Đề án Kinh tế Thương mại GVHD: GS.TS. Hoàng Đức Thân
LỜI MỞ ĐẦU
Trong quá trình dần hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, kinh tế
Việt Nam đã từng bước tạo lập cho mình một vị thế trên trường quốc tế.
Năm 2006 là năm đánh dấu bước ngoặt đối với nước ta, Việt Nam đã chính
thức trở thành một thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).
Điều đó có nghĩa sẽ có rất nhiều cơ hội cho kinh tế Việt Nam tăng trưởng
nhưng đồng thời cũng có không ít khó khăn thách thức đòi hỏi chúng ta
phải vượt qua để có thể tiếp tục phát triển.
Đẩy mạnh xuất khẩu là một trong những chính sách hàng đầu của
Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay và trong thời gian tới. Nước ta hiện
nay có 15 mặt hàng xuất khẩu chủ lực, trong đó có: Dầu thô; Hàng dệt
may; Giày dép; Thủy sản; Đồ gỗ…
Năm 2007 vừa qua, tính theo giá trị kim ngạch xuất khẩu, thủy sản
đứng thứ 4, với 3.8 tỷ USD. Con số này đã vượt khá xa so với năm 2006,
và đã gấp gần 1,5 lần so với năm trước đó, năm 2005. Các mặt hàng thủy
sản Việt Nam hiện có mặt tại rất nhiều khu vực thị trường khác nhau và
đang được tiêu thụ khá mạnh tại Nhật Bản, Hoa Kỳ, EU. Đây là một thành
công đáng kể của ngành thủy sản. Trong đó có sự đóng góp rất lớn của các
tỉnh ven biển Nam Bộ. Kim ngạch xuất khẩu thủy sản khu vực này thường
chiếm tỷ trọng trên 60% của cả nước.
Đặc điểm tự nhiên, địa lý và nhiều nhân tố khác thuận lợi là nguyên
nhân chủ yếu khiến việc phát triển nuôi trồng, đánh bắt thủy hải sản xuất
khẩu được coi là chính sách đúng đắn nhằm phát triển nền kinh tế khu vực
các tỉnh ven biển Nam Bộ đồng thời đóng góp một phần đáng kể trong kim
ngạch xuất khẩu nước ta.
Nhìn vào tình hình thực tế, việc chế biến xuất khẩu thủy sản ở các
tỉnh ven biển Nam Bộ đã đạt được những thành tựu bước đầu hết sức to
lớn, tuy nhiên trước đòi hỏi của thị trường cũng như so sánh giữa thực tế và
1
Lê Thị Hải Yến Lớp: Thương mại 47B
Thương mại là quá trình mua bán hàng hóa, dịch vụ trên thị trường,
là lĩnh vực phân phối và lưu thông hàng hóa.
Theo Luật Thương mại 1998 – 2005 thì các hành vi thương mại bao
gồm: mua bán hàng hóa; đại diện cho thương nhân; môi giới thương mại;
ủy thác mua bán hàng hóa; đại lý mua bán hàng hóa; gia công thương mại;
đấu giá hàng hóa; đấu thầu hàng hóa; dịch vụ giám định hàng hóa; khuyến
mại; quảng cáo thương mại; trưng bày giới thiệu hàng hóa và hội chợ triển
lãm thương mại.
1.2. Khái niệm thương mại quốc tế
Nếu hoạt động trao đổi hàng hóa (kinh doanh hàng hóa )vượt ra khỏi
biên giới quốc gia thì người ta gọi đó là ngoại thương (kinh doanh quốc tế
hay thương mại quốc tế).
3
Lê Thị Hải Yến Lớp: Thương mại 47B
Đề án Kinh tế Thương mại GVHD: GS.TS. Hoàng Đức Thân
Thương mại quốc tế phản ánh mối quan hệ kinh tế xã hội, đồng thời
phản ánh sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia và giữa những người sản
xuất cá biệt của các quốc gia khác nhau.
Xét trên tư cách là một quá trình kinh tế, thương mại quốc tế là quá
trình bắt đầu từ khâu nghiên cứu điều tra nhu cầu thị trường thế giới; tổ
chức thu mua tại nguồn hàng; xuất khẩu phân phối sản phẩm vào các kênh
tiêu thụ; thực hiện quá trình xúc tiến thương mại, tổ chức tiêu thụ sản phẩm
và đánh giá hiệu quả tiêu thụ sản phẩm.
Xét trên tư cách là một ngành kinh tế thì thương mại quốc tế được
hiểu là một lĩnh vực chuuên môn hóa có tổ chức, phân công và hợp tác, có
cơ sở vật chất kỹ thuật, có các yếu tố lao động vật tư tiền vốn.
1.3. Khái niệm xuất khẩu hàng hóa và xuất khẩu thủy sản
1.3.1. Khái niệm xuất khẩu hàng hóa
Như đã nói ở trên, hoạt động thương mại vượt ra khỏi biên giới quốc
gia thì được gọi là ngoại thương hay thương mại quốc tế. Hoạt động thương
doanh nghiệp.
Thị trường là một môi trường mà ở đó xảy ra cạnh tranh giữa các
sản phẩm “có thể thay thế cho nhau vì cùng mục đích sử dụng của người
tiêu dùng”.
1.4.2. Khái niệm thị trường xuất khẩu
Việc xuất khẩu hàng hóa là hoạt động thương mại giữa hai quốc gia
và vùng lãnh thổ, hoặc giữa hai chủ thể kinh tế, khác nhau về quốc tịch.
Xuất khẩu mang lại nguồn thu ngoại tệ cho quốc gia. Để thúc đẩy xuất
khẩu, việc cần thiết là phải nghiên cứu kỹ thị trường xuất khẩu. Thị trường
xuất khẩu được hiểu là cung – cầu về loại hàng hóa của nước nhập khẩu đối
với loại hàng hóa đó ở nước có tư cách là nước xuất khẩu.
Trên thị trường này, cạnh tranh xảy ra quyết liệt hơn do không những
phải cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại ở nước sở tại mà còn phải cạnh
tranh với hàng hóa từ các quốc gia xuất khẩu khác trên thế giới
2. Đặc điểm của xuất khẩu hàng hóa và xuất khẩu thủy sản
5
Lê Thị Hải Yến Lớp: Thương mại 47B
Đề án Kinh tế Thương mại GVHD: GS.TS. Hoàng Đức Thân
2.1. Đặc điểm của xuất khẩu hàng hóa
- Thị trường rất rộng lớn, nhưng lại tách biệt, thông qua thông lệ
quốc tế và các quy tắc chung của các Tổ chức Thương mại trên thế giới.
Chính vì vậy công tác nghiên cứu thị trường cần phải được đầu tư và
quan tâm hơn nữa.
- Xuất khẩu hàng hóa cho phép các quốc gia trên thế giới khai thác
triệt để lợi thế so sánh của mình để thu được nhiều lợi nhuận hơn, tạo
điều kiện chuyên môn hóa sản xuất, nâng cao năng suất lao động tạo ra
nhiều sản phẩm hơn cho xã hội.
- Hoạt động xuất khẩu hàng hóa diễn ra giữa hai chủ thể kinh tế ở hai
quốc gia khác nhau do đó luôn tồn tại khoảng cách địa lý. Vì thế cho nên
chi phí vận chuyển, các điều kiện về giao nhận hàng hóa, thanh toán, bảo
Ưu điểm: Nhà xuất khẩu sẽ phân chia bớt rủi ro cho nhà xuất khẩu
trung gian. Do vậy mà lợi nhuận họ thu về sẽ chắc chắn hơn.
Hạn chế: Nhà xuất khẩu cũng phải chia bớt một phần lợi nhuận cho
trung gian nên lợi nhuận của họ sẽ giảm. Hơn nữa nhà xuất khẩu bị chậm
thông tin so cới thị trường, điều này có thể gây thiệt hại lớn, làm cho nhà
xuất khẩu không đáp ứng được yêu cầu của người tiêu dùng.
2.2.3. Hình thức gia công quốc tế
Gia công quốc tế là hoạt động bên đặt gia công giao hoặc bán toàn
bộ nguyên kiệu hoặc bán thành phẩm cho bên nhận gia công. Sau một thời
gian thỏa thuận, bên nhận gia công nộp hoặc bán lại thành phẩm cho bên
gia công. Bên đặt gia công phải trả cho bên nhận gia công một khoản gọi là
phí gia công.
Ưu điểm: Các nhà gia công không phải lo đầu vào và đầu ra, tạo
thêm việc làm, tận dụng được số lao động dư thừa.
Hạn chế: Nhà gia công sẽ không chủ động trong quá trình sản xuất
và sẽ không nắm bắt được thông tin về thị trường, không tạo lập và quảng
bá được thương hiệu.
7
Lê Thị Hải Yến Lớp: Thương mại 47B
Đề án Kinh tế Thương mại GVHD: GS.TS. Hoàng Đức Thân
2.2.4. Hình thức tái xuất khẩu
Là xuất khẩu trở lại nước ngoài những hàng hóa trước đây đã nhập
khẩu nhưng không gia công chế biến. Hình thức này nhằm hưởng lợi nhuận
chênh lệch từ giá mua đi bán lại.
Ưu điểm: Không cần một lượng vốn lớn do không phải đầu tư vào
sản xuất. Chính vì thế nhà xuất khẩu có thể thay đổi sản phẩm xuất khẩu
linh hoạt theo nhu cầu của thị trường.
Hạn chế: Chi phí vận chuyển khá lớn. Rủi ro cũng tương đối lớn do
mua đi bán lại.
2.2.5. Xuất khẩu tại chỗ
nước thay đổi theo mùa do đó việc nuôi trồng cũng như khai thác thủy sản
không liên tục và ổn định trong năm theo mặt hàng chế biến. Chính vì còn
phụ thuộc nhiều vào tự nhiên nên sản lượng thủy sản mỗi mùa mỗi khác,
mỗi năm mỗi khác, do đó tình trạng giá thay đổi liên tục là khó tránh khỏi.
- Khai thác và nuôi trồng trên diện rộng.
Việt Nam là nước có điều kiện địa thuận lợi cho việc nuôi trồng và khai
thác trên diện rộng. Tuy nhiên hiện nay NTTS vẫn còn tồn tại tình trạng
hoạt động theo kiểu nhỏ lẻ, hộ gia đình. Chính vì điều này, việc thu gom
nguyên liệu tập trung diễn ra rất khó khăn. Đồng thời phải đối mặt với “cò
thủy sản”, làm cho hiệu quả sản xuất chế biến xuất khẩu giảm đáng kể. Vì
vậy trong thời gian tới cần phải có kế hoạch quy hoạch cùng nuôi trồng và
khai thác thủy sản.
2.3.2. Đặc điểm của xuất khẩu thủy sản
- Hàng thủy sản Việt Nam hiện có mặt ở trên rất nhiều khu vực thị
trường, trong đó có các thị trường lớn như: Nhật Bản, EU, Hoa Kỳ. Thị
trường tiêu thụ của hàng thủy sản xuất khẩu Việt Nam là rất rộng lớn. Đây
là một thành công đáng kể của ngành thủy sản và của các doanh nghiệp
xuất khẩu thủy sản nước ta.
- Từ cuối năm 2006 khi Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế
giới WTO, hoạt động xuất khẩu thủy sản không những phải tuân thủ những
quy định ngặt nghèo trước đây mà còn phải tuân thủ thêm những “luật
chơi” mới. Nhưng đồng thời cũng có những thuận lợi đáng kể về mặt pháp
9
Lê Thị Hải Yến Lớp: Thương mại 47B
Đề án Kinh tế Thương mại GVHD: GS.TS. Hoàng Đức Thân
lý như sự công bằng trong xuất khẩu giữa các nước, sự thuận lợi trong
tranh chấp thương mại…
- Hoạt động chế biến xuất khẩu phụ thuộc không những vào nhu cầu
thì trường mà việc tăng giảm lợi nhuận, kim ngạch xuất khẩu phụ thuộc rất
nhiều vào năng lực chế biến trong nước, tức là phụ thuộc vào sản lượng
3.1.2. Xuất khẩu tạo nguồn thu ngoại tệ
Hoạt động xuất khẩu kích thích các ngành kinh tế phát triển, góp
phần tăng tích lũy vốn, mở rộng sản xuất, tăng thu nhập cho nền kinh tế,
tạo việc làm, cải thiện mức sống của các tầng lớp dân cư. Ngoại tệ thu được
từ xuất khẩu sẽ là nguồn vốn quan trọng để mua máy móc, thiết bị, công
nghệ… phục vụ cho sản xuất, cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước. Đồng thời cũng là nguồn dự trữ ngoại tệ dồi dào, là điều kiện cần
thiết để giúp cho quá trình ổn định nội tệ và chống lạm phát.
3.1.3. Xuất khẩu góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát
triển
Xuất kẩu góp phần tạo nguồn vốn để nhập khẩu máy móc kỹ thật và
công nghệ làm tăng năng lực sản xuất cho nền kinh tế. Xuất khẩu phát triển
sẽ duy trì và mở rộng thị trường tiêu thụ cho hàng xuất khẩu, tạo điều kiện
cho sản xuất trong nước phát triển ổn định.
Đẩy mạnh xuất khẩu có vai trò tác động đến sự thay đổi cơ cấu kinh
tế ngành theo hướng sử dụng có hiệu quả nhất các lợi thế của đất nước,
tăng sản xuất về số lượng và chất lượng, tăng năng suất và tiết kiệm chi phí
lao động xã hội. Đây là yếu tố then chốt trong quá trình công nghiệp hóa –
hiện đại hóa đất nước.
3.1.4. Xuất khẩu có tác động tích cực đến việc giải quyết công việc làm và cải
thiện đời sống nhân dân
Xuất khẩu tác động đến nhiều mặt của đời sống nhân dân. Khi sản
xuất phát triển, nhiều sản phẩm được xuất khẩu, quy mô sản xất tăng lên,
thu hút nhiều yếu tố đầu vào hơn, trong đó có yếu tố lao động. Đẩy mạnh
xuất khẩu sẽ tác động tích cực giải quyết lao động, việc làm, nâng cao thu
nhập, cải thiện mức sống cho người lao động, góp phần ổn định và phát
triển kinh tế xã hội.
11
Lê Thị Hải Yến Lớp: Thương mại 47B
Đề án Kinh tế Thương mại GVHD: GS.TS. Hoàng Đức Thân
12
Lê Thị Hải Yến Lớp: Thương mại 47B
Đề án Kinh tế Thương mại GVHD: GS.TS. Hoàng Đức Thân
xuất khẩu hàng hóa. Dựa vào tính chất kinh tế của các nguồn vốn ta thấy,
nguồn vốn từ hoạt động xuất khẩu là nguồn vốn quan trọng nhất, và mang
lại ít bất lợi nhất cho nền kinh tế. Kim ngạch xuất khẩu thủy sản luôn
chiếm một tỷ trọng đáng kể trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước,
vào khoảng 10%, và ngành thủy sản cũng đóng góp trên 10% vào GDP
nước ta.
Bảng 1.1 Kim ngạch và cơ cấu xuất khẩu các mặt hàng chủ lực từ năm
1995 đến năm 2007 của Việt Nam.
Đơn vị: Triệu USD và %
Nă
m
Tổng kim
ngạch
Dầu thô Dệt may Thủy sản
Giá
trị
X.K
%
tăng
trưởn
g
Giá
trị
X.K
%
tăng
trưởn
25.5 3502.
7
67.5 24.5 1891.
9
8.2 13.1 1478.
5
52.2 10.3
200
1
1502
7
3.8 3125.
6
10.7 20.8 1975.
4
4.4 13.1 1816.
4
19.1 11.8
200
2
1670
6
11.2 3270 4.6 19.6 2732.
7
39.3 16.4 2021.
7
14.9 13.1
200
3
2017
3928
4
22 7600 3.1 19.3 5300 9.5 13.5 3348 29.4 22.2
200
7
4814
5
22.6 8250 8.6 17.1 6810.
5
28.5 14.1
4
3800 13.5 7.9
Nguồn: Số liệu từ Bộ Công Thương, Bộ Thủy sản và Tổng cục Thống kê (2007)
Trong những năm gần đây, thủy sản đã trở thành một trong những
mặt hàng xuất khẩu chủ lực, đóng vai trò quan trọng trong tổng giá trị xuất
khẩu của nước ta. Năm 1995, giá trị kim ngạch xuất khẩu thủy sản là 621.4
triệu USD thì tới năm 2000, kim ngạch xuất khẩu đã vượt qua con số 1 tỷ
USD, gấp 6 lần so với năm 1990. Năm 2007, kim ngạch xuất khẩu thủy sản
13
Lê Thị Hải Yến Lớp: Thương mại 47B
Đề án Kinh tế Thương mại GVHD: GS.TS. Hoàng Đức Thân
đạt 3.8 tỷ USD, chiếm tới 13.5% tổng kim ngạch xuất khẩu và đứng thứ 4
sau dầu thô, dệt may và giày dép.
3.2.2. Xuất khẩu thủy sản góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đổi mới thiết bị
công nghệ sản xuất và thúc đẩy sản xuất phát triển
- Xuất khẩu góp phần tạo nguồn vốn để nhập khẩu các thiết bị kỹ
thuật và công nghệ nước ngoài vào Việt Nam, góp phần hiện đại hóa nền
kinh tế, nâng cao năng suất thủy sản Việt Nam.
- Xuất khẩu thủy sản phát triển sẽ duy trì và mở rộng thị trường tiêu
thụ thủy sản, nhờ đó sản xuất trong nước cũng ổn định và phát triển.
đối ngoại của nước ta trong quá trình hội nhập nền kinh tế quốc tế
Từ đầu những năm 1980, ngành thuỷ sản đã đi đầu trong cả nước về
mở rộng quan hệ thương mại sang những khu vực thị trường mới trên thế
giới. Năm 1996, ngành thuỷ sản mới chỉ có quan hệ thương mại với 30
nước và vùng lãnh thổ trên thế giới. Đến năm 2001, quan hệ này đã được
mở rộng ra 60 nước và vùng lãnh thổ, năm 2003 là 75 nước và vùng lãnh
thổ. Tính đến năm 2006, các mặt hàng thủy sản Việt Nam đã có mặt trên
130 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới.
Năm 2000, Việt Nam đứng thứ 11 về giá trị xuất khẩu thì năm 2004,
vị trí của Việt Nam là thứ 6. Hàng thủy sản Việt Nam đang không ngừng
được củng cố và mở rộng vị thế trên thị trường quốc tế. Các hiệp định song
phương và đa phương trong lĩnh vực thủy sản ngày càng tăng, tạo điều kiện
cho Việt Nam hội nhập ngày càng sâu vào nền kinh tế khu vực và thế giới.
3.3. Vai trò của xuất khẩu thủy sản trong việc phát triển kinh tế địa phương
Như đã trình bày, điều kiện tự nhiên cực kỳ thuận lợi đã giúp cho các
tỉnh ven biển Nam Bộ phát triển ngành thủy sản. Đặc biệt là phát triển
mạnh hoạt động xuất khẩu thủy sản sang các nước, các khu vực như EU,
châu Mỹ trong đó quan trọng nhất là Hoa Kỳ…
- Tăng kim ngạch xuất khẩu thủy sản, tăng sự đóng góp vào nguồn
thu của tỉnh, tạo ngân sách cho xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển kinh tế
và ổn định đời sống xã hội của tỉnh, thành phố.
15
Lê Thị Hải Yến Lớp: Thương mại 47B
Đề án Kinh tế Thương mại GVHD: GS.TS. Hoàng Đức Thân
- Ngành thủy sản nói chung và thủy sản xuất khẩu nói riêng đã thúc
đẩy sản xuất thủy sản ở khu vực các tỉnh ven biển Nam Bộ phát triển lên
một trình độ mới. Nâng cao năng suất lao động và từng bước chuyên môn
hóa ngành thủy sản.
- Bên cạnh đó nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường và yêu cầu thực tế
của việc phát triển, các tỉnh ven biển Nam Bộ đã nhập khẩu một số lượng
(km
2
)
Dân số
(người)
Mật độ
dân số
(người / km
2
)
Đường
bờ biển
(km)
Nhiệt độ
trung
bình(
0
C)
Độ ẩm
tương
đối (%)
Bà Rịa – Vũng
Tàu
1975.15 884900 448 153 27 83
Bạc Liêu 2520.6 786200 300.2 56 26 81.5
Bến tre 2321.6 1345600 580 60 26.5 80
Bình Thuận 7828 1135900 145 192 27 79
Cà Mau 5211 1200800 231 248 27 78
Kiên Giang 6299 1634043 259 200 27.3 82.5
Ninh Thuận 3360.1 911600 271 105 26.5 83
Khí hậu không thuận lợi cũng ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động
NTTS. Những thất thường của thời tiết, sự thay đổi khí hậu, nhiệt độ, mực
nước, sự kéo dài của một mùa… làm giảm sản lượng, tăng giá nguyên liệu,
thiếu nguyên liệu sản xuất… đã làm giảm hiệu quả hoạt động của các
doanh nghiệp chế biến hàng thủy sản xuất khẩu.
4. Những nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu thủy sản
Khi các nhân tố liên quan đến chi phí sản xuất hàng xuất khẩu ở
trong nước không thay đổi, giá trị xuất khẩu phụ thuộc vào thu nhập của
nước ngoài và vào tỷ giá hối đoái. Thu nhập của nước ngoài tăng cũng có
nghĩa là khi tăng trưởng kinh tế của nước ngoài tăng tốc thì giá trị xuất
khẩu có cơ hội tăng lên. Đồng thời nếu tỷ giá hối đoái tăng lên thì giá trị
xuất khẩu cũng có thể tăng nhờ hàng tính bằng ngoại tệ trở nên thấp đi. Nói
một cách khái quát, có thể phân chia các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động
xuất khẩu nói riêng và hoạt động nhập khẩu nói chung có thể chia thành
nhân tố khách quan và nhân tố chủ quan.
4.1. Nhân tố khách quan
4.1.1. Các nhân tố chính sách kinh tế vĩ mô
Các công cụ chính sách chủ yếu thường được sử dụng để điều tiết
các hoạt động xuất khẩu là:
- Thuế quan: Trong xuất khẩu, nó là loại thuế đánh vào từng đơn vị
hàng xuất khẩu. Điều này đã làm tăng tương đối giá cả hàng hóa xuất khẩu
so với mức giá quốc tế. Do đó đem lại bất lợi cho hàng hóa xuất khẩu. Vì
18
Lê Thị Hải Yến Lớp: Thương mại 47B
Đề án Kinh tế Thương mại GVHD: GS.TS. Hoàng Đức Thân
vậy nó chỉ áp dụng cho một số loại hàng hóa xuất khẩu để bổ sung ngân
sách nhà nước.
- Giấy phép xuất khẩu: Được đưa ra nhằm mục đích quản lý hoạt
động xuất khẩu có hiệu quả hơn và từ đó điều chỉnh loại hàng xuất khẩu
cũng như bảo vệ tài nguyên và cải thiện cán cân thương mại.
phát triển xuất khẩu của quốc gia đó bởi việc có thể có được những mối
quan hệ thân thiết hơn so với các nước khác không tham gia ký kết hiệp
định hay hiệp ước.
4.1.4. Nhân tố tự nhiên
- Điều kiện về địa lý.
Việt Nam có diện tích đất liền vào khoảng trên 330.369 km
2
, có
đường bờ biển kéo dài trên 3260 km trong đó có 112 cử sông, tính trung
bình cứ 100 km
2
diện tích đất liền thì có 1km bờ biển. Mặt khác nước ta có
nhiều diện tích đất ngập nước, sông suối, hồ, ao, kênh rạch… tạo điều kiện
rất lớn cho việc nuôi trồng và khai thác thủy hải sản.
Các tỉnh ven biển Nam Bộ gồm có 11 tỉnh: Bà Rịa – Vũng Tàu, Bạc
Liêu, Bến Tre, Bình Thuận, Cà Mau, Kiên Giang, Ninh Thuận, Sóc Trăng,
Tiền Giang, Tp.HCM và tỉnh Trà Vinh. Đây là các tỉnh có vị trí địa lý thuận
lợi cho việc NTTS và khai thác, đánh bắt thủy sản ngoài biển khơi.
- Về nguồn lợi thủy sản và tiềm năng phát triển sản xuất hàng thủy sản.
Việt Nam hiện nay đã phát hiện được trên 11000 loài động vật và
thực vật biển, cá biển có khoảng 2000 loài trong đó có hơn 130 loài cá có
giá trị kinh tế và gần 50 loài có giá trị kinh tế cao như: cá thu, bạc má,
hồng, đối, vược, nụ song… Ngoài ra còn có hơn 1600 loài giáp xác trong
đó có hơn 70 loài thuộc các họ như: tôm hùm, tôm gai, tôm he, tôm vỏ…
Biển Việt Nam còn có khoảng hơn 2500 loài nhuyễn thể trong đó mực và
bạch tuộc là có giá trị kinh tế cao nhất. Ngoài ra còn có rong và tảo.
Vùng biển Nam Bộ ít chịu ảnh hưởng của gió mùa. Theo tài liệu điều
tra, vùng biển khu vực này có trên 760 loài cá, 45 loài tôm, 27 loài mực và
khả năng cho phép khai thác các loại hải sản vào khoảng trên 2.2 tỷ
20
tôm sú, tôm càng xanh, tôm chân trắng…
Nhuyễn thể có các loài như trai, điệp, nghêu, sò, ốc…
4.1.5. Nhân tố văn hóa xã hội
21
Lê Thị Hải Yến Lớp: Thương mại 47B
Đề án Kinh tế Thương mại GVHD: GS.TS. Hoàng Đức Thân
Khu vực các tỉnh ven biển Nam Bộ là khu vực sớm phát triển ngư
nghiệp. Trong cơ cấu các nghề trên địa bàn, khai thác hải sản là nghề
truyền thống và chiếm tỷ lệ lao động nhiều nhất.
Chính vì nghề thủy sản phát triển khá sớm nên ở đây đã hình thành
những mô hình HTX, hộ nuôi thủy sản và tổ, đội khai thác hải sản có tổ
chức khá chặt chẽ. Điều này tạo thuận lợi cho việc phát triển khai thác chế
biến xuất khẩu hàng thủy sản do ngành thủy sản được chú trọng.
4.1.6. Nhân tố khác
Các nhân tố khác được đề cập ở đây như là các nhân tố về chiến
tranh, sự thay đổi nhu cầu thị trường.
Chiến tranh hay những bất ổn về chính trị, sự suy thoái về kinh tế
của một số quốc gia đang là bạn hàng của nước ta trong lĩnh vực thủy sản
đã làm giảm giá trị xuất khẩu thủy sản vào thị trường này, tức là làm giảm
kim ngạch xuất khẩu của ngành thủy sản.
Nhân tố thứ hai là sự thay đổi nhu cầu thị trường. Hiện các nước
nhập khẩu thủy sản chủ yếu của nước ta là những nước phát triển như Nhật
Bản, Hoa Kỳ và các nước thuộc khu vực Châu Âu (EU). Tuy nhiên, theo
nghiên cứu của các tổ chức kinh tế thế giới, nhu cầu thủy sản ở các nước
phát triển sẽ giảm một lượng đáng kể trong thời gian tới. Đồng thời nhu
cầu thủy sản lại tăng lên một lượng tương đối nhỏ ở các nước đang phát
triển.
4.2. Nhân tố chủ quan
4.2.1. Nhân tố con người
Bên cạnh những nhân tố cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh
bắt thông tin nhanh chóng và chính xác hơn, tạo điều kiện thúc đẩy xuất
khẩu tốt hơn.
Hệ thống tàu thuyền phục vụ cho khai thác đánh bắt thủy sản hiện
nay đã được trang bị một cách tương đối. Cả nước ta có trên 6258 chiếc tàu
khai thác xa bờ với tổng công suất trên 1 triệu CV, và khu vực các tỉnh ven
biển Nam bộ chiếm tới 2/5. Điều này là một phần nguyên nhân khiến cho
khai thác thủy hải sản ở khu vực này phát triển đồng thời giá trị kim ngạch
xuất khẩu thủy sản cũng rất cao.
23
Lê Thị Hải Yến Lớp: Thương mại 47B
Đề án Kinh tế Thương mại GVHD: GS.TS. Hoàng Đức Thân
Cơ sở hậu cần dịch vụ cho khai thác thủy sản ở các tỉnh ven biển
Nam Bộ những năm gần đây đã có những bước phát triển nhanh chóng, đáp
ứng cơ bản yêu cầu phát triển thủy sản trong giai đoạn hiện nay. Việc hình
thành và xây dựng các cơ sở dịch vụ hậu cần diễn ra trên 3 lĩnh vực cơ bản
như: Cơ khí đóng sửa chữa tàu thuyền; cảng cá, bến cá và dịch vụ cung cấp
nguyên vật liệu; thiết bị và hệ thống tiêu thụ sản phẩm, thông tin liên lạc.
4.2.3. Nhóm nhân tố thuộc về bộ máy quản lý, trình độ tổ chức lãnh đạo
“Một người biết lo bằng kho người biết làm” – đây là câu châm ngôn
nói về tầm quan trọng của quản trị. C.Mac đã nói: “Không cần mua sắm
thêm thiết bị công nghệ, chỉ cần tổ chức sắp xếp lại lao động thì năng suất
lao động cũng có thể tăng lên”. Một hệ thống quản trị tốt sẽ giúp doanh
nghiệp sử dụng tốt mọi nguồn lực của tổ chức, nâng cao năng lực sản xuất
và hiệu quả hoạt động.
24
Lê Thị Hải Yến Lớp: Thương mại 47B
Đề án Kinh tế Thương mại GVHD: GS.TS. Hoàng Đức Thân
PHẦN II: THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU THỦY SẢN Ở
CÁC TỈNH VEN BIỂN NAM BỘ
1. Thực trạng xuất khẩu thủy sản của các tỉnh ven biển Nam Bộ