Bộ giáo dục v đo tạo Học viện Chính trị - hnh chính
Quốc gia Hồ Chí Minh
Nguyễn Đình Cả
Các Đảng bộ tỉnh, thnh đồng bằng bắc bộ
lãnh đạo phong tro giải phóng dân tộc tiến tới
tổng khởi nghĩa tháng tám (1939-1945)
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
M số : 62 22 56 01 Phản biện 3:
PGS,TS Phùng Xuân Thành
Học viện An ninh nhân dân
Luận án đợc bảo vệ trớc Hội đồng chấm luận án cấp Nhà nớc
tại Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh.
Vào hồi giờ ngày tháng năm 2007 Có thể tìm hiểu luận án tại Th viện Quốc gia
và Th viện Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh
Danh mục các công trình khoa học của tác giả
liên quan đến đề ti nghiên cứu đ công bố 1. Nguyễn Đình Cả (2000), "Tính chất điển hình của Cách mạng tháng
Tám 1945", Tạp chí Lịch sử Đảng, (9).
2. Nguyễn Đình Cả (2003), "Trận đánh đồn Bần (12-3-1945)", Tạp chí
Lịch sử Đảng, (10).
3. Nguyễn Đình Cả (2005), "Chỉ thị Nhật - Pháp bắn nhau và hành động
của chúng ta với thắng lợi của Cách mạng tháng Tám 1945", Tạp
chí Lịch sử Đảng, (7).
4. Nguyễn Đình Cả (2006), "ý nghĩa lịch sử của Cách mạng Tháng Tám
1945 thắng lợi.
Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ ngày Cách mạng Tháng Tám thành
công, đã có nhiều công trình khoa học trong và ngoài nớc nghiên cứu về
sự kiện lịch sử này. Tuy nhiên cho đến nay, vẫn còn nhiều vấn đề của cuộc
Cách mạng Tháng Tám cần phải tiếp tục nghiên cứu. Vì vậy, nghiên cứu,
quá trình vận động giải phóng dân tộc tiến tới Tổng khởi nghĩa tháng Tám
tại các tỉnh thành đồng bằng Bắc bộ từ 1939 đến 1945 là góp phần nghiên
cứu lịch sử Đảng ở một địa phơng, một vùng đất, một địa bàn chiến lợc
của đất nớc; khẳng định cụ thể hơn, chân thực hơn bản chất và thành công
cùng với tầm vóc lịch sử của cuộc vận động giải phóng dân tộc từ 1939 đến
1945; góp phần vào quá trình lấp đầy những khoảng trống" và bác bỏ
những nhận định xuyên tạc về những nguyên nhân và điều kiện dẫn đến sự
thắng lợi của Cách mạng tháng Tám 1945 ở Việt Nam.
2
Với những ý nghĩa đó, chúng tôi chọn đề tài: "Các Đảng bộ tỉnh,
thành đồng bằng Bắc bộ lnh đạo phong trào giải phóng dân tộc tiến tới
tổng khởi nghĩa tháng Tám (1939-1945)" làm chủ đề nghiên cứu của luận
án tiến sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong lịch sử cách mạng Việt Nam từ khi Đảng ra đời, phong trào
đấu tranh cách mạng từ 1939 đến 1945 mà đỉnh cao là cuộc Tổng khởi nghĩa
Tháng Tám, 1945 đã thu hút nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nớc với
nhiều công trình nghiên cứu về những năm tháng cách mạng sôi động này.
Là lãnh tụ của Đảng và của dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có
nhiều bài viết đề cập đến giai đoạn 1939-1945 và đặc biệt là về Cách mạng
Tháng Tám 1945.
Với cơng vị là Tổng bí th của Đảng qua các thời kỳ, các đồng chí
Trờng Chinh, Lê Duẩn, Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mời, Lê Khả Phiêu, Nông
Đức Mạnh và một số đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nớc đã
Nguyễn Thanh Tâm, Khởi nghĩa từng phần lên tổng khởi nghĩa trong
Cách mạng Tháng Tám 1945, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005.
Phan Ngọc Liên (chủ biên), Cách mạng tháng Tám 1945 toàn cảnh,
Nxb Từ điển bách khoa Hà Nội, 2005.
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Viện Lịch sử Đảng, Cách
mạng tháng Tám 1945 giá trị lý luận và thực tiễn, Nxb Lý luận chính trị,
Hà Nội, 2006.
Nghiên cứu về giai đoạn 1939-1945 còn có một khối lợng lớn là lịch sử
Đảng bộ các địa phơng từ tỉnh đến huyện, xã và những cuốn hồi ký, ghi chép,
hồi tởng, kể chuyện của nhiều nhà hoạt động cách mạng lão thành.
Đã có một số cuốn sách của các tác giả nớc ngoài đề cập đến cuộc
vận động giải phóng dân tộc từ 1939-1945 và Cách mạng tháng Tám ở
nhiều mức độ khác nhau:
E. Côbelép- Đồng chí Hồ Chí Minh; A. Patli- Why Viiet Nam?; WJ Duiker-
Ho Chi Minh- A life; S.Tonesson. The Vietnamese Revolution of 1945
Tất cả các công trình nghiên cứu nêu trên cả trong và ngoài nớc đã
đề cập đến những nội dung chủ yếu sau:
Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong những ngời có số lợng bài viết
về Cách mạng Tháng Tám 1945 nhiều nhất với 12 bài. Phần lớn là các bài
viết ngắn, gọn, nhng có tính khái quát rất cao. Các bài viết của Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã đề cập đến nhiều khía cạnh của cuộc Cách mạng Tháng
Tám 1945 nh vấn đề thời cơ, lực lợng, vai trò của nhân dân, của Đảng,
của Mặt trận Việt Minh Nổi bật lên trong các nhận định, đánh giá về
Cách mạng Tháng Tám 1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh là về giá trị lịch sử
của Cách mạng Tháng Tám 1945. Ngời nêu rõ những giá trị lịch sử của
Cách mạng Tháng Tám ở một số luận điểm sau:
4
- Cách mạng Tháng Tám đã giải phóng dân tộc ta khỏi chế độ phong
kiến thực dân, lập nên chế độ dân chủ cộng hoà độc lập thống nhất Tổ
biểu là các tỉnh ven biển miền Trung của Việt Nam.
5
Chiếm số lợng lớn trong các công trình nghiên cứu về giai đoạn
1939-1945 và Cách mạng Tháng Tám 1945 là những bài viết của các đồng
chí lãnh đạo Đảng và Nhà nớc qua các thời kỳ và của nhiều nhà khoa học
đăng tải trên các tạp chí, báo và các hội thảo nhân dịp kỷ niệm 50 năm, 60
năm Cách mạng Tháng Tám. Nội dung của các loại bài này tập trung ở các
khía cạnh sau:
- Một số bài khẳng định lại những giá trị lịch sử của Cách mạng
Tháng Tám và từ đó gắn với yêu cầu thực tế của cuộc sống đang đặt ra.
- Một số bài công bố mới các văn bản, sự kiện mới đợc su tầm, xác
định có liên quan đến giai đoạn 1939-1945.
- Một số bài tiếp tục khai thác, bổ sung, hệ thống lại, nâng cao thêm
những giá trị, tác động, thành công của Cách mạng Tháng Tám 1945.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu của các nhà hoạt động chính
trị, các nhà khoa học, các cơ quan nghiên cứu chuyên về Lịch sử Đảng đã
phản ánh đợc giai đoạn 1939-1945 và Cách mạng Tháng Tám 1945 về
những vấn đề cơ bản nh vấn đề thời cơ, lực lợng, hình thái khởi nghĩa;
tính chất, ý nghĩa lịch sử, sự ảnh hởng, tác động của sự kiện này đối với
tiến trình lịch sử dân tộc và nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội.
Những công trình của các nhà nghiên cứu ngời nớc ngoài chủ yếu
thiên về miêu tả và luận giải các sự kiện lịch sử chủ yếu. Những suy luận
mà họ nêu lên phần lớn mang tính phán đoán hoặc giả định, thiếu cơ sở
thực tiễn để nhận định và đánh giá về giai đoạn 1939-1945 và Cách mạng
tháng Tám một cách khách quan. Tuy vậy, đây vẫn là những công trình có
giá trị về sự lan toả, tác động của cách mạng Việt Nam đến với thế giới mà
nổi bật là Cách mạng Tháng Tám - 1945. Điều cần quan tâm ở đây là
chúng ta có thêm một cách t duy, nghiên cứu để so sánh, đối chiếu, góp
phần làm rõ thêm giá trị của giai đoạn lịch sử này.
Phạm vi nghiên cứu:
Về thời gian, luận án giới hạn từ tháng 11 năm 1939 đến tháng 8 năm 1945.
Về địa lý, các tỉnh, thành đồng bằng Bắc bộ bao gồm: Vĩnh Yên -
Phúc Yên, Sơn Tây - Hà Đông; Hà Nội, Bắc Ninh; Hà Nam, Ninh Bình,
Nam Định; Hng Yên, Hải Dơng; Thái Bình, Hải Phòng - Kiến An.
5. Cơ sở lý luận, phơng pháp nghiên cứu và nguồn t liệu
Luận án đợc thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin,
t tởng Hồ Chí Minh và những quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam
về con đờng cách mạng Việt Nam, về khởi nghĩa vũ trang tiến tới giành
chính quyền về tay nhân dân.
Phơng pháp nghiên cứu: Đề tài sử dụng phơng pháp lịch sử và
phơng pháp lôgíc là chủ yếu. Ngoài ra còn sử dụng các phơng pháp bổ
trợ nh phơng pháp so sánh, ph
ơng pháp thống kê để tiến hành nghiên
cứu, hoàn thành luận án.
7
Nguồn t liệu chủ yếu để viết luận án là văn kiện Đảng thời kỳ 1930-
1945 và một số t liệu lịch sử ở giai đoạn 1939-1945. Đồng thời, luận án
tham khảo, tiếp thu có chọn lọc các kết quả nghiên cứu của các tác giả có
liên quan, trong đó có các công trình lịch sử của các Đảng bộ tỉnh, thành
phố và một số huyện ở đồng bằng Bắc bộ.
6. Đóng góp mới về mặt khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận án
Luận án trình bày sự linh hoạt, tích cực, chủ động, tinh thần cách
mạng kiên cờng của Đảng bộ và quần chúng cách mạng các tỉnh, thành
đồng bằng Bắc bộ trong cao trào cách mạng 1939-1945; nêu rõ những
thành công nổi bật và kinh nghiệm của Đảng bộ các tỉnh, thành đồng bằng
Bắc bộ trong quá trình lãnh đạo phong trào giải phóng dân tộc tiến tới tổng
khởi nghĩa tháng Tám 1945.
Đồng thời luận án sẽ góp phần vào việc khẳng định tầm vóc lịch sử,
Đồng bằng Bắc bộ - một chiếc nôi của lịch sử, văn hóa Việt Nam.
- Đồng bằng Bắc bộ, nơi con sông Hồng chảy về với biển là một
trong những chiếc nôi của lịch sử hình thành dân tộc Việt Nam. Trên diện
tích xấp xỉ 15.000 km
2
, mặc dù gọi là đồng bằng nhng trên thực tế, tam
giác châu thổ Bắc bộ có đỉnh là nơi sông Hồng và sông Đà gặp nhau và đáy
là miền duyên hải từ Hải Phòng đến Ninh Bình là một vùng không bằng
phẳng. Các hoạt động kiến tạo địa chất đã gây ra nhiều trận động đất mà sử
sách thời Lý - Trần đã ghi chép. Năm 2002, việc khai quật khu Hoàng Thành
Thăng Long đã minh chứng cho sự chồng nhau của các tầng văn hóa nối tiếp
nhau trong lòng đất.
- C dân đồng bằng Bắc bộ đông đúc và thuần nhất với ngời Kinh
(Việt) là chủ yếu. Đây là vùng đất địa linh nhân kiệt hàng đầu đất nớc với
nhiều danh nhân, nhiều bậc hiền tài, làng khoa bảng, dòng họ đỗ đạt cao
nhất nớc với 52/56 trạng nguyên của thời phong kiến.
- Về kinh tế, nghề trồng lúa là chủ yếu. Ngoài ra còn có nhiều làng
nghề truyền thống hết sức nổi tiếng xa nay nh tơ tằm Hà Đông, gốm Bát
Tràng, gỗ Đồng Kỵ, đúc đồng Ngũ Xã
- Về văn hóa, đây là một trong những chiếc nôi hình thành văn hóa
Việt Nam, là vùng đất của ca dao, hò, vè, của các lễ hội và tín ngỡng văn
hóa đặc sắc vào bậc nhất đất nớc.
9
Đồng bằng Bắc bộ - nơi khởi nguồn của những bản anh hùng ca dựng
nớc và giữ nớc.
- Đây là nơi xuất hiện khởi nghĩa Hai Bà Trng mùa xuân năm 40
khởi đầu truyền thống chống ngoại xâm của dân tộc. Tiếp đó là các cuộc
khởi nghĩa chống phơng Bắc của Lý Nam Đế (542), Triệu Quang Phục
(546) và Khúc Thừa Dụ (905). Bắt đầu từ thế kỷ 11, Hà Nội trở thành thủ
Đảng bộ Hải Phòng - Kiến An (8-1929) lần lợt chuyển thành các Đảng bộ
Đảng Cộng sản Đông Dơng.
- Tiếp đó, tháng 3-1930 Đảng bộ Hà Nội ra đời; tháng 4-1930 Đảng
bộ Hải Phòng ra đời. Đảng bộ Hà Nam thành lập tháng 9-1930.
- Các tỉnh còn lại mới thành lập đợc các chi bộ. Hng Yên có chi bộ
Sài Thị (Khoái Châu) thành lập cuối 1929. Hải Dơng có hai chi bộ đợc
thành lập vào đầu năm 1930 là chi bộ Mạo Khê (Đông Triều) tháng 2-1930
và chi bộ Đọ Xá (Chí Linh) tháng 3-1930. Hà Đông có chi bộ Đông Phù
(Thờng Tín) thành lập tháng 5-1930. Phúc Yên có chi bộ đồn điền Đa
Phúc thành lập tháng 3-1933. Bắc Ninh có chi bộ đảng đầu tiên đợc thành
lập tháng 4-1933 ở Phù Lu (Tiên Sơn). Vĩnh Yên có chi bộ đồn điền Tam
Lộng - Bình Xuyên thành lập tháng 10-1933. Sơn Tây có chi bộ Đa Phúc
thành lập cuối 1938.
Các Đảng bộ tỉnh, thành và các chi bộ Đảng lần lợt ra đời đã trở thành
hạt nhân lãnh đạo phong trào đấu tranh cách mạng trên địa phơng mình.
Phong trào đấu tranh cách mạng ở các tỉnh, thành đồng bằng Bắc bộ.
- Phong trào đấu tranh của công nhân.
Tính thống nhất trong phong trào đấu tranh của công nhân các tỉnh,
thành đồng bằng Bắc bộ đợc thể hiện trong các đợt đấu tranh nhân ngày
Quốc tế lao động 1-5-1930 hoặc các ngày kỷ niệm quốc tế, nh Cách mạng
Pháp 14-7, Quốc tế đỏ 1-8, Cách mạng Nga 7-11.
Bớc chuyển nổi bật thứ hai là các cuộc đấu tranh đã bắt đầu chuyển
dần từ mục tiêu kinh tế sang mục tiêu chính trị.
Phong trào công nhân đã có sự liên kết, phối hợp với phong trào nông dân
và các hình thức đấu tranh khác cùng thực hiện mục tiêu giải phóng dân tộc.
- Phong trào đấu tranh của nông dân.
Phần lớn các cuộc đấu tranh tập trung vào việc chống su cao, thuế
nặng, chống nạn "phụ thu, lạm bổ" ở Thái Bình, Ninh Bình, Hà Nam.
Đã có một số cuộc đấu tranh có ý thức chính trị nh đòi lại đất sản
xuất, chống việc cớp đất của địa chủ, t sản, biểu tình thị uy, rải truyền
nhận thức đúng vị trí ở một nớc thuộc địa.
Giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng Việt Nam.
- Chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra (9.1939) vận mệnh dân tộc
đứng trớc thách thức mới. Hội nghị Trung ơng tháng 11-1939 đã nêu vấn
đề giải phóng dân tộc lên hàng đầu.
- Tháng 11-1940 Hội nghị Trung ơng đề xuất thêm vấn đề vũ trang
khởi nghĩa và xây dựng lực lợng cách mạng.
- Hội nghị Trung ơng tháng 5-1941 tiếp tục kế thừa, bổ sung các nội
dung của cách mạng giải phóng dân tộc nh sau:
Giải phóng dân tộc là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng
Việt Nam.
12
Phơng pháp cách mạng là bạo lực, phơng thức tiến hành là khởi
nghĩa giành chính quyền.
Lực lợng cách mạng: tất cả các giai cấp, tầng lớp nhân dân đợc tổ
chức, tập hợp trong Mặt trận Việt Minh và các tổ chức đoàn thể chính trị
xã hội.
Vai trò lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng.
- Tiếp tục bổ sung, hoàn chỉnh đờng lối cách mạng giải phóng dân
tộc, tháng 2-1943 Ban Thờng vụ Trung ơng Đảng ra Nghị quyết nhấn
mạnh thêm hai vấn đề:
Coi khởi nghĩa và các công tác cho chuẩn bị khởi nghĩa là trung tâm.
Đề cao vấn đề văn hóa và đa ra Bản Đề cơng văn hóa Việt Nam.
Đờng lối cách mạng giải phóng dân tộc đã đợc bổ sung, phát triển
về nhiều mặt: kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa. Nội dung đờng lối cách
mạng giải phóng dân tộc thể hiện tính thống nhất, toàn diện, triệt để và
nhân văn. Đây là tiền đề lý luận cho Cách mạng Tháng Tám 1945.
1.2.2. Đảng bộ các tỉnh, thành đồng bằng Bắc bộ quán triệt đờng lối
giải phóng dân tộc, lnh đạo nhân dân chống chiến tranh đế quốc phát xít
kích ở tất cả các tỉnh, thành đồng bằng Bắc bộ.
- Biện pháp thứ sáu: tiến hành xây dựng, củng cố căn cứ địa cách
mạng ở các địa phơng.
*
* *
Từ 6-11-1939 đến 9-3-1945 đã diễn ra một quá trình xây dựng lực
lợng, chuẩn bị về nhiều mặt của các đảng bộ tỉnh, thành đồng bằng Bắc
bộ nhằm tiến tới mục tiêu giành độc lập dân tộc. Trong tình cảnh đất
nớc bị thực dân phát xít xâm lợc, Nghị quyết Hội nghị Trung ơng
6-11-1939 đã nêu lên vấn đề cốt tử: Đa giải phóng dân tộc lên hàng
đầu! Nhận thức đợc quyết định sống còn này, các đảng bộ tỉnh,
thành đồng bằng Bắc bộ đã lãnh đạo nhân dân bớc vào một cao trào
cách mạng mới. Một quá trình chuyển hớng hoạt động, xây dựng lực
lợng cách mạng diễn ra rất khẩn trơng. Các phong trào đấu tranh
của quần chúng cách mạng song hành với quá trình xây dựng lực
lợng cách mạng về mọi mặt. Với một hệ thống các cơ sở cách mạng
đợc xây dựng, các hội, các tổ chức chính trị xã hội đợc hình thành
và tập hợp trong Mặt trận Việt Minh, Đảng bộ các tỉnh, thành đồng
bằng Bắc bộ đã lãnh đạo nhân dân chuẩn bị những điều kiện vật chất
và tinh thần cơ bản để cùng cả dân tộc bớc vào một thời kỳ tranh
đấu mới trên con đờng đi tới Cách mạng tháng Tám 1945.14
Chơng 2
Đảng bộ các tỉnh, thnh đồng bằng Bắc bộ
lnh đạo nhân dân tiến hnh cao tro kháng Nhật
tiến tới khởi nghĩa ginh chính quyền
(9-3-1945 - 31-8-1945)
quá trình chuẩn bị các điều kiện cho khởi nghĩa.
- Coi trọng công tác quân sự, coi nhiệm vụ quân sự là trên tất cả các
nhiệm vụ.
- Giành chính quyền và thành lập bộ máy nhà nớc cách mạng.
15
Với những nội dung cụ thể và thiết thực, chỉ thị "Nhật - Pháp bắn
nhau và hành động của chúng ta" và Nghị quyết Hội nghị quân sự Bắc Kỳ
có giá trị mở đờng trực tiếp cho phong trào cách mạng cả nớc.
Vai trò và tác dụng của những chủ trơng mới đối với phong trào
cách mạng ở các tỉnh, thành đồng bằng Bắc bộ.
- Đảng bộ các tỉnh, thành đồng bằng Bắc bộ đã nhận thức và quán
triệt sâu sắc những nội dung cơ bản hai văn bản của Đảng, đề ra các chủ
trơng phù hợp với từng địa phơng để đẩy mạnh phong trào cách mạng.
- Hai văn bản tạo thành phơng châm hành động hết sức linh hoạt
cho các tỉnh, thành đồng bằng Bắc bộ.
- Góp phần khắc phục t tởng nóng vội, chủ quan, duy ý chí, đồng
thời đa ra đợc các dự báo khoa học, định hớng cho phong trào cách
mạng phát triển, đi đúng hớng.
2.2. Đảng bộ các tỉnh, thành đồng bằng Bắc bộ cụ thể hóa chủ
trơng của Đảng, lãnh đạo nhân dân tiến hành cao trào kháng Nhật
cứu nớc và khởi nghĩa từng phần (9.3.1945 - 13.8.1945)
2.2.1. Cao trào kháng Nhật ở các tỉnh, thành đồng bằng Bắc bộ
Phong trào phá kho thóc, gạo cứu đói.
- Mở đầu phong trào là các cuộc phá kho thóc, gạo ở các tỉnh Bắc
Ninh (15-3-1945), Ninh Bình (15-3-1945). Tiếp theo là phong trào phá kho
thóc diễn ra mạnh mẽ ở Hng Yên, Hải Dơng, Thái Bình, Vĩnh Yên, Hà
Đông, Sơn Tây, Hà Nam, Nam Định
- Phong trào phá kho thóc, gạo cứu đói có ý nghĩa:
Là một biện pháp cơ bản để cứu sinh mạng hàng triệu ngời dân, cứu
Hình thức thứ hai: Sử dụng các đội tuyên truyền xung phong, du
kích, tự vệ có vũ trang tiến hành phá các tổ chức đảng phái phản động, tiêu
diệt các phần tử cầm đầu, ngoan cố phản động, đột kích vào các phủ huyện
tịch thu vũ khí, giấy tờ, vô hiệu hóa bộ máy quan lại.
Hình thức thứ ba: Dới sự lãnh đạo trực tiếp của các chi bộ Đảng và
đảng viên, quần chúng nhân dân và lực lợng vũ trang tự vệ tại chỗ đã tiến
hành xóa bỏ bộ máy thống trị làng xã, lập Uỷ ban dân tộc giải phóng, xây
dựng căn cứ du kích để tiến tới tổng khởi nghĩa.
2.3. Đảng bộ các tỉnh, thành đồng bằng Bắc bộ lãnh đạo nhân
dân khởi nghĩa giành chính quyền (14.8.1945 - 31.8.1945)
2.3.1. Quyết định tổng khởi nghĩa của Đảng Cộng sản Đông Dơng và
kế hoạch khởi nghĩa của Đảng bộ các tỉnh, thành đồng bằng Bắc bộ
Quyết định tổng khởi nghĩa của Đảng Cộng sản Đông Dơng.
Vào lúc 23 giờ ngày 13-8-1945, ủy ban khởi nghĩa đã ra Lệnh khởi
nghĩa (quân lệnh số 1 của ủy ban khởi nghĩa) với những nội dung cơ bản:
- Một là, thời khắc lịch sử để tổng khởi nghĩa toàn quốc giành chính
quyền đã chính thức bắt đầu từ 23 giờ ngày 13-8-1945.
- Hai là, đây là một mệnh lệnh, một khẩu hiệu hành động, một sức
mạnh và niềm tin vào sự vùng dậy của cả dân tộc và sự lãnh đạo của Đảng
trong thời khắc lịch sử bớc ngoặt.
- Ba là, lệnh tổng khởi nghĩa vạch rõ một phơng châm hành động:
nhanh, quả cảm, thận trọng và cả sự hy sinh, thắng lợi nhất định sẽ về ta.
Kế hoạch khởi nghĩa của đảng bộ các tỉnh, thành đồng bằng Bắc bộ.
Nhận đợc lệnh tổng khởi nghĩa hoặc không nhận đợc lệnh tổng
khởi nghĩa, nhng tất cả các đảng bộ tỉnh, thành đồng bằng Bắc bộ đều tổ
17
chức đợc Hội nghị của đảng bộ hoặc Hội nghị cán bộ mở rộng để thảo
luận, ra các quyết định, biện pháp khởi nghĩa.
- Ngày 13-8-1945, Tỉnh ủy Hải Dơng tổ chức hội nghị cán bộ ở
Khởi nghĩa giành chính quyền ở tỉnh Hà Đông (16-8-1945 - 27-8-1945).
- Ngày 16-8-1945 hai làng Vạn Phúc (Hoài Đức) và Yên Trờng
(Chơng Mỹ) khởi nghĩa thành công. Tiếp theo là Mỹ Đức, ứ
ng Hòa,
Chơng Mỹ (17-8-1945), Thanh Trì và Thờng Tín (18-8-1945), Hoài Đức
(19-8-1945), thị xã Hà Đông (20 - 23-8-1945), Đan Phợng (21-8-1945),
Phú Xuyên (24-8-1945), Thanh Oai (27-8-1945).
18
- Tiến trình khởi nghĩa: các địa phơng lần lợt tiến hành khởi nghĩa.
Phơng thức: tự vệ vũ trang kết hợp với lực lợng chính trị, có đổ máu.
Khởi nghĩa giành chính quyền ở tỉnh Bắc Ninh (17-8-1945 - 22-8-1945).
- Mở đầu ở Tiên Du ngày 17-8-1945. Tiếp theo là Gia Lâm và Từ Sơn
(18-8-1945), Yên Phong và Lang Tài (19-8-1945), Thuận Thành, Gia Bình,
Võ Giang và thị xã Bắc Ninh (20-8-1945), Văn Giang (21-8-1945), Quế
Dơng (22-8-1945).
- Tiến trình khởi nghĩa: các huyện phủ tỉnh lỵ lần lợt tiến hành khởi
nghĩa. Phơng thức: tự vệ có vũ trang kết hợp quần chúng cách mạng.
Khởi nghĩa giành chính quyền ở tỉnh Hải Dơng (17-8-1945 - 22-8-1945).
- Khởi nghĩa mở đầu từ Cẩm Giàng, Kim Thành và Kinh Môn (17-8-
1945). Tiếp theo là thị xã Hải Dơng, Chí Linh, Thanh Miện (18-8-1945),
Bình Giang, Ninh Giang, Gia Lộc và Nam Sách (19-8-1945), Tứ Kỳ và
Thanh Hà (22-8-1945).
- Tiến trình: đồng loạt khởi nghĩa, diễn ra nhanh, gọn. Phơng thức:
tự vệ vũ trang và lực lợng chính trị có mít tinh, biểu tình, thị uy.
Khởi nghĩa giành chính quyền ở tỉnh Nam Định (17-8-1945 - 22-8-1945).
- Mở đầu là huyện Trực Ninh lúc 15h ngày 17-8-1945. Tiếp theo là Nam
Trực (18-8-1945), Xuân Trờng, Vụ Bản, ý Yên và Giao Thủy (20-8-1945),
Thành phố Nam Định, Hải Hậu, Nghĩa Hng (21-8-1945), Mỹ Lộc (22-8-1945).
- Tiến trình: từ khởi nghĩa làm điểm ở Trực Ninh thắng lợi, các cuộc khởi
có hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau. Phơng thức: tự vệ vũ trang kết hợp với lực
lợng chính trị.
Khởi nghĩa giành chính quyền ở thành phốHà Nội (19-8-1945).
- Ngày 16-8-1945 đợc sự chỉ đạo của Xứ ủy Bắc Kỳ, ủy ban khởi
nghĩa Hà Nội đợc thành lập. Tối 17-8-1945: Thành ủy Hà Nội và ủy ban
khởi nghĩa họp mở rộng bàn kế hoạch khởi nghĩa và quyết định khởi nghĩa
vào ngày 19-8-1945.
- Vào lúc 11h ngày 19-8-1945 hơn 20 vạn ngời tập trung tại Nhà hát
lớn Hà Nội bắt đầu mít tinh và tiến hành khởi nghĩa. Tối 19-8-1945 cách
mạng làm chủ Hà Nội.
- Tiến trình và phơng thức khởi nghĩa: lực lợng quần chúng đông
đảo kết hợp với vũ trang tự vệ từ ngoại ô tiến vào trung tâm thành phố.
Biểu tình thị uy, gây áp lực giành chính quyền ở trung tâm. Sau đó toả về
giành chính quyền ở cơ sở.
- Đây là thành phố khởi nghĩa giành chính quyền nhanh nhất trong
các tỉnh, thành khu vực đồng bằng Bắc bộ và trên cả nớc.
Khởi nghĩa giành chính quyền ở Ninh Bình (19-8-1945 - 21-8-1945).
- Mở đầu là huyện Gia Viễn (19-8-1945). Tiếp theo là Nho Quan (tối
19-8-1945), Gia Khánh, Yên Khánh và thị xã Ninh Bình (20-8-1945), Yên
Mô (21-8-1945). Riêng huyện Kim Sơn do lực lợng phản động đội lốt tôn
giáo chiếm giữ.
- Nhận đợc lệnh tổng khởi nghĩa. Tiến trình từ khởi nghĩa thí điểm
đến phát động toàn tỉnh cùng khởi nghĩa. Phơng thức: tự vệ vũ trang kết
hợp với lực lợng chính trị.
Khởi nghĩa giành chính quyền ở tỉnh Hà Nam (20-8-1945 - 24-8-1945).
- Mở đầu là ở ba huyện Duy Tiên, Lý Nhân và Kim Bảng trong ngày
20-8-1945.Tiếp theo là huyện Bình Lục và châu Lạc Thủy (22-8-1945), huyện
Thanh Liên và thị xã Phủ Lý (24-8-1945).
- Nhận đợc lệnh tổng khởi nghĩa. Tiến trình: khởi nghĩa từ các huyện
sau đó đến tỉnh lỵ. Phơng thức tự vệ vũ trang kết hợp lực lợng chính trị.
trình đấu tranh trên tiến tới Cách mạng Tháng Tám 1945 ở các tỉnh, thành
đồng bằng Bắc bộ từ 1939-1945.
Chơng 3
Thnh công v kinh nghiệm
3.1. Thành công và hạn chế
3.1.1. Những thành công nổi bật
- Hoạt động trên một địa bàn chính trị phức tạp nhất trong cả nớc.
Đảng bộ các tỉnh, thành đồng bằng Bắc bộ nỗ lực xây dựng đợc hệ thống
tổ chức Đảng và phát triển đội ngũ đảng viên; chấp hành triệt để đờng lối
chủ trơng của Đảng, kiên quyết đấu tranh chống các đảng phái và trào lu
t tởng phản động, xứng đáng là hạt nhân lãnh đạo cách mạng ở cơ sở.
- Đảng bộ các tỉnh, thành đồng bằng Bắc bộ, nhanh chóng chuyển
hớng hoạt động, vừa lãnh đạo các tầng lớp nhân dân đấu tranh chống đế
21
quốc thực dân phát xít và tay sai, vừa xây dựng, phát triển thực lực cách
mạng, chuẩn bị những điều kiện cho thắng lợi của tổng khởi nghĩa tháng
Tám 1945 tại các tỉnh, thành đồng bằng Bắc bộ.
- Phát huy tinh thần độc lập, tự chủ, Đảng bộ các tỉnh, thành đồng
bằng Bắc bộ lãnh đạo nhân dân tiến hành cao trào kháng Nhật cứu nớc,
khởi nghĩa từng phần và thực hiện tổng khởi nghĩa với những hình thức độc
đáo, bất ngờ để giành thắng lợi.
3.1.2. Một số hạn chế
- Một là: Ban lãnh đạo các tỉnh còn có biểu hiện chủ quan, coi thờng
kẻ thù, quan liêu, xa rời cơ sở, trong quá trình xây dựng và phát triển lực
lợng cách mạng và đội ngũ đảng viên dẫn đến những tổn thất cho phong
trào cách mạng.
- Hai là: ở một số cấp bộ đảng các tỉnh, thành đồng bằng Bắc bộ còn
- Quá trình khởi nghĩa ở các tỉnh, thành đồng bằng Bắc bộ thắng lợi
là sự đột phá thành công đầu tiên của một cuộc cách mạng "tự giải phóng"
vào thành luỹ kiên cố nhất của kẻ thù và tạo nên hiệu ứng dây chuyền cho
thắng lợi của tổng khởi nghĩa trên cả nớc.
*
* *
Những thành công, hạn chế và những kinh nghiệm cùng sự tác động
của quá trình Đảng bộ các tỉnh, thành đồng bằng Bắc bộ lãnh đạo các tầng
lớp nhân dân trong phong trào giải phóng dân tộc tiến tới tổng khởi nghĩa
tháng Tám đã phản ánh đợc những nét khái quát nhất về một giai đoạn
lịch sử sôi động, có vị trí hết sức to lớn trong tiến trình cách mạng Việt
Nam từ ngày có Đảng và cả trong chiều dài lịch sử dân tộc. Quá trình vận
động giải phóng dân tộc của Đảng bộ và nhân dân các tỉnh, thành đồng
bằng Bắc bộ đã phản ánh đợc bức tranh sinh động, chân thực về một cuộc
cách mạng giải phóng dân tộc lần đầu tiên ở một nớc thuộc địa lạc hậu và
phụ thuộc. Đó là một cuộc cách mạng không có trong dự báo nào của các
nhà lý luận kinh điển hay các chính khách quốc tế đơng thời. Đây là một
cú "sốc" chính trị của thế kỷ XX. Sự tác động của những thắng lợi dồn dập
trong cuộc vận động giải phóng dân tộc tiến tới tổng khởi nghĩa tháng Tám
ở các tỉnh, thành đồng bằng Bắc bộ đến với cả nớc là tất yếu. Thắng lợi
của quá trình khởi nghĩa ở các tỉnh, thành đồng bằng Bắc bộ mà tâm điểm
là Hà Nội đã trở thành "vật thế chấp" cho tất cả những ai còn nghi ngờ về sự
thành công và tính đúng đắn của Cách mạng Tháng Tám, 1945. Địa danh Hà
Nội trong Cách mạng Tháng Tám đồng nghĩa với sức mạnh, thành công và
chiến thắng!
Kết luận
Kế thừa và phát huy truyền thống chống ngoại xâm anh dũng, quật