Phát triển đa dạng các sản phẩm với chất lượng cao, phục vụ tốt nhu cầu trong nước và đẩy mạnh xuất khẩu - Pdf 18

Lời mở đầu
1.Lý do lựa chọn đề tài xe máy:
Xe máy là phương tiện đi lại cơ động và thuận tiện nhất đối với hệ thống giao
thông của Việt Nam. Đặc biệt, xe máy rất thích hợp với những con đường nhỏ với
nhiều ngóc nghách từ thành thị đến nông thôn. Với một chiếc xe máy bạn có thể dễ
dàng sử dụng với nhiều mục đích khác nhau: đi làm, đi chơi, vận chuyển….
Người Việt Nam đã có thói quen sử dụng xe máy để đi lại trong khoảng cách
ngắn và thường xuyên. Bất cứ người nào cũng có thể sở hữu một chiếc xe máy với
giá cả hợp lý, trong khi ô tô vẫn nằm ngoài khả năng tài chính của đai bộ phận dân
cư. Cũng chính vì thế mà thị trường xe máy Việt Nam là một thị trường sôi động và
giàu tiềm năng với cuộc chiến tranh giành thị phần của các hãng như: Honda,
Yamaha, Suzuki, Piagio, SYM…
2.Lý do lưạ chọn công ty Honda Việt Nam:
Honda là một thương hiệu xe máy có lịch sử phát triển lâu dài, vững chắc và
tạo lập được uy tín trên thị trường. Nó quen thuộc đến nỗi cứ khi nhắc tới xe máy là
người ta lại nghĩ tới Honda. Honda cũng là công ty đầu tiên có mặt tại Việt Nam và
đã nhanh chóng chiếm lĩnh được thị trường, đạt được những thành công đáng kể với
các sản phẩm đa dạng hướng tới nhiều đối tượng có các mức thu nhập khác nhau.
Bên cạnh đó, Honda Việt Nam(HVN) còn đưa đến cho người dân Việt Nam cái nhìn
hiểu biết hơn về an toàn giao thông, bảo vệ môi trường thông qua các chương trình
tuyên truyền trong thời gian dài. Qua đó, HVN đã gửi gắm thông điệp của mình" Tôi
yêu Việt Nam" tạo nên cái nhìn thiện cảm đối với người dân Việt Nam.
HVN có rất nhiều tiềm năng và thế mạnh. Nếu có những chiến lược đúng
đắn, sáng tạo thì tương lai nó sẽ ngày càng trở nên hùng mạnh và chiếm lĩnh thị
trường. Phân tích chiến lược kinh doanh xe máy của HVN là bài học tốt cho nhóm
chúng tôi.
Vì vậy, nhóm chúng tôi lựa chọn đề tài:
"Phát triển đa dạng các sản phẩm với chất lượng cao, phục vụ tốt nhu cầu
trong nước và đẩy mạnh xuất khẩu "
Chiến lược kinh doanh của xe máy Honda Việt Nam
1

2000 - Tháng 3: Nhận chứng chỉ Iso 2002.
2001 - Tháng 3: Đón nhận bằng khen của Thủ tướng chính phủ.
- Tháng 9: Nhận chứng chỉ Iso 14001.
- Tháng 11: Xuất xưởng chiếc xe thứ 500.000.
2002 - Tháng 2: Giới thiệu xe Waveα.
- Tháng 5: Xuất khẩu xe Waveα xang Philippin.
2003 - Tháng 3: Đón nhận chứng chỉ Iso 9001:2000.
- Tháng 4: Xuất xưởng chiếc xe thứ 1 triệu.
- Tháng 8: Khởi động chương trình” Tôi yêu Việt Nam” và đón nhận bằng
khen của Uỷ ban An toàn giao thông quốc gia.
2004 - Tháng 4: ASIMO tới thăm Việt Nam.
- Tháng 9: Bắt đầu cuôc thi tìm hiểu an toàn giao thông trên truyền hình”
Tôi yêu Việt Nam”.
- Tháng 11: Ra mắt 2 kiểu xe Wave ZX và Future 2.
2005 - Tháng 1: Honda Nhật Bản giới thiệu Honda Spacy 102cc sản xuất tại Việt
Nam qua các cửa hàng HEAD .
- Tháng 4: Chào mừng chiếc xe thứ 2 triệu.
- Tháng 7: Đón nhân huân chương lao động hạng 3.
- Tháng 11: Ra mắt Wave RS.
2006 - Tháng 3: Kỷ niệm 10 năm thành lập và ra mắt xe Super Dream.
- Tháng 4: Ra mắt Future neo GT.
- Tháng 5: Ra mắt Future neo phanh cơ.
- Tháng 6: Ra mắt Wave RSV.
- Tháng10: Giới thiệu mẫu xe tay ga hoàn toàn mới CLICK ra thị trường.
Cuối tháng giới thiệu Wave 100S.
- Tháng 12: Trao giải thưởng Honda giành cho kỹ sư và các nhà khoa học
trẻ Việt Nam.
2007 - Tháng 4: Xuất xưởng và ra mắt xe tay ga Air Blade.
- Tháng 4: Ra mắt xe Future F1 với công nghệ phun xăng điện tử, tiết kiệm
nhiên liệu.

này tạo thuận lợi cho Honda Việt Nam(HVN) và các hãng xe máy trên thị trường
Việt Nam phát triển sản xuất, cung ứng ra thị trường nhiều hàng hóa và dịch vụ hơn
nữa trong thời gian tới, không chỉ phục vụ cho nhu cầu trong nước mà còn hướng tới
xuất khẩu.
Tăng trưởng cao của nước ta tạo ra sức hút đối với nhà đầu tư nước ngoài về
lĩnh vực xe máy, ôtô bỏ vốn vào Việt Nam tạo ra sự canh tranh lớn hơn trên thị
trường, gây ra áp lực cạnh tranh lớn cho HVN.
4
Biểu đồ1: Tổng sản phẩm trong nước giai đoạn 2000-2006
0
200000
400000
600000
800000
1000000
2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006
(Nguồn: Tổng cục Thống kê)
Tỷ đồng
GDP
1.1.1.2 Về tỷ giá hối đoái:
Từ năm 1997 tới nay, xu hướng chung của USD là tăng nhẹ so với VND, tỷ
giá phổ biến từ năm 2001-2005 là trong khoảng 15.000-dưới 16.000; còn từ đó đến
nay thì tỷ giá giữa VND và USD là trên 16.000. Bước sang năm 2007 tỷ giá bắt đầu
tăng từ tháng 4, bình quân mỗi tháng tăng 0,5% so với tháng trước. Nhưng theo quan
sát từ năm 2003 đến nay thì tỷ giá đô la Mỹ tăng thấp đáng kể so với giá vàng và giá
tiêu dùng( xem ví dụ về chỉ số giá tiêu dùng, vàng, đôla Mỹ năm 2006)
Mặt khác, trong thời gian tới Ngân hàng Nhà nước Việt Nam(NHNNVN) sẽ
lên tới 18.000/USD vào năm 2010 và 20.000VNĐ/USD vào năm 2020. Với việc tỷ
giá hối đoán tăng như vậy sẽ tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp xuất khẩu. HVN- là
một doanh nghiệp đi đầu trong nghành xe máy trong lĩnh vực xuất khẩu, với các linh

Chỉ số giá tiêu dùng
Chỉ số giá vàng
Chỉ số giá đô la Mỹ
1.1.1.3 Về lạm phát:
Báo cáo của Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) đã cho thấy lạm phát của
Việt Nam có xu hướng tăng cao trong những năm gần đây. Lạm phát trung bình của
Việt Nam trong năm 2005 là 8,3%, trong năm 2006 là 7,5%, tính đến hết tháng 9 năm
2007 chỉ số giá tiêu dùng 7,32% so với tháng 12 /2006 và 8,8% so với 12/2006. Theo
dự báo trong các tháng cuối năm giá còn tăng lên cao nữa còn nếu không có biện
pháp ngăn chặn kịp thời thì nguy cơ lạm phát có thể lên tới 8,4%-8,9% và cao hơn
mức tăng trưởng kinh tế. Điều đáng chú ý là tốc độ lạm phát trung bình của Việt
Nam cao hơn so với các nước trong khu vực. Cụ thể, mức trung bình của các nước
đang phát triển là thành viên của ADB năm 2005 là 3,4% và năm 2006 là 3,3%.
Việc tốc độ lạm phát tăng cao trong vòng 3 năm trở lại đây gây ra những khó
khăn với người tiêu dùng, nhà đầu tư, các doanh nghiệp.
Đối với những người có thu nhập thấp lạm phát tăng cao làm thu nhập thực tế
của họ ngày càng giảm đi, khiến sức mua của họ bị giảm đi, đời sống của họ thêm
khó khăn và sức cầu về xe máy, một hàng hoá lâu bền cũng giảm theo.
Các nhà đầu tư, kể cả Nhà nước đang là chủ đầu tư của hàng ngàn tỷ đồng
vào các công trình lớn nhỏ cũng chịu tác động lớn trước tình hình lạm phát tăng cao.
Lạm phát tăng kéo theo giá các vật liệu xây dựng như: xi măng, sắt, thép… tăng lên
làm tiến độ thực hiện các công trình đầu tư chậm lại gây thất thoát tiền của, gián đoạn
các kế hoạch phát triển. Điều này làm HVN phải thận trọng hơn trong các quyết định
đầu tư của mình.
Còn đối với DN sản xuất trong nước mà HVN cũng nằm trong số đó, lạm
phát làm giá nhập khẩu các sản phẩm phi dầu mỏ tăng (máy móc, nguyên vật liệu…)
và giá xăng dầu tăng sẽ làm tăng chi phí đầu vào làm giảm hiệu quả sản xuất và sức
cạnh tranh của doanh nghiệp với hàng nhập khẩu nhất là những hàng hóa có xuất xứ
từ Trung Quốc.
6

86000
2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006
(Nguồn: Tổng cục Thống kê)
Nghìn người
1.1.2.2 Về phong cách sống:
Cùng với mức tăng lên của thu nhập thì nhìn chung, xu hướng tiêu dùng của
người dân Việt Nam chuyển dịch từ yêu cầu "ăn no mặc ấm" sang "ăn ngon mặc đẹp"
làm cho chất lượng cuộc sống nâng lên. Quan niệm về hàng hóa lâu bền và giá trị cao
cũng đã thay đổi. Nếu như những năm trước đây, các mặt hàng xe máy, tủ lạnh, điều
hòa, ôtô, máy giặt, các thiết bị nghe nhìn được xem là đồ dùng cao cấp đắt tiền thậm
trí có ý nghĩa "dự trữ tài sản", thì nay đã được phổ cập ở thành thị và lan sang cả khu
vực nông thôn.
Xu hướng mua sắp hàng giá trị cao, hàng hiệu chạy theo mốt mới đang xuất
hiện ở giới trẻ thành phố đã bắt kịp xu hướng tiêu dùng của khu vực và thế giới.
Do thu nhập được nâng cao đời sống được cải thiện lên các nhu cầu về tinh
thần ngày càng người dân chú ý. Xét về cơ cấu, xu hướng chi tiêu cho nhà ở, dịch vụ
khám chữa bệnh, dược phẩm, phương tiện đi lại, thông tin và giáo dục sẽ có tốc độ
cao hơn các chi tiêu khác.
Với sự thay đổi như vây của phong cách sống, nhất là với xu hướng chạy
theo mốt của giới trẻ sẽ làm cho HVN có định hướng phát triển các dòng xe thời
trang, sành điệu, bắt mắt với giới trẻ trong tương lai. Thị trường của các mặt hàng lâu
bền như xe máy cũng sẽ không bị bó hẹp trong khu vực thành thị( chiếm 45%) mà
mở rộng xang khu vực nông thôn tạo thuân lợi cho HVN có thêm thị trường tiêu thụ,
tăng thêm sản lượng bán hàng.
1.1.3 Chính trị và pháp luật:
Hơn 20 năm đổi mới,chúng ta đã thu được rất nhiều thành tựu to lớn,có ý
nghĩa lịch sử.Đó là nhờ hệ thống chính trị vận hành tốt,đây cũng là yếu tố cơ bản
đảm bảo sự ổn định trong thời gian qua.
8
Hệ thống chính trị cuả nước ta bao gồm: Đảng Cộng Sản, Chính Phủ, Mặt

kỳ một doanh nghiệp nào, có đổi mới công nghệ thành công doanh nghiệp mới có thể
cạnh tranh trên thị trường. Yếu tố công nghệ vừa tạo ra vừa phả bỏ , công nghệ tạo ra
những sản phẩm mới nhưng công nghệ lại loại bỏ những sản phẩm cũ lạc hậu. Do
đó việc đổi mới công nghệ và nhất là nắm bắt xu hướng đổi mới công nghệ là điều
bắt buộc đối với bất kỳ doanh nghiệp nào.
Theo thông tin từ Bộ KH&CN thì phần lớn các doanh nghiệp nước ta sử
dụng công nghệ lạc hậu so với mức trung bình của thế giới đến 2-3 thế hệ.80-90%
công nghệ nước ta là ngoại nhập. Có 76% máy móc, dây chuyền công nghệ nhập
thuộc thế hệ 1960-1970, 75% đã bị hết khấu hao, 50% là được tân trang. Tính trung
cho các doanh nghiệp mức độ thiết bị hiện đại là 10%, mức trung bình là 38%, mức
lạc hậu và rất lạc hậu là 52 %. Đặc biệt là khu vực sản suất nhỏ, thiết bị ở mức lạc
hậu và rất lạc hậu chiếm 70%. Trong khi đó các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư đổi
mới công nghệ ở mức thấp, tính ra chi phí khoảng 0,2- 0,3 % doanh thu. Con số này
9
ở Ấn Độ là 5% và ở Hàn Quốc là 10%. Đánh giá của Bộ KH&CN thì năng lực đổi
mới công nghệ là loại “năng lực yếu nhất” của các doanh nghiệp Việt Nam.Việc đổi
mới công nghệ chỉ được thực hiện ở các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Vấn đề của chúng ta ở đây là các doanh nghiệp VN thiếu vốn cho việc đổi
mới công nghệ, các doanh nghiệp cũng chỉ chú ý đến việc đổi mới thành phần kỹ
thuật của công nghệ còn 3 thành phần là: con người , thông tin, thiết chế thì gần như
không được chú ý đến mà không biết rằng phải hội tụ đủ bốn yếu tố trên mới gọi là
đổi mới công nghệ; đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp còn châm,mang tính thụ
động.
Thực trạng đáng buồn này khiến cho các doanh nghiệp trong nước vốn đã
yếu nay lại mất dần khả năng cạnh tranh ngay trên “sân nhà”. Điều này nếu xét riêng
trong nghành xe máy thì sẽ là lợi thế của HVN-bởi có một dây chuyền hiện đại, liên
tục đổi mới công nghệ- trong việc cạnh tranh với các doanh nghiệp xe máy trong
nước.
1.2 Môi trường ngành:
1.2.1 Đối thủ cạnh tranh:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status