Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
1.1. Quá trình vận động cách mạng 1939 - 1945 mà đỉnh cao là
Tổng khởi nghĩa Tháng Tám mở ra một bớc ngoặt vĩ đại trong lịch sử đấu
tranh giành độc lập tự do của nhân dân ta dới sự lãnh đạo của Đảng.
Trong Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ hai
của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận định, với thắng lợi này "chẳng
những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào mà giai cấp
lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: lần
này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và
nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã
nắm chính quyền toàn quốc" [79, 159].
ý nghĩa của cuộc vận động cách mạng 1939 - 1945 hết sức to lớn,
nội dung của nó rất phong phú nên dù đã có nhiều tác giả nghiên cứu, song
đến nay vẫn cha thể nói đã tìm hiểu hết mọi phơng diện của sự kiện lịch sử
trọng đại này. Trong đó, nhiều vấn đề thuộc về cao trào này ở các địa phơng
cần tiếp tục nghiên cứu một cách có hệ thống.
1.2. Trong quá trình vận động cách mạng 1939 - 1945 có sự đóng
góp to lớn của đảng bộ và nhân dân các tỉnh VBNTB. Với tinh thần chủ
động, sáng tạo các đảng bộ ở đây đã phát động và lãnh đạo các tầng lớp
nhân dân vợt qua thủ đoạn khủng bố phát xít của kẻ thù, chuẩn bị mọi mặt
cho khởi nghĩa, cùng cả nớc thành lập chính quyền cách mạng trớc khi
quân Đồng minh kéo vào Đông Dơng.
Nghiên cứu sâu sắc và toàn diện nhằm dựng lại một cách có hệ
thống quá trình vận động cách mạng tại các tỉnh VBNTB, và để cùng với
cao trào chung cả nớc khẳng định tầm vóc của quá trình vận động cách
mạng 1939 - 1945, sự lãnh đạo và chỉ đạo sáng suốt của Trung ơng Đảng,
1
sự vận dụng sáng tạo, linh hoạt đờng lối của Trung ơng của các đảng bộ địa
phơng, bác bỏ những luận điệu xuyên tạc, những nhận định sai lầm về ý
nghĩa thắng lợi của cuộc vận động cách mạng này là việc làm cần thiết.
Nguyên nhân thắng lợi và ý nghĩa lịch sử của Cách mạng Tháng Tám [30].
Sau hội nghị, Ban nghiên cứu lịch sử Đảng trực thuộc Trung ơng đã cho ra đời
hai cuốn sách chuyên khảo tiêu biểu: "Tìm hiểu tính chất và đặc điểm của
Cách mạng Tháng Tám" [13] và Tìm hiểu Cách mạng Tháng Tám [12]. Kỷ
niệm lần thứ 40 Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9 Viện Lịch sử
Đảng phối hợp với Ban nghiên cứu lịch sử Đảng các tỉnh, thành phố trong
cả nớc xuất bản cuốn "Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945" [130] và gần đây
nhất là cuốn "Lịch sử Cách mạng Tháng Tám 1945" [129] công bố thêm
những t liệu và nhận định mới về cuộc cách mạng này.
Ngay từ năm 1960 Tổ Lịch sử Cách mạng Tháng Tám của Viện Sử
học Việt Nam đã xuất bản cuốn "Cách mạng Tháng Tám - Tổng khởi nghĩa
ở Hà Nội và các địa phơng" [132].
Các nhà sử học có những công trình chuyên khảo riêng nh: "Cách
mạng cận đại Việt Nam - Tổng khởi nghĩa Tháng Tám" của Trần Huy Liệu
và Văn Tạo [74], "Lịch sử Cách mạng Tháng Tám" của Văn Tạo, Thành
Thế Vỹ, Nguyễn Công Bình [103]; "Lịch sử tám mơi năm chống Pháp"
(quyển 2) của Trần Huy Liệu [73], "Nghệ thuật chỉ đạo khởi nghĩa vũ trang
trong Cách mạng Tháng Tám" của Nguyễn Anh Dũng [36], và "Cách mạng
Tháng Tám - một số vấn đề lịch sử" [101] do giáo s Văn Tạo chủ biên đề
cập thêm nhiều khía cạnh mới về những hoạt động của công nhân, thanh
niên, các tín đồ tôn giáo trong Cách mạng Tháng Tám, cùng hàng trăm
bài nghiên cứu khác đăng tải trên các tạp chí.
Những công trình trên tuy mang tính lý luận cao song chỉ đề cập tới
những sự kiện tiêu biểu và những vấn đề phơng pháp luận về Cách mạng
3
Tháng Tám trên phạm vi cả nớc. Hai tác phẩm "Cách mạng Tháng Tám -
Tổng khởi nghĩa ở Hà Nội và các địa phơng", "Tổng khởi nghĩa Tháng Tám
1945" tuy đề cập đến từng tỉnh nhng cũng chỉ ở mức độ trình bày ngắn gọn
các sự kiện, không đi sâu vào những vấn đề cụ thể về t liệu và lý luận của
cuộc vận động cách mạng 1939 - 1945 tại những địa phơng này.
xem Chính phủ Trần Trọng Kim nh là một chính phủ tiền cách mạng (pre-
revolutionary) [143, 2]. Trong tác phẩm chuyên khảo "Vietnam 1945. The quest
for power" David G.Marr lại cho rằng: "Sau ngày 9-3-1945 các sự kiện diễn
ra theo một cái đà tự phát, không có bàn tay điều khiển nào. Những đảng viên
cộng sản và những ngời tham gia Việt Minh ở địa phơng đã giành nhiều thắng
lợi do sự ứng phó nhanh chóng của họ trớc những thay đổi đột ngột hơn là do
theo một kế hoạch điều khiển nào" [142, 6] và "Việt Nam đã kinh qua một cuộc
khởi nghĩa quy mô toàn quốc, nhng cha phải một cuộc cách mạng" [142, 4].
Đó là những nhận định đã [88, 68-70], [105, 11-16], [100, 42-46] và cần tiếp tục
thảo luận trên cơ sở khách quan, khoa học, bằng chính những sử liệu phong
phú và t duy khoa học.
Các nhà sử học trên càng không có điều kiện với tới các sự kiện lịch
sử của các tỉnh VBNTB. Riêng D G. Marr tuy có dành 27 trang trong tổng
số 602 trang tác phẩm của mình [142, 431-457] để viết về khu vực này nh-
ng cũng chỉ điểm qua, không hệ thống.
2.4. Từ sau năm 1975 Tiểu ban Lịch sử Đảng thuộc Ban Tuyên giáo
các tỉnh VBNTB có điều kiện thuận lợi để nghiên cứu sâu về quá trình vận
động cách mạng 1939 - 1945 tại địa phơng mình. Đến nay tất cả 8 tỉnh
thành trong khu vực đã xuất bản sách Lịch sử đảng bộ tỉnh và trên 2/3 số
huyện có sách Lịch sử đảng bộ huyện thời kỳ 1930 - 1945. Viện Lịch sử
Đảng cũng đã phối hợp với Hội đồng biên soạn Lịch sử Nam Trung Bộ
kháng chiến xuất bản sách "Nam Trung Bộ kháng chiến (1945 - 1975)" [64].
Sách chuyên đề có "Cuộc khởi nghĩa Ba Tơ và đội du kích Ba Tơ" [16]
và các sách hồi ký nh: "Từ núi rừng Ba Tơ" [65], "Bình minh Ba Tơ" [55],
"Bớc qua đầu thù" [37], "Lên đờng thắng lợi" [89], "Những ngày tháng
Tám" [82] có đề cập đến phong trào cách mạng các tỉnh VBNTB.
Những cuốn lịch sử đảng bộ tuy đã nêu lên đợc những sự kiện cụ
thể, sinh động về quá trình vận động cách mạng 1939 - 1945 của địa phơng
5
nhng chỉ ở phạm vi từng tỉnh, cha đề cập đến phong trào chung có tính liên
khởi nghĩa.
Phân tích những u điểm và hạn chế của các đảng bộ trong lãnh đạo
quá trình vận động cách mạng 1939 - 1945 tại địa phơng và nêu lên những
kinh nghiệm có ý nghĩa lý luận và thực tiễn.
4. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu của luận án
4.1. Đối tợng nghiên cứu của luận án là sự lãnh đạo của Đảng, trực
tiếp là đảng bộ các tỉnh VBNTB.
4.2. Phạm vi nghiên cứu của luận án:
Luận án trình bày ở mức độ hợp lý phong trào cách mạng tại các
địa phơng trớc khi có sự chuyển hớng chỉ đạo chiến lợc của Đảng và có đề
cập tới những nét chính của phong trào ở cả khu vực miền Trung cũng nh
cả nớc trong cùng thời kỳ, nhng trọng tâm của luận án là tập trung trình
bày quá trình vận động cách mạng 1939 - 1945 tại một khu vực cụ thể là
các tỉnh VBNTB.
5. Cơ sở lý luận, nguồn tài liệu và phơng pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Tác giả luận án dựa vào quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về
phép biện chứng về khởi nghĩa vũ trang, t tởng Hồ Chí Minh và những quan
điểm của Đảng về xây dựng Đảng, vận động quần chúng, xây dựng lực l-
ợng vũ trang trong cách mạng dân tộc dân chủ, đặc biệt là khởi nghĩa giành
chính quyền làm cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu.
5.2. Nguồn tài liệu
Thực hiện đề tài luận án, chúng tôi chủ yếu sử dụng t liệu trong các
sách lịch sử đảng bộ các tỉnh, huyện trong khu vực VBNTB kết hợp với các
Nghị quyết, Chỉ thị của Trung ơng Đảng, Xứ ủy Trung Kỳ đã công bố trong
các cuốn văn kiện Đảng.
7
Đặc biệt, để bổ sung thêm những nguồn t liệu mới cha đợc công bố,
chúng tôi đã tập trung khai thác một số t liệu thu thập đợc tại các trung tâm
lu trữ ở Trung ơng: Cục lu trữ văn phòng Trung ơng Đảng, Trung tâm lu trữ
chính trị ở các địa phơng và phơng pháp so sánh để so sánh phong trào giữa
các tỉnh trong khu vực VBNTB và giữa các tỉnh này so với cả nớc.
6. Đóng góp khoa học của đề tài
6.1. Về t liệu
Su tầm, chỉnh lý, bổ sung thêm một bớc để xây dựng một hệ thống
t liệu tơng đối hoàn chỉnh về quá trình vận động cách mạng 1939 - 1945 tại
các tỉnh VBNTB. Trong đó, có thêm những t liệu mới có giá trị.
6.2. Về nội dung
- Tập trung dựng lại một cách có hệ thống, toàn diện quá trình vận
động cách mạng 1939 - 1945 tại các tỉnh VBNTB.
- Thống kê số lợng tổ chức cơ sở Đảng, đảng viên ở các tỉnh tại
những thời điểm có tính chất bớc ngoặt (1930, 1939, 1945) và số lợng tổ
chức Việt Minh, quần chúng, lực lợng vũ trang, vũ khí (súng) tại các tỉnh
trớc khi bớc vào tổng khởi nghĩa.
- Làm rõ thêm quá trình xây dựng Đảng về tổ chức tại các tỉnh từ
1930 - 1945 và quá trình xây dựng Đảng về t tởng trớc khi bớc vào tổng
khởi nghĩa.
- Làm rõ hơn hoạt động của các đảng bộ trong công tác vận động
các giới cứu quốc thời kỳ tiền khởi nghĩa tại các địa phơng. Vấn đề vận
động những tầng lớp trung gian trong thời gian này và vai trò của các chiến
sĩ tù chính trị cộng sản khi trở về địa phơng.
- Đa ra một số nhận định chung về phong trào cách mạng ở các tỉnh
qua các thời kỳ (1930-1931, 1932-1935, 1936-1939, 1939-1945), nhấn
9
mạnh tính chủ động, linh hoạt, sáng tạo của đảng bộ các tỉnh VBNTB trong
việc vận dụng đờng lối chung của Trung ơng vào tình hình cụ thể của địa
phơng, nhận định về một số vấn đề cụ thể nh hoạt động của đội du kích Ba
Tơ, nguyên do mất đoàn kết trong nội bộ những ngời cách mạng ở một số
tỉnh, về khả năng chớp thời cơ khởi nghĩa ở từng tỉnh.
7. ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận.
Diện tích tự nhiên toàn khu vực 41.695 km
2
, dân số năm 1943 là
3.039.100 ngời [140, 27]. Dân tộc ít ngời chiếm hơn 5% dân số trong vùng,
gồm có ngời Chăm, Ba Na, Cơ Tu, Ve, Gié Triêng, Cor, Rắc Lay Trong đó
dân tộc Chăm chiếm số đông hơn cả.
Một phía đầu khu vực ở gần kinh đô của Nam Triều và một phía gần
đất thuộc địa Nam Kỳ của thực dân Pháp nên các tỉnh này có một vị trí địa
chính trị quan trọng.
11
Do kề núi, sát biển, hình thái núi rừng phong phú, lại lắm sông và
nhiều nhánh núi đâm ra biển làm cho đồng bằng các tỉnh nhỏ, hẹp. Địa giới
giữa các tỉnh đợc xác định chủ yếu theo lu vực các sông, đèo, núi nên giao
thông không đợc thuận lợi nh các tỉnh trong Nam và ngoài Bắc.
Ngoài thuận lợi về đờng biển, các tỉnh VBNTK còn có quốc lộ 1 và
đờng sắt xuyên Việt chạy dọc. Từ quốc lộ 1 có nhiều tuyến đờng ngang
chạy lên các tỉnh Tây Nguyên.
Nhân dân các tỉnh VBNTK đã xây dựng đợc cho mình một đời sống
văn hóa có những sắc thái riêng trong lối ứng xử, trong dân ca và nhạc vũ.
Do khác hẳn với ngoài Bắc là địa bàn tụ c và khai thác lâu đời của ngời
Việt, cũng khác với trong Nam đợc khai phá muộn hơn, lối sống ngời nông
dân vùng này chất phác, cần kiệm, không quá câu nệ, lễ nghi, nhng cũng
không quá phóng khoáng. Nhìn chung, ngoài tinh thần yêu nớc và tính
năng động cách mạng, con ngời ở đây cứng cỏi, trực tính, thiên về biện bác
lý sự, trọng việc nghĩa, có ý thức cộng đồng, đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau lúc
khó khăn hoạn nạn. Những đức tính này ít nhiều tác động trực tiếp hoặc
gián tiếp đến nét riêng trong quá trình đấu tranh cách mạng của địa phơng.
Tính năng động cách mạng không chỉ thể hiện trong những lần đi đầu các
phong trào yêu nớc của những giai đoạn trớc (cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ
của dân trong tỉnh. ở Quảng ngãi cố đạo Nhà Chung chiếm đến 8.266 ha đất.
Thực dân Pháp thực hiện chính sách ngu dân về mặt giáo dục, đầu
độc về mặt văn hóa. Kết quả "khai hóa" của thực dân Pháp chỉ là "90%
nhân dân Nam Trung Bộ mù chữ, 10.000 dân mới có 60 ngời học tiểu học,
1 ngời học trung học, mỗi tỉnh ở đồng bằng chỉ có 1 đến 3 trờng tiểu học,
từ Quảng Nam đến Bình Thuận chỉ có 1 trờng trung học quốc lập, ở Quy
Nhơn mỗi năm thu nhận 30 - 40 học sinh" [64, 113].
13
Các tệ nạn xã hội đợc bọn thực dân khuyến khích để đầu độc đời
sống tinh thần nhân dân. Năm 1933 riêng dân Bình Định đã phải "tiêu thụ"
1.200 kg thuốc phiện bằng tiền 10.000 tấn thóc [44, 17]. Theo thống kê của
Pháp, trong năm 1929 tại khu vực thị trấn Tam kỳ (Quảng Nam) trong
1.500 dân đã có đến 472 ngời nghiện thuốc phiện [49, 11]. Trong khi đó, ở
mỗi tỉnh chỉ có một bệnh viện vài mơi giờng, mỗi huyện chỉ có một trạm xá,
thuốc men chủ yếu chỉ là aspirine và quinin.
Cùng với chính sách thực dân xâm lợc của thực dân Pháp là chính
sách phản động của Nam triều. Chế độ phong kiến triều Nguyễn sử dụng
luật Gia Long (đến 1943 có luật sửa đổi đôi chút của Bảo Đại) làm "phép
nớc" khống chế mọi quyền tự do dân chủ của nhân dân. Dới "phép nớc" là
"lệ làng" do cờng hào địa phơng lũng đoạn, ràng buộc áp chế ngời dân.
Giai cấp địa chủ bóc lột nông dân bằng cách cớp đoạt ruộng đất, phát
canh thu tô, cho vay nặng lãi. Địa chủ ở Quảng Nam chiếm đến 85.220 ha
ruộng đất, bằng nửa số ruộng đất trong tỉnh. Số địa chủ ở Quảng Ngãi tuy
có ít hơn nhng vẫn chiếm tới 56% ruộng đất (38.000/67.800 ha) [8, 19]. ở
Bình Định bình quân chiếm hữu ruộng đất của một địa chủ gấp 12 lần so với
một nhân khẩu bần nông, hơn 4 lần so với một nhân khẩu trung nông [44,
21]. Bằng lối bóc lột cho vay nặng lãi địa chủ ở đây có nơi cho vay tiền lấy
lãi một năm từ 13-15%.
Nhìn một cách tổng quát, xu hớng chính trị của địa chủ ở các tỉnh
VBNTK không giống nhau, lại thờng phân hóa qua các phong trào yêu nớc
đúng đắn, thiếu một đảng tiên phong lãnh đạo song nó đã thể hiện đợc tinh
thần quật khởi của nhân dân và có ảnh hởng đến phong trào cách mạng về sau.
Đặc biệt, nhân dân các tỉnh VBNTK có sự cố kết với nhau để chống
kẻ thù chung. Đây là một truyền thống tốt đẹp hình thành nên tinh thần
đoàn kết, giúp đỡ, phối hợp hành động giữa các tỉnh trong cao trào vận
động giải phóng dân tộc.
15
1.1.2. Các phong trào đấu tranh cách mạng dới sự lãnh đạo của
các đảng bộ
Sự ra đời của các đảng bộ Đảng cộng sản Việt Nam
Nửa cuối những năm 20 của thế kỷ XX tình hình chính trị chung
trong nớc có những chuyển biến mới. Ba tổ chức cách mạng ra đời: Hội
Việt Nam cách mạng thanh niên, Tân Việt cách mạng đảng, Việt Nam quốc
dân đảng. Cả ba tổ chức đều đa chơng trình chính trị của mình ra tranh thủ
quần chúng nhng chỉ có Hội Việt Nam cách mạng thanh niên và Tân Việt
cách mạng đảng phát triển đợc ở các tỉnh VBNTK. ở Phú Yên Việt Nam
quốc dân đảng tuy có gây đợc cơ sở nhng rất ít đảng viên, chỉ hoạt động
thời gian ngắn. Sau đó, một số đảng viên của đảng này chuyển sang gia
nhập Tân Việt và Thanh Niên.
Hội Việt Nam cách mạng thanh niên phát triển mạnh ở các tỉnh
Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên. Năm 1926 Quảng Ngãi
thành lập tỉnh bộ, tiếp đến Quảng Nam đầu năm 1928. Tại các tỉnh này
Thanh Niên phát triển đợc cơ sở ra các phủ huyện và vận động đợc một số
cuộc đấu tranh lớn.
Tổ chức Tân Việt có mặt từ Đà Nẵng đến Bình Thuận. Đầu năm
1928 Tỉnh bộ Tân Việt Quảng Nam thành lập. Cuối năm 1928 Ban liên tỉnh
Tứ Định thành lập chỉ đạo hoạt động của Tân Việt tại các tỉnh Quảng Ngãi,
Bình Định, Phú Yên, Kontum, nhng hoạt động của Tân Việt tại những tỉnh
này sớm bị bể vỡ và phân hóa, nhiều đảng viên Tân Việt chuyển sang gia
nhập Thanh Niên. Tân Việt chỉ thật sự phát triển khá hơn ở các tỉnh cực
Phú Yên 1 17 78
Khánh Hòa 1 1 Trên 13 Trên 60
Ninh Thuận 1 3 12
Bình Thuận 1 6
Tổng cộng
5 Tỉnh ủy,
1 Thành ủy
11 169 Trên 617
Nguồn: Tác giả thống kê từ các sách lịch sử đảng bộ các tỉnh.
17
Đảng bộ Đảng cộng sản Việt Nam thành lập tại các tỉnh đánh dấu
bớc phát triển quan trọng của sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc tại
khu vực này. Từ đây phong trào cách mạng các tỉnh VBNTK đã đợc đặt dới
sự lãnh đạo thống nhất của Đảng cộng sản, chấm dứt sự phân tán của các tổ
chức cách mạng, chuyển phong trào yêu nớc của nhân dân các tỉnh này lên
thành phong trào cách mạng dới ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã
hội của Đảng cộng sản Việt Nam.
Phong trào đấu tranh cách mạng dới sự lãnh đạo của các đảng bộ
Phong trào cách mạng 1930 - 1931
Vừa mới ra đời các đảng bộ đã nhanh chóng phát triển tổ chức cơ
sở đảng và các tổ chức quần chúng Công hội đỏ, Nông hội đỏ, Đoàn thanh
niên, Hội phụ nữ, Đoàn học sinh, Hội cứu tế đỏ làm nòng cốt cho phong
trào đấu tranh của quần chúng.
Căn cứ vào đờng lối chung của Đảng đề ra trong Chánh cơng vắn
tắt, Sách lợc vắn tắt, Lời kêu gọi của lãnh tụ Nguyễn ái Quốc nhân dịp thành
lập Đảng, và Luận cơng chính trị, các đảng bộ tuyên truyền trong quần chúng
về nhiệm vụ cách mạng, sứ mệnh lịch sử của Đảng, vạch trần bộ mặt của đế
quốc Pháp và phong kiến tay sai. Đồng thời vận động quần chúng đấu tranh đòi
những quyền lợi dân sinh, dân chủ thiết thực hàng ngày và đa ra những khẩu
hiệu tuyên truyền cao hơn nh tịch ký ruộng đất của địa chủ ngoại quốc và địa
Đặc điểm các cuộc đấu tranh ở Quảng Ngãi là ngay từ đầu đã ở thế
cao trào. Về diễn biến tình hình chính trị Trung Kỳ giai đoạn này thực dân
Pháp nhận xét, do tác động của phong trào ở Nghệ - Tĩnh, đảng bộ Quảng
Ngãi đã "mở rộng phạm vi hoạt động, đốt cháy giai đoạn và tìm cách xung
đột ngay với chính quyền" [83, 29-30].
Nếu Nghệ - Tĩnh thành lập Xôviết thì Quảng Ngãi cha đặt ra việc
thành lập chính quyền công nông, mặc dầu bộ máy chính quyền Nam Triều
19
từ thôn xã đến tổng ở nhiều vùng nông thôn đã bị tê liệt. ở những vùng này,
dới sự lãnh đạo của các chi bộ đảng hoặc Nông hội đỏ, quần chúng đã bắt
đầu giữ quyền làm chủ từng phần, công khai hội họp, tổ chức tự vệ, quản lý
trật tự thôn xã.
Thực dân Pháp và Nam Triều điên cuồng khủng bố phong trào ở
Quảng Ngãi. Hơn 6.000 ngời bị giam giữ, hơn 1.000 ngời bị kết án.
Từ tháng 6 đến tháng 8-1931 phong trào lại bùng lên ở hai tỉnh
Bình Định và Phú Yên. Địch mở chiến dịch đánh phá khốc liệt. Cơ quan
Phân xứ ủy Nam Trung Kỳ tại Đà Nẵng và đảng bộ các tỉnh đều bị vỡ, liên
lạc giữa Xứ ủy Trung Kỳ đóng ở Vinh với các tỉnh Nam Trung Kỳ bị đứt.
Với cao trào 1930 - 1931 Đảng đã thâm nhập vào trong các tầng lớp
nhân dân. Sở mật thám Trung Kỳ đã thừa nhận rằng: "Lúc nào tinh thần
dân chúng cũng thiên về các cuộc biểu tình chống chính phủ và do đó họ
nh sẵn sàng tham gia một cách tích cực với Đảng cộng sản" [75, 71].
Thành công của các đảng bộ trong hai năm 1930 - 1931 còn ở chỗ
các đảng bộ chủ động, linh hoạt khi vận dụng chủ trơng của cấp trên vào
hoàn cảnh cụ thể của địa phơng.
Về xây dựng lực lợng, các đảng bộ không chỉ tổ chức, xây dựng lực
lợng nòng cốt trong công nông mà còn mở đợc mặt trận đoàn kết rộng rãi
hơn. ở Quảng Ngãi, Bình Định các đảng bộ đi sâu tuyên truyền phát động
cả trong công chức, học sinh, tiểu thơng, tiểu chủ, t sản dân tộc, trung phú
nông, và có đối sách cụ thể với bọn tay sai nhằm phân hóa, cô lập kẻ thù.
Quảng Nam trong năm 1931 đã có tới 8 cuộc).
ở bên ngoài lúc này số đảng viên và quần chúng cách mạng còn lại
rất ít nhng vẫn giữ vững tinh thần, bí mật liên lạc với nhau gây dựng lại
21
phong trào, mặc dù việc hoạt động lúc này hết sức khó khăn do chính sách
khủng bố trắng của đế quốc Pháp với sự trợ lực của Nam Triều.
Bên cạnh tinh thần chủ động công tác của các đảng viên phải kể đến
lòng trung thành với Đảng của quần chúng cách mạng vốn đợc Đảng tuyên
truyền giáo dục trong những năm 1930 - 1931. Mặc dù tổ chức đảng bị bể
vỡ, thiếu vắng ngời lãnh đạo, nhng quần chúng vẫn hớng về Đảng. Điều
đáng lu ý là có nơi quần chúng cách mạng tự động thành lập tổ chức tìm bắt
liên lạc với Đảng. Trờng hợp nhóm thanh niên cách mạng làng An Hòa
huyện Tam Kỳ (Quảng Nam) là một điển hình. Nhóm thanh niên này không
bị bắt trong phong trào 1930 - 1931 đã tự duy trì hoạt động và chuyển lên
thành tổ cứu tế đỏ hoạt động theo Điều lệ và Chánh cơng của Đảng. Tổ chức
cứu tế đỏ này còn giúp các xã lân cận lập thêm 14 tổ cứu tế đỏ thu hút trên
70 hội viên. Một số hội viên vận động đợc một số cuộc đấu tranh của công
nhân làm đờng sắt tại Tam Kỳ, có cuộc thu hút đến 500 công nhân tham
gia. Tổ chức cứu tế đỏ An Hòa phái ngời vào Quảng Ngãi tìm tổ chức Đảng,
nhờ thế đợc kết nạp và chuyển thành chi bộ đảng vào cuối năm 1932. Đây
là chi bộ đầu tiên ở Quảng nam sau thời kỳ 1930 - 1931. Cũng từ chi bộ này,
Phủ ủy Tam Kỳ và Tỉnh ủy lâm thời Quảng Nam lần thứ hai đợc lập lại.
Từ giữa năm 1932 một số tù chính trị mãn hạn trở về cùng với
những đảng viên còn lại ở địa phơng từng bớc khôi phục phong trào. Cuối
năm 1932 sang giữa năm 1933 đã có một số tỉnh lập lại đợc cơ quan lãnh
đạo. Tỉnh ủy Quảng Ngãi lập lại đầu năm 1933. Tỉnh ủy lâm thời Quảng
Nam lập lại giữa năm 1933. Ban cán sự tỉnh Khánh Hòa lập năm 1932. Từ
cuối năm 1933 mối liên hệ giữa các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình
Định, Phú Yên, Khánh Hòa đã nối lại thông suốt.
Đầu năm 1934 đại biểu 5 tỉnh trên chủ động mở hội nghị tại huyện
Quảng Nam, Quảng Ngãi và Kontum chống đế quốc Pháp và tụi quan lại
địa chủ phú hào An Nam" [52, 17].
23
Nhiều tổ chức quần chúng đợc hình thành, hoạt động dới sự lãnh
đạo của các tổ chức cơ sở đảng. Song, trong lúc phong trào đang trên đà
khôi phục lại bị thực dân Pháp đánh phá. Đồng chí Tống Văn Trân và các
đồng chí trong Ban cán sự Trung Nam của Xứ ủy Trung Kỳ lần lợt bị địch
bắt. Đến cuối năm 1935, tổ chức Đảng từ Quảng Nam đến Khánh Hòa lần
lợt bị vỡ, mất liên lạc với Trung ơng.
Tuy vậy, sự hồi phục của phong trào những năm 1932 - 1935 đã
chứng tỏ sức phát triển bền bỉ, liên tục của các tổ chức đảng và quần chúng,
tạo ra những nhân tố tích cực làm tiền đề cho việc phát triển lực lợng cách
mạng những năm 1936 - 1939.
Thời kỳ vận động dân chủ 1936 - 1939
Tháng 7-1936 Hội nghị một số cán bộ lãnh đạo Đảng họp ở Thợng
Hải (Trung Quốc) định ra mục tiêu trớc mắt là đấu tranh chống chế độ phản
động thuộc địa; chống phát xít và chiến tranh; đòi tự do dân chủ, cơm áo và
hòa bình. Hội nghị quyết định thành lập Mặt trận thống nhất nhân dân phản
đế Đông Dơng (sau chuyển thành Mặt trận dân chủ Đông Dơng) và chủ trơng
chuyển hình thức hoạt động bí mật sang công khai hợp pháp và nửa hợp pháp
nhằm tập hợp đông đảo quần chúng nhân dân bớc vào thời kỳ đấu tranh mới.
Xứ ủy lâm thời Trung Kỳ lập lại, đề ra nhiệm vụ phát động phong
trào đấu tranh theo chủ trơng chung của Đảng. Cuối năm 1935 đến giữa năm
1936 Tỉnh ủy lâm thời các tỉnh Quảng Ngãi và Phú Yên lập lại. Bình Định lập
lại Tỉnh ủy cuối năm 1937. Sau đó, các tỉnh này tiến đến thành lập Ban cán sự
liên tỉnh Quảng Nam - Quảng Ngãi - Bình Định - Phú Yên do đồng chí
Nguyễn Trí làm bí th (tiếp sau là đồng chí Nguyễn Chánh). Khánh Hòa đến
tháng 8-1938 mới lập đợc Tỉnh ủy lâm thời. Ninh Thuận, Bình Thuận vẫn cha
lập lại đợc Tỉnh ủy. Cuối năm 1938 Xứ ủy Trung Kỳ phân công đồng chí Trần
Công Xứng triệu tập hội nghị thành lập Ban cán sự liên tỉnh Ninh Thuận -