Đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản ở các tỉnh ven biển Nam Bộ - Pdf 11

Đề án Kinh tế Thương mại
GVHD: GS.TS. HoàngĐức Thân
LỜI MỞ ĐẦU
Trong quá trình dần hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, kinh tế
Việt Nam đã từng bước tạo lập cho mình một vị thế trên trường quốc tế.
Năm 2006 là năm đánh dấu bước ngoặt đối với nước ta, Việt Nam đã chính
thức trở thành một thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).
Điều đó có nghĩa sẽ có rất nhiều cơ hội cho kinh tế Việt Nam tăng trưởng
nhưng đồng thời cũng có không ít khó khăn thách thức đòi hỏi chúng ta
phải vượt qua để có thể tiếp tục phát triển.
Đẩy mạnh xuất khẩu là một trong những chính sách hàng đầu của
Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay và trong thời gian tới.Nước ta hiện
nay có 15 mặt hàng xuất khẩu chủ lực, trong đó có: Dầu thô; Hàng dệt
may; Giày dép; Thủy sản; Đồ gỗ…
Năm 2007 vừa qua, tính theo giá trị kim ngạch xuất khẩu, thủy sản
đứng thứ 4, với 3.8 tỷ USD. Con số này đã vượt khá xa so với năm 2006,
và đã gấp gần 1,5 lần so với năm trước đó, năm 2005. Các mặt hàng thủy
sản Việt Nam hiện có mặt tại rất nhiều khu vực thị trường khác nhau và
đang được tiêu thụ khá mạnh tại Nhật Bản, Hoa Kỳ, EU. Đây là một thành
công đáng kể của ngành thủy sản. Trong đó có sự đóng góp rất lớn của các
tỉnh ven biển Nam Bộ. Kim ngạch xuất khẩu thủy sản khu vực này thường
chiếm tỷ trọng trên 60% của cả nước.
Đặc điểm tự nhiên, địa lý và nhiều nhân tố khác thuận lợi là nguyên
nhân chủ yếu khiến việc phát triển nuôi trồng, đánh bắt thủy hải sản xuất
khẩu được coi là chính sách đúng đắn nhằm phát triển nền kinh tế khu vực
các tỉnh ven biển Nam Bộ đồng thời đóng góp một phần đáng kể trong kim
ngạch xuất khẩu nước ta.
Nhìn vào tình hình thực tế, việc chế biến xuất khẩu thủy sản ở các
tỉnh ven biển Nam Bộ đã đạt được những thành tựu bước đầu hết sức to
Lê Thị Hải Yến
Lớp: Thương mại 47B

biển, đường sắt, đường bộ và các hành vi thương mại khác theo quy định
của pháp luật
1.1.2. Khái niệm thương mại theo nghĩa hẹp
Thương mại là quá trình mua bán hàng hóa, dịch vụ trên thị trường,
là lĩnh vực phân phối và lưu thông hàng hóa.
Theo Luật Thương mại 1998 – 2005 thì các hành vi thương mại bao
gồm: mua bán hàng hóa; đại diện cho thương nhân; môi giới thương mại;
ủy thác mua bán hàng hóa; đại lý mua bán hàng hóa; gia công thương mại;
đấu giá hàng hóa; đấu thầu hàng hóa; dịch vụ giám định hàng hóa; khuyến
mại; quảng cáo thương mại; trưng bày giới thiệu hàng hóa và hội chợ triển
lãm thương mại.
1.2. Khái niệm thương mại quốc tế
Nếu hoạt động trao đổi hàng hóa (kinh doanh hàng hóa )vượt ra khỏi
biên giới quốc gia thì người ta gọi đó là ngoại thương (kinh doanh quốc tế
hay thương mại quốc tế).
Lê Thị Hải Yến
Lớp: Thương mại 47B
Đề án Kinh tế Thương mại
GVHD: GS.TS. HoàngĐức Thân
Thương mại quốc tế phản ánh mối quan hệ kinh tế xã hội, đồng thời
phản ánh sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia và giữa những người sản
xuất cá biệt của các quốc gia khác nhau.
Xét trên tư cách là một quá trình kinh tế, thương mại quốc tế là quá
trình bắt đầu từ khâu nghiên cứu điều tra nhu cầu thị trường thế giới; tổ
chức thu mua tại nguồn hàng; xuất khẩu phân phối sản phẩm vào các kênh
tiêu thụ; thực hiện quá trình xúc tiến thương mại, tổ chức tiêu thụ sản phẩm
và đánh giá hiệu quả tiêu thụ sản phẩm.
Xét trên tư cách là một ngành kinh tế thì thương mại quốc tế được
hiểu là một lĩnh vực chuuên môn hóa có tổ chức, phân công và hợp tác, có
cơ sở vật chất kỹ thuật, có các yếu tố lao động vật tư tiền vốn.

thông tiền tệ.
Thị trường là quá trình người mua và người bán tác động qua lại lẫn
nhau để xác định giá cả và khối lượng hàng hóa mua bán.
Thị trường là một tập hợp các khách hàng có nhu cầu, có khả năng
thanh toán nhưng chưa được thỏa mãn và đang hướng tới sự thỏa mãn của
doanh nghiệp.
Thị trường là một môi trường mà ở đó xảy ra cạnh tranh giữa các
sản phẩm “có thể thay thế cho nhau vì cùng mục đích sử dụng của người
tiêudùng”.
1.4.2. Khái niệm thị trường xuất khẩu
Việc xuất khẩu hàng hóa là hoạt động thương mại giữa hai quốc gia
và vùng lãnh thổ, hoặc giữa hai chủ thể kinh tế, khác nhau về quốc tịch.
Xuất khẩu mang lại nguồn thu ngoại tệ cho quốc gia. Để thúc đẩy xuất
khẩu, việc cần thiết là phải nghiên cứu kỹ thị trường xuất khẩu. Thị trường
xuất khẩu được hiểu là cung – cầu về loại hàng hóa của nước nhập khẩu đối
với loại hàng hóa đó ở nước có tư cách là nước xuất khẩu.
Lê Thị Hải Yến
Lớp: Thương mại 47B
Đề án Kinh tế Thương mại
GVHD: GS.TS. HoàngĐức Thân
Trên thị trường này, cạnh tranh xảy ra quyết liệt hơn do không
những phải cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại ở nước sở tại mà còn
phải cạnh tranh với hàng hóa từ các quốc gia xuất khẩu khác trên thế giới
2. Đặc điểm của xuất khẩu hàng hóa và xuất khẩu thủy sản
2.1. Đặc điểm của xuất khẩu hàng hóa
- Thị trường rất rộng lớn, nhưng lại tách biệt, thông qua thông lệ
quốc tế và các quy tắc chung của các Tổ chức Thương mại trên thế giới.
Chính vì vậy công tác nghiên cứu thị trường cần phải được đầu tư và quan
tâm hơn nữa.
- Xuất khẩu hàng hóa cho phép các quốc gia trên thế giới khai thác

Hạn chế: Hình thức này cũng gặp rất nhiều rủi ro khi thị trường trong
nước biến động. Doanh nghiệp xuất khẩu sẽ không bán được hàng hóa hoặc
khi giá cả trong nước thay đổi bất ngờ, doanh nghiệp xuất khẩu có khi phải
chịu thiệt hại rất lớn.
2.2.2.Hình thức xuất khẩu gián tiếp
Xuất khẩu gián tiếp là hình thức bán hàng của một quốc gia cho quốc
gia nước ngoài thông qua trung gian.
Ưu điểm: Nhà xuất khẩu sẽ phân chia bớt rủi ro cho nhà xuất khẩu
trung gian. Do vậy mà lợi nhuận họ thu về sẽ chắc chắn hơn.
Hạn chế: Nhà xuất khẩu cũng phải chia bớt một phần lợi nhuận cho
trung gian nên lợi nhuận của họ sẽ giảm. Hơn nữa nhà xuất khẩu bị chậm
thông tin so cới thị trường, điều này có thể gây thiệt hại lớn, làm cho nhà
xuất khẩu không đáp ứng được yêu cầu của người tiêu dùng.
2.2.3. Hình thức gia công quốc tế
Gia công quốc tế là hoạt động bên đặt gia công giao hoặc bán toàn
bộ nguyên kiệu hoặc bán thành phẩm cho bên nhận gia công. Sau một thời
gian thỏa thuận, bên nhận gia công nộp hoặc bán lại thành phẩm cho bên
gia công. Bên đặt gia công phải trả cho bên nhận gia công một khoản gọi là
phí gia công.
Lê Thị Hải Yến
Lớp: Thương mại 47B
Đề án Kinh tế Thương mại
GVHD: GS.TS. HoàngĐức Thân
Ưu điểm: Các nhà gia công không phải lo đầu vào và đầu ra, tạo
thêm việc làm, tận dụng được số lao động dư thừa.
Hạn chế: Nhà gia công sẽ không chủ động trong quá trình sản xuất
và sẽ không nắm bắt được thông tin về thị trường, không tạo lập và quảng
bá được thương hiệu.
Lê Thị Hải Yến
Lớp: Thương mại 47B

Lớp: Thương mại 47B
Đề án Kinh tế Thương mại
GVHD: GS.TS. HoàngĐức Thân
không ngừng gia tăng, đóng góp một lượng đáng kể vào kim ngạch xuất
khẩu của cả nước.
- Quá trình sản xuất gắn liền với khâu chế biến và tiêu thụ.
Thủy sản sau khi thu hoạch cần được bảo quản, sơ chế hoặc chế biến ngay
nếu không sẽ làm giảm thậm chí là mất giá trị sau một thời gian ngắn. Hơn
thế nữa thời hạn sử dụng của loại hàng hóa này cũng không dài. Điều này
đòi hỏi phải làm tốt công tác dịch vụ hậu cần đồng thời tìm kiếm thị
trường, thúc đẩy tiêu thụ.
- Sản phẩm có tính thời vụ.
Do đặc điểm tự nhiên, khí hậu của nước ta là khá phức tạp, thời tiết và mực
nước thay đổi theo mùa do đó việc nuôi trồng cũng như khai thác thủy sản
không liên tục và ổn định trong năm theo mặt hàng chế biến. Chính vì còn
phụ thuộc nhiều vào tự nhiên nên sản lượng thủy sản mỗi mùa mỗi khác,
mỗi năm mỗi khác, do đó tình trạng giá thay đổi liên tục là khó tránh khỏi.
- Khai thác và nuôi trồng trên diện rộng.
Việt Nam là nước có điều kiện địa thuận lợi cho việc nuôi trồng và khai
thác trên diện rộng. Tuy nhiên hiện nay NTTS vẫn còn tồn tại tình trạng
hoạt động theo kiểu nhỏ lẻ, hộ gia đình. Chính vì điều này, việc thu gom
nguyên liệu tập trung diễn ra rất khó khăn. Đồng thời phải đối mặt với “cò
thủy sản”, làm cho hiệu quả sản xuất chế biến xuất khẩu giảm đáng kể. Vì
vậy trong thời gian tới cần phải có kế hoạch quy hoạch cùng nuôi trồng và
khai thác thủy sản.
2.3.2. Đặc điểm của xuất khẩu thủy sản
- Hàng thủy sản Việt Nam hiện có mặt ở trên rất nhiều khu vực thị
trường, trong đó có các thị trường lớn như: Nhật Bản, EU, Hoa Kỳ. Thị
trường tiêu thụ của hàng thủy sản xuất khẩu Việt Nam là rất rộng lớn. Đây
là một thành công đáng kể của ngành thủy sản và của các doanh nghiệp

Mỗi quốc gia có những lợi thế khác nhau. Và theo lý thuyết thương
mại (lý thuyết lợi thế tuyệt đối, tương đối) thì các quốc gia nên tập trung
chuyên môn hóa sản xuất những sản phẩm mình có lợi thế so sánh, sau đó
Lê Thị Hải Yến
Lớp: Thương mại 47B
Đề án Kinh tế Thương mại
GVHD: GS.TS. HoàngĐức Thân
trao đổi với quốc gia khác, tức là tập trung sản xuất và xuất khẩu những sản
phẩm có lợi thế so sánh.
Xuất khẩu lại có vai trò tác động ngược lại là làm sức cạnh tranh của
hàng hóa được nâng lên, tăng trưởng kinh tế trở nên ổn định và bền vững
hơn nhờ các nguồn lực được phân bổ một cách có hiệu quả hơn. Quá trình
này cũng tạo ra cơ hội cho tất cả các nước, nhất là các nước đang phát triển,
đẩy mạnh công nghiệp hóa, trên cơ sở ứng dụng thành quả của cuộc cách
mạng khoa học công nghệ.
3.1.2. Xuất khẩu tạo nguồn thu ngoại tệ
Hoạt động xuất khẩu kích thích các ngành kinh tế phát triển, góp
phần tăng tích lũy vốn, mở rộng sản xuất, tăng thu nhập cho nền kinh tế,
tạo việc làm, cải thiện mức sống của các tầng lớp dân cư. Ngoại tệ thu được
từ xuất khẩu sẽ là nguồn vốn quan trọng để mua máy móc, thiết bị, công
nghệ… phục vụ cho sản xuất, cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước. Đồng thời cũng là nguồn dự trữ ngoại tệ dồi dào, là điều kiện cần
thiết để giúp cho quá trình ổn định nội tệ và chống lạm phát.
3.1.3. Xuất khẩu góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất
phát triển
Xuất kẩu góp phần tạo nguồn vốn để nhập khẩu máy móc kỹ thật và
công nghệ làm tăng năng lực sản xuất cho nền kinh tế. Xuất khẩu phát triển
sẽ duy trì và mở rộng thị trường tiêu thụ cho hàng xuất khẩu, tạo điều kiện
cho sản xuất trong nước phát triển ổn định.
Đẩy mạnh xuất khẩu có vai trò tác động đến sự thay đổi cơ cấu kinh

góp phần vào việc ổn định chính trị của một quốc gia. Vì vậy, các quốc gia
cần phải thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa ra thị trường thế giới.
3.2. Vai trò của xuất khẩu hàng thủy sản đối với chiến lược phát triển
kinh tế Việt Nam
3.2.1. Xuất khẩu thủy sản tạo nguồn vốn cho nhập khẩu đồng thời phát triển
sản xuất, phục vụ công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước
Lê Thị Hải Yến
Lớp: Thương mại 47B
Đề án Kinh tế Thương mại
GVHD: GS.TS. HoàngĐức Thân
Tại ĐH IX, Đảng ta đã khẳng định đường lối kinh tế nước ta là “đẩy
mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ,
ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất
phù hợp với định hướng XHCN, phấn đấu đưa nước ta ra khỏi tình trạnh
kém phát triển; nâng cao đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của nhân
dân; tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công
nghiệp theo hướng hiện đại”.
Để có thể làm được điều này, nước ta phải có đủ vốn để nhập khẩu
máy móc thiết bị công nghệ phục vụ cho quá trình CNH – HĐH đất nước.
Nguồn vốn này có thể là từ: vay nước ngoài, đầu tư nước ngoài, viện trợ,
xuất khẩu hàng hóa. Dựa vào tính chất kinh tế của các nguồn vốn ta thấy,
nguồn vốn từ hoạt động xuất khẩu là nguồn vốn quan trọng nhất, và mang
lại ít bất lợi nhất cho nền kinh tế. Kim ngạch xuất khẩu thủy sản luôn
chiếm một tỷ trọng đáng kể trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước,
vào khoảng 10%, và ngành thủy sản cũng đóng góp trên 10% vào GDP
nước ta.
Bảng 1.1 Kim ngạch và cơ cấu xuất khẩu các mặt hàng chủ lực từ năm
1995 đến năm 2007 của Việt Nam.
Đơn vị: Triệu USD và %


trọn
g
Giá
trị
X.K
%
tăng
trưởn
g
% tỷ
trọn
g
200
0
1448
2
25.5 3502.
7
67.5 24.5 1891.
9
8.2 13.1 1478.
5
52.2 10.3
200
1
1502
7
3.8 3125.
6
10.7 20.8 1975.

3220
0
23.8 7373.
5
30 23.1 4838.
4
11.1 14.9 2738.
8
10.4 8.2
200
6
3928
4
22 7600 3.1 19.3 5300 9.5 13.5 3348 29.4 22.2
200
7
4814
5
22.6 8250 8.6 17.1 6810.
5
28.5 14.1
4
3800 13.5 7.9
Nguồn: Số liệu từ Bộ Công Thương, Bộ Thủy sản và Tổng cục Thống kê (2007)
Trong những năm gần đây, thủy sản đã trở thành một trong những
mặt hàng xuất khẩu chủ lực, đóng vai trò quan trọng trong tổng giá trị xuất
khẩu của nước ta. Năm 1995, giá trị kim ngạch xuất khẩu thủy sản là 621.4
triệu USD thì tới năm 2000, kim ngạch xuất khẩu đã vượt qua con số 1 tỷ
USD, gấp 6 lần so với năm 1990. Năm 2007, kim ngạch xuất khẩu thủy sản
đạt 3.8 tỷ USD, chiếm tới 13.5% tổng kim ngạch xuất khẩu và đứng thứ 4

cao thu nhập và cải thiện đời sống người lao động.
Đồng thời xuất khẩu thủy sản cũng góp phần tích cực vào chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông thôn ven biển. Ngoài ra, ngành thủy sản còn đóng
góp vào việc phân phối lại thu nhập ở các vùng nông thôn cũng như góp
phần vào việc thực hiện thành công mục tiêu dinh dưỡng quốc gia.
Như vậy, năng lực sản xuất của ngành thủy sản nâng lên, cùng với
việc đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản đã góp phần tích cực giải quyết một số
vấn đề xã hội.
3.2.4. Xuất khẩu thủy sản góp phần mở rộng và thúc đẩy các mối quan hệ
kinh tế đối ngoại của nước ta trong quá trình hội nhập nền kinh tế quốc tế
Từ đầu những năm 1980, ngành thuỷ sản đã đi đầu trong cả nước về
mở rộng quan hệ thương mại sang những khu vực thị trường mới trên thế
giới. Năm 1996, ngành thuỷ sản mới chỉ có quan hệ thương mại với 30
nước và vùng lãnh thổ trên thế giới. Đến năm 2001, quan hệ này đã được
mở rộng ra 60 nước và vùng lãnh thổ, năm 2003 là 75 nước và vùng lãnh
thổ.Tính đến năm 2006, các mặt hàng thủy sản Việt Nam đã có mặt trên
130 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới.
Năm 2000, Việt Nam đứng thứ 11 về giá trị xuất khẩu thì năm 2004,
vị trí của Việt Nam là thứ 6. Hàng thủy sản Việt Nam đang không ngừng
Lê Thị Hải Yến
Lớp: Thương mại 47B
Đề án Kinh tế Thương mại
GVHD: GS.TS. HoàngĐức Thân
được củng cố và mở rộng vị thế trên thị trường quốc tế. Các hiệp định song
phương và đa phương trong lĩnh vực thủy sản ngày càng tăng, tạo điều kiện
cho Việt Nam hội nhập ngày càng sâu vào nền kinh tế khu vực và thế giới.
3.3. Vai trò của xuất khẩu thủy sản trong việc phát triển kinh tế địa
phương
Như đã trình bày, điều kiện tự nhiên cực kỳ thuận lợi đã giúp cho các
tỉnh ven biển Nam Bộ phát triển ngành thủy sản. Đặc biệt là phát triển

lớn, với nhiều cửa sông cửa rạch nên rất phong phú về chủng loại hải sản.
Hơn thế nữa, khai thác hải sản luôn đóng vai trò quan trọng trong
phát triển ngành thủy sản nói chung và phát triển xuất khẩu thủy sản nói
riêng. Do nằm gần biển nên tất cả các tỉnh trong khu vực này đều có nhiều
cảng cá, bến cá phục vụ việc khai thác hải sản gần bờ và cả xa bờ.
Các điều kiện về thời tiết và khí hậu cũng tương đối ổn định, tạo điều
kiện thuận lợi cho việc phát triển NTTS và khai thác hải sản. Diện tích mặt
nước cho nuôi trồng thủy sản ở các tỉnh này là khá lớn và không ngừng
tăng lên.
Bảng 1.2 Điều kiện tự nhiên của các tỉnh ven biển Nam Bộ.
Tỉnh
Diện tích
(km
2
)
Dân số
(người)
Mật độ
dân số
(người / km
2
)
Đường
bờ biển
(km)
Nhiệt độ
trung
bình(
0
C)

trong nghề khai thác hải sản.
Nhiệt độ trung bình và độ ẩm trung bình khu vực này là 26.77
0
C và
81.23%, khá thuận lợi trong nuôi trồng thủy sản, một điều kiện thích hợp
cho việc sinh sống và phát triển của các giống thủy sản.
Tuy nhiên trong thời gian vừa qua, những sự thay đổi đột ngột về
thời tiết, môi trường tự nhiên đã ảnh hưởng tới việc khai thác thủy sản.
Việc thay đổi đột ngột các dòng hải lưu, các luồng cá, và sự xuất hiện của
các loài sinh vật lạ trong vùng khai thác hải sản không chỉ ảnh hưởng về
sản lượng khai thác mà còn ảnh hưởng về chất lượng hải sản.Điều này đã
gây khó khăn đáng kể cho một số doanh nghiệp chế biến xuất khẩu thủy
sản trong thời gian vừa qua.
Khí hậu không thuận lợi cũng ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động
NTTS. Những thất thường của thời tiết, sự thay đổi khí hậu, nhiệt độ, mực
nước, sự kéo dài của một mùa… làm giảm sản lượng, tăng giá nguyên liệu,
thiếu nguyên liệu sản xuất… đã làm giảm hiệu quả hoạt động của các
doanh nghiệp chế biến hàng thủy sản xuất khẩu.
4. Những nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu thủy sản
Lê Thị Hải Yến
Lớp: Thương mại 47B
Đề án Kinh tế Thương mại
GVHD: GS.TS. HoàngĐức Thân
Khi các nhân tố liên quan đến chi phí sản xuất hàng xuất khẩu ở
trong nước không thay đổi, giá trị xuất khẩu phụ thuộc vào thu nhập của
nước ngoài và vào tỷ giá hối đoái. Thu nhập của nước ngoài tăng cũng có
nghĩa là khi tăng trưởng kinh tế của nước ngoài tăng tốc thì giá trị xuất
khẩu có cơ hội tăng lên. Đồng thời nếu tỷ giá hối đoái tăng lên thì giá trị
xuất khẩu cũng có thể tăng nhờ hàng tính bằng ngoại tệ trở nên thấp đi. Nói
một cách khái quát, có thể phân chia các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động

- Những hiệp ước, hiệp định thương mại về thủy sản mà Việt Nam
đã kí kết.
- Những quy định của nước nhập khẩu hàng thủy sản.
- Những vấn đề pháp lý và tập quán quốc tế trong xuất khẩu thủy sản.
4.1.3. Các quan hệ kinh tế quốc tế
Việc xuất khẩu hàng hóa thường được thực hiện giữa hai chủ thể
kinh tế của 2 quốc gia khác nhau, hay nói cách khác là quan hệ thương mại
giữa 2 quốc gia hay vùng lãnh thổ khác nhau. Chính vì đặc điểm này cho
nên tạo ra nét đặc trưng riêng của hoạt động xuất khẩu.
Trong quan hệ này, nhà xuất khẩu phải đối mặt với những hàng rào
thuế quan, phi thuế quan, các tiêu chuẩn kĩ thuật khác. Đôi khi những trở
ngại này lớn hay nhỏ lại phụ thuộc vào quan hệ kinh tế song phương giữa
nước xuất khẩu và nước nhập khẩu.
Quốc gia tham gia vào liên minh và hiệp định thương mại thường
phải tuân thủ rất nhiều nguyên tắc, tuy nhiên đây lại là nhân tố thúc đẩy
phát triển xuất khẩu của quốc gia đó bởi việc có thể có được những mối
quan hệ thân thiết hơn so với các nước khác không tham gia ký kết hiệp
định hay hiệp ước.
4.1.4. Nhân tố tự nhiên
- Điều kiện về địa lý.
Việt Nam có diện tích đất liền vào khoảng trên 330.369 km
2
, có
đường bờ biển kéo dài trên 3260 km trong đó có 112 cử sông, tính trung
bình cứ 100 km
2
diện tích đất liền thì có 1km bờ biển. Mặt khác nước ta có
Lê Thị Hải Yến
Lớp: Thương mại 47B
Đề án Kinh tế Thương mại

Biển Đông Nam Bộ 2075889 47.1 830456 44.7
Lê Thị Hải Yến
Lớp: Thương mại 47B
Đề án Kinh tế Thương mại
GVHD: GS.TS. HoàngĐức Thân
Biển Tây Nam Bộ 506679 11.5 223075 12.07
Gò nổi 10000 0.2 25000 0.13
Khu vực khác quanh biển Đông 510000 11.6 230000 12.4
Tổng cộng 4406228 100 1856496 100
Nguồn: Viện nghiên cứu Hải sản, Bộ Thủy sản (2003)
Bên cạnh đó, chế độ thời tiết, các điều kiện tự nhiên đa dạng tạo điều
kiện phát triển nuôi trồng nhiều loại thủy sản. Cả nước có khoảng 550 loài
cá nước ngọt và khu vực các tỉnh ven biển Nam Bộ có khoảng 378 loài
trong đó có nhiều loài có giá trị kinh tế cao.
Nguồn cá nước lợ, mặn cũng vô cùng phong phú, trong đó có các
loài có giá trị kinh tế cao như cá song, cá hồng, cá măng, cá cam, cá
bống…
Tôm là loại thủy sản được nuôi trồng khá phổ biến đồng thời đóng
góp một lượng đáng kể vào kim ngạch xuất khẩu. Khu vực các tỉnh ven
biển Nam Bộ có 16 loài có giá trị kinh tế cap như: tôm rảo, tôm he, tôm lớt,
tôm sú, tôm càng xanh, tôm chân trắng…
Nhuyễn thể có các loài như trai, điệp, nghêu, sò, ốc…
4.1.5. Nhân tố văn hóa xã hội
Khu vực các tỉnh ven biển Nam Bộ là khu vực sớm phát triển ngư
nghiệp. Trong cơ cấu các nghề trên địa bàn, khai thác hải sản là nghề
truyền thống và chiếm tỷ lệ lao động nhiều nhất.
Chính vì nghề thủy sản phát triển khá sớm nên ở đây đã hình thành
những mô hình HTX, hộ nuôi thủy sản và tổ, đội khai thác hải sản có tổ
chức khá chặt chẽ. Điều này tạo thuận lợi cho việc phát triển khai thác chế
biến xuất khẩu hàng thủy sản do ngành thủy sản được chú trọng.

khoảng 550 nghìn người, trong NTTS có khoảng 850 nghìn người, trong
chế biến thủy sản có khoảng 120 nghìn người và trong lao động thương
mại, hậu cần, dịch vụ, cơ khí sửa chữa có khoảng 2500 người. Đồng thời
lao động trong ngành thủy sản ở khu vực các tỉnh ven biển Nam Bộ chiếm
khoảng 1/4 của cả nước.
Lê Thị Hải Yến
Lớp: Thương mại 47B
Đề án Kinh tế Thương mại
GVHD: GS.TS. HoàngĐức Thân
Như vậy nhìn chung lực lượng lao động làm trong ngành thủy sản là
khá lớn. Tỷ lệ lao động trẻ dưới 45 tuổi là khá cao, chiếm tới 93%. Trình
độ kỹ thuật nghiệp vụ, thạo nghề, có kinh nghiệm tương đối khá, khả năng
tiếp thu kiến thức thủy sản và kiến thức công nghệ kỹ thuật tốt.
Tuy nhiên rất nhiều nơi còn nuôi trồng, đánh bắt thủy sản còn theo
kiểu tập quán, nhỏ lẻ, hộ gia đình… cho nên rất khó khăn trong việc thu
mua nguyên liệu để phục vụ xuất khẩu.
4.2.2. Nhóm nhân tố về vật chất kỹ thuật, tài chính.
Để có thể thực hiện được các hoạt động kinh doanh, đồng thời nắm
bắt được cơ hội thì cần thiết phải có yếu tố tiền vốn. Nếu lượng vốn dồi
dào, doanh nghiệp sẽ có thể dễ dàng hơn trong việc thực hiện các kế hoạch,
mục tiêu kinh doanh như đã định. Nguồn vốn giúp doanh nghiệp mở rộng
mạng lưới bán hàng, xúc tiến bán hàng,.. đồng thời giúp doanh nghiệp nắm
bắt thông tin nhanh chóng và chính xác hơn, tạo điều kiện thúc đẩy xuất
khẩu tốt hơn.
Hệ thống tàu thuyền phục vụ cho khai thác đánh bắt thủy sản hiện
nay đã được trang bị một cách tương đối. Cả nước ta có trên 6258 chiếc tàu
khai thác xa bờ với tổng công suất trên 1 triệu CV, và khu vực các tỉnh ven
biển Nam bộ chiếm tới 2/5. Điều này là một phần nguyên nhân khiến cho
khai thác thủy hải sản ở khu vực này phát triển đồng thời giá trị kim ngạch
xuất khẩu thủy sản cũng rất cao.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status