảng nêu ra, nhằm
đánh đổ đế quốc pháp, bọn phong kiến và giai cấp t sản phản cách mạng .
a.cao trào cách mạng 1930-1931 và xô viết nghệ tĩnh.
Tháng 9-1930, cao trào cách mạng tiếp tục phát triển lên đỉnh cao.Những
khẩu hiệu đấu tranh chính trị đợc kết hợp chặt chẽ với các yêu sách về kinh tế
trong hàng loạt cuộc đấu tranh khắp cả nớc. ở Nghệ An, Hà Tĩnh từ cuối
tháng 8 đến đầu tháng 9-1930 là thời kì đấu tranh kịch liệt, diễn ra nhiều
cuộc đấu tranh quy mô huyện và liên huyệnvới hàng nghìn hàng vạn dân
chúng tham gia. Những cuộc đấu tranh tiêu biểu nh cuộc biểu tình với quy
mô lớn và quyết liệt của 3.000 nông dân huyện nam đàn ngày 30-8-1930, của
20.000 nông dân Thanh Chơng ngày 1-9-1930, của 3.000 nông dân huyện
Can Lộc ngày 7-9-1930. Phần lớn những cuộc biểu tình này là những cuộc

trào cách mạng 1932-1935 .
Cuộc đấu tranh gian khổ và quyết liệt của đảng và quần chúng để giữ
vững cơ sở cách mạng trong những năm 1932-1935 đã diễn ra bằng các tổ
chức và khẩu hiệu thích hợp. Cuộc đấu tranh đó đã thể hiện một ý chí chiến
đấu bất khuất. Lòng trung thành của những chiến sĩ cộng sản trớc tình hình
cách mạng gặp khó khăn tởng chừng nh không thể vợt qua nổi. Thắng lợi cơ
bản có ý nghĩa quyết định là đảng đã khôi phục đợc tổ chức của mình gắn bó
với quần chúng nhân dân, đợc nhân dân che chở. Đại hội lần thứ nhất của
đảng 3-1935 đánh dấu thắng lợi cuộc đấu tranh khôi phục lại hệ thống tổ
chức Đảng từ cơ sở đến Trung Ương.
Qua cao trào này đảng ta đợc công nhận là một chi bộ độc lập của
quốc tế cộng sản để từ đây tiếp tục lãnh đạo nhân dân ta vào các cao trào
cách mạng tới.
c.Cao trào dân chủ Đông Dơng 1936-1939.
Những năm đầu thập kỉ 30, trong khi nền kinh tế các nớc t bản chủ
nghĩa còn ở thời kì tiêu điều. Mùa thu 1937, cuộc khủng hoảng kinh tế mới
lại nổ ra. Giai cấp t sản thống trị ở nhiều nớc không thể tiếp tục cai trị bằng
chế độ đại nghị và nền dân chủ t sản, do đó chúng chuyển sang nền chuyên
phát xít.
Chuyên phát xít là chính quyền chuyên chính độc tài, tàn bạo, dã man
nhất, hiếu chiến nhất của bọn t bản tài chính phản động, nó xoá bỏ mọi
quyền tự do của nhân dân, chủ t sản là đơn sơ nhất, thực hành khủng bố trắng
đối với bất cứ ngời nào, lực lợng chống lại nó. Bóc lột thậm tệ giai cấp công
nhân và nhân dân lao động ,đồng thời chúng điên cuồng chuẩn bị chiến tranh
thế giới chia lại thị trờng và hòng tiêu diệt Liên Xô.
Cao trào đấu tranh dân chủ 1936-1939 là cao trào đấu tranh thực hiện
các nhiệm vụ trớc mắt: Hoà bình, dân chủ, sinh dân. Cao trào đó đã có tính
chất quần chúng rộng rãi, tập hợp đợc nhiều tầng lớp, giai cấp trong nhân dân
ở mọi miền tổ quốc. Nội dung và hình thức đấu tranh của quần chúng phong
phú đấu tranh ngoai đờng phố, trong nghị trờng, trên báo chí, trên mặt trân t

Ngày 1-9-1939, phát xít Đức tấn công Balan . Ngày 3-9-1939 Anh Pháp
tuyên chiến với Đức.
Cuộc chiến tranh thế giới đã gây ra thảm hoạ vô cùng to lớn cho loài ngời:
Số ngời chết là 50 triệu. Số tiền chi tiêu là 4200 tỉ USD. Tuy nhiên nó lại làm
cho tình thế cách mạng ở các nớc thuộc địa mau xuất hiện , việc dành chính
quyền sẽ thuận lợi hơn, chiến tranh làm cho chủ nghĩa đế quốc suy yếu đi, là
dịp cách mạng hoá quần chúng nhân dân thế giới.
ở nớc Pháp các thế lực phát xít lên nắm quyền, chúng đa nớc Pháp và
các thuộc địa của Pháp lao vào cuộc chiến tranh. Sau khi nhảy vào vòng
chiến, chính phủ Pháp thi hành hàng loạt biện pháp đàn áp lực lợng tiến bộ
trong nớc và phong trào cách mạng ở các thuộc địa, nh cấm tuyên truyền
cộng sản, đóng cửa các tờ báo cách mạng và tiến bộ, bắt giam hàng ngàn ng-
ời cộng sản yêu nớc ở Bắc Mê, Bá Vân, Đắc Tô, Ba Tơ, Côn Đảo...
Tháng 6-1940, Pháp đầu hàng Đức. ở Đông Dơng, đô đốc Đơcu đợc
cử làm toàn quyền thay cho Catơru. Viên toàn quyền mới thực hiện một loạt
chính sách nhằm phát xít hoá bộ máy thống trị của thực dân Pháp, vơ vét sức
ngời sức của Việt Nam dốc vào cuộc chiến tranh đế quốc và đối phó với
phong trào cách mạng của các dân tộc ở Đông Dơng.
Trong khi đó, phát xít Nhật tăng cờng sức ép với chính quyền thực dân
Pháp ở Đông Dơng. Chúng đòi đóng cửa biên giới Việt Trung, đình chỉ tiếp
tế cho Tởng Giới Thạch, đợc sử dụng sân bay, hải cảng ở Bắc Đông D-
ơng...Mặc dù thực dân Pháp chấp nhận mọi yêu sách của Nhật, cuối tháng
9-1940, quân đội Nhật vẫn vợt biên giới vào Bắc Việt Nam. Chúng biến Việt
Nam thành căn cứ quân sự để tiến công Nam Trung Quốc và làm bàn đạp mở
rộng xâm lợc khu vực Đông Nam á. Phát xít Nhật giữ nguyên bộ máy thống
trị của thực dân Pháp, sử dụng nó để vơ vét kinh tế, phục vụ nhu cầu chiến
tranh và đàn áp phong trào cách mạng Đông Dơng, ổn định tình hình trong
vùng cho chúng.
Trên thực tế, Việt Nam đã bị đặt dới hai ách thống trị của Pháp.
2. tình hình trong n ớc và khu vực.

mắt thành một vấn đề khẩn cấp và hết sức quan trọng, bớc đờng sinh tồn
của các dân tộc Đông Dơng không có con đờng nào khác hơn là con đờng
đánh đổ đế quốc Pháp, chống tất cả ách ngoại xâm vô luận da trắng hoặc
da vàng để tranh lấy giải phóng dân tộc. Và Đảng cho rằng: cuộc khủng
hoảng kinh tế, chính trị gây nên bởi đế quốc đấu tranh lần này sẽ nung nấu
cách mạng Đông Dơng nổ bùng và tiền đồ cách mạng Đông Dơng sẽ vinh
quang rực rỡ. Tuy cách mạng phản đế và cách mạng giải phóng dân tộc
cao hơn, thiệt dung hơn, song nếu không làm đợc cách mạng thổ địa thì cách
mạng phản đế khó thành công. Tính chất cơ bản của cách mạng t sản dân
quyền Đông Dơng không thay đổi.
Đảng xác định mục tiêu chiến lợc trớc mắt của cách mạng Đông Dơng là
đánh đổ đế quốc và tay sai, giải phóng các dân tộc Đông Dơng, làm cho
Đông Dơng hoàn toàn độc lập. Cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Đông D-
ơng vẫn phải bao gồm hai nội dung là chống đế quốc và chống phong kiến.
Đó là hai nhiệm vụ cơ bản của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ( lúc
đó gọi là cách mạng t sản dân quyền ) do giai cấp công nhân lãnh đạo.
Cách mạng phản đế và cách mạng điền địa là hai bộ phận khăng khít, là
hai cái mấu chốt của cách mạng t sản dân quyền, không giải quyết đợc cách
mạng điền địa thì không giải quyết đợc cách mạng phản đế. Trái lại, không
giải quyết đợc cách mạng phản đế thì không giải quyết đợc cách mạng điền
địa cái nguyên tắc chính ấy không bao giờ thay đổi đợc nhng nó phải ứng
dụng một cách khéo léo thế nào để thực hiện đợc nhiệm vụ chính cốt của
cách mạng là đánh đổ đé quốc. Đảng nhấn mạnh : Tất cả mọi vấn đề của
cách mạng, kể cả vấn đề điền địa cũng phải nhằm vào cái đích ấy mà giải
quyết. Đây là chuyển hớng quan trọng nhất về chỉ đạo chiến lợc.
Để tập trung lực lợng đánh đổ đế quốc, đảng chủ trơng tạm gác khẩu hiệu
cách mạng ruộng đất mà thay bằng khẩu hiệu tịch ký ruộng đất của đế quốc
Pháp và của những địa chủ phản bội quyền lợi đân tộc, cha đánh vào toàn bộ
giai cấp địa chủ phong kiến. Đảng chủ trơng tạm gác khẩu hiệu lập chính
quyền Xô Viết công-nông-binh thay khẩu hiệu lập chính phủ cộng hoà dân


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status