Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây, nền kinh tế nước ta đã có những thay đổi to
lớn về nhiều mặt. Sự chuyển hướng phát triển nền kinh tế đất nước từ cơ
chế kế hoạch hoá tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường là nền tảng
cho những thay đổi tích cực đó.
Kinh tế thị trường đã đặt ra trước mắt các doanh nghiệp nhiều thử thách
nhưng cũng mang tới những cơ hội để doanh nghiệp có thể tự khẳng định
mình. Sự phát triển của nền kinh tế đòi hỏi các doanh nghiệp cũng phải
biết áp dụng những kiến thức mới về quản trị doanh nghiệp vào thực tiễn
hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.
Đa dạng hoá sản phẩm là một khuynh hướng phát triển ngày càng phổ
biến của doanh nghiệp công nghiệp và là điều kiện để doanh nghiệp thích
ứng và phát triển trong môi trường kinh doanh đầy biến động.
Trong những khó khăn chung của nền kinh tế mới phát triển, nhiều
doanh nghiệp đã vươn lên từ sức mạnh nội lực, luôn duy trì được sản xuất và
đảm bảo thu nhập ổn định cho người lao động. Công ty cổ phần Dược và
thiết bị vật tư y tế TRAPHACO là một doanh nghiệp như vậy. Có được
thành công này là do doanh nghiệp đã chọn cho mình một hướng đi đúng
đắn "Đa dạng hoá sản phẩm mang tính chiến lược tạo lợi thế cạnh tranh cho
doanh nghiệp trên thương trường "
Trong quá trình thực tập tại công ty, cùng với những lý luận được trang
bị trong quá trình học tập nghiên cứu tại trường Đại học Kinh tế quốc dân và
xuất phát từ thực tế tại công ty, em đã chọn đề tài: "Giải pháp phát triển đa
1
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
dạng hoá sản phẩm ở Công ty CP Dược và TBVTYT Bộ GTVT
TRAPHACO " để thực hiện chuyên đề thực tập tốt nghiệp của mình.
lượng, mầu sắc, nhãn mác, cách sử dụng, giao hàng và thực hiện thanh toán,
dịch vụ sau bán hàng...Sản phẩm với những nhãn hiệu cụ thể tạo ra cho
người tiêu dùng một hình ảnh, một tín hiệu để nhận biết về doanh nghiệp và
xác nhận sự hiện diện của doanh nghiệp trên thị trường .
Mỗi sản phẩm hàng hoá của doanh nghiệp phải đáp ứng một nhu cầu, vì
đó là lời hứa hẹn với khách hàng hay người tiêu dùng. Người mua thường
quan niệm sản phẩm hàng hoá là của cải vật chất hay dịch vụ mà họ mua để
thoả mãn nhu cầu của mình do đó mỗi sản phẩm được coi là lời giải đáp cho
một nhu cầu đã tìm thấy trên thị trường, doanh nghiệp phải bán cái mà khách
hàng cần chứ không phải cái mình có.
3
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
Nghiên cứu sản phẩm về thực chất là tìm hiểu thái độ chấp nhận của
khách hàng đối với sản phẩm của mình.
1.2. Phân loại sản phẩm :
Các doanh nghiệp tạo ra sản phẩm hàng hoá là để bán và do sản phẩm
hàng hoá của doanh nghiệp mang tính chất đa dạng nên phải phân loại để tạo
điều kiện thuận lợi cho công tác kinh doanh. Trong thực tiễn người ta phân
loại sản phẩm theo rất nhiều cách khác nhau nhưng để phục vụ cho việc tìm
hiểu về đa dạng hoá có thể xem xét một số cách phân loại chủ yếu sau.
1.2.1. Phân loại theo tính chất sử dụng :
Theo cách phân loại này, sản phẩm công nghiệp bao gồm: sản phẩm
công cộng và sản phẩm cá nhân.
- Sản phẩm công cộng là sản phẩm mà việc tiêu dùng của người này
không làm ảnh hưởng đến việc tiêu dùng của người khác như đường xá, cầu
cống, các công trình văn hoá, các di tích lịch sử...
- Sản phẩm cá nhân là sản phẩm mà khi một người đã tiêu dùng thì
người khác không thể tiêu dùng sản phẩm đó .Ví dụ như quần áo, thực
- Hàng mua không thường xuyên: là loại hàng hoá mà người tiêu dùng
không tiêu dùng chúng thường xuyên như quần áo cưới ...
1.2.6. Phân loại sản phẩm theo mức độ chế biến sản phẩm:
- Sản phẩm trung gian: là những sản phẩm còn phải trải qua một số
bước chế biến nữa mới trở thành sản phẩm hoàn chỉnh phục vụ cho tiêu
dùng như sợi để dệt vải, vải để may quần áo..
- Sản phẩm cuối cùng là những sản phẩm hoàn chỉnh có thể phục vụ
cho tiêu dùng như xe máy, văn phòng phẩm..
1.3. Năm mức độ của sản phẩm:
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, khi lập kế hoạch sản phẩm của
mình nhà kinh doanh cần suy nghĩ đầy đủ về năm mức độ của sản phẩm.
Mức độ cơ bản nhất chính là ích lợi cốt lõi, chính là dịch vụ hay lợi ích
cơ bản mà khách hàng thực sự mua. Ngưòi kinh doanh phải luôn coi mình là
người cung ứng ích lợi. Ví dụ như trong trường hợp khách sạn, người khách
nghỉ đêm mua " sự nghỉ ngơi và giấc ngủ ".
5
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
ở mức độ thứ hai, người kinh doanh phải biến lợi ích cốt lõi thành sản
phẩm chung chính là dạng cơ bản của sản phẩm đó vì thế khách sạn phải là
một toà nhà có các phòng để cho thuê.
ở mức độ thứ ba, ngưòi kinh doanh chuẩn bị một sản phẩm mong đợi,
tức là tập hợp các thuộc tính và điều kiện người mua thường mong đợi và
chấp nhận khi họ mua sản phẩm đó. Ví dụ như khách đến khách sạn mong
đợi một cái giường sạch sẽ, xà bông, khăn tắm và một mức độ yên tĩnh
tương đối. Vì hầu hết các khách sạn có thể đáp ứng được mong muốn tối
thiểu này nên khách du lịch thường không có thiên vị đối với khách sạn nào
mà họ sẽ vào bất kì khách sạn nào thuận tiện nhất .
ở mức độ thứ tư, người kinh doanh chuẩn bị một sản phẩm hoàn thiện
Chiều sâu danh mục thể hiện có bao nhiêu phương án của mỗi sản
phẩm trong một loại.
Mật độ của danh mục sản phẩm thể hiện mối quan hệ mật thiết đến mức
độ nào giữa các loại sản phẩm khác nhau xét theo cách sử dụng cuối cùng,
thiết bị sản xuất hay kênh phân phối nào khác.
Bốn chiều này của danh mục sản phẩm tạo nên những căn cứ để xây
dựng chiến lược sản phẩm của công ty. Công ty có thể khuyếch trương
doanh nghiệp của mình theo nhiều cách. Công ty có thể mở rộng danh mục
sản phẩm bằng cách bổ sung những sản phẩm mới. Công ty có thể kéo dài
từng loại sản phẩm. Công ty có thể bổ sung thêm các phương án sản phẩm
cho từng sản phẩm và tăng chiều sâu của danh mục. Cuối cùng công ty có
thể tiếp tục tăng hay giảm mật độ của loại sản phẩm tùy theo ý đồ của công
ty muốn có uy tín vững chắc trong một lĩnh vực hay tham gia vào nhiều lĩnh
vực.
Việc lập kế hoạch danh mục sản phẩm chủ yếu tùy thuộc vào trách
nhiệm của những người hoạch định chiến lược của công ty căn cứ vào
những thông tin do người làm công tác marketing của công ty cung cấp. Họ
phải đánh giá những loại sản phẩm cần phát triển, cần duy trì, cần thu hoạch
và cần loại bỏ.
2. Đa dạng hoá sản phẩm và sự cần thiết của đa dạng hoá sản phẩm
trong doanh nghiệp công nghiệp :
2.1. Thực chất của đa dạng hoá sản phẩm:
7
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
Trong hệ thống mục tiêu kinh tế - xã hội của mỗi doanh nghiệp có hai
mục tiêu được coi là cơ bản, tạo tiền đề cho các mục tiêu khác đó là việc tạo
ra sản phẩm với chất lượng cao phù hợp với nhu cầu của thị trường và xã hội
và việc đạt được lợi nhuận tối đa sau mỗi chu kỳ kinh doanh trên cơ sở nâng
trên một thị trường nhất định doanh nghiệp có thể thực hiện đa dạng hoá
thông qua hình thức cải tiến , hoàn thiện sản phẩm đã có hoặc là đưa ra
những sản phẩm mới hoàn toàn có thể cùng loại hoặc khác biệt so với những
sản phẩm cũ nhưng doanh nghiệp cũng có thể kết hợp cả hai hình thức trên
nhằm thỏa mãn đáp ứng cao nhất nhu cầu của thị trường.
Như vậy đa dạng hoá sản phẩm của doanh nghiệp là việc mở rộng danh
mục sản phẩm, nó gắn liền với quá trình đổi mới và hoàn thiện cơ cấu sản
phẩm, nhằm đảm bảo doanh nghiệp thích ứng được với sự biến động của
môi trường kinh doanh.
Đa dạng hoá sản phẩm là một nội dung cụ thể của đa dạng hoá sản xuất
và đa dạng hoá kinh doanh công nghiệp. Khi thực hiện đa dạng hoá sản
phẩm, doanh nghiệp chỉ mở rộng danh mục các sản phẩm công nghiệp của
mình, nghĩa là hoạt động của doanh nghiệp vẫn chỉ giới hạn trong lĩnh vực
sản xuất công nghiệp. Khi thực hiện đa dạng hoá sản xuất, thì ngoài lĩnh vực
truyền thống là sản xuất công nghiệp, doanh nghiệp còn có thể thâm nhập
sang các lĩnh vực sản xuất khác. Chẳng hạn, thâm nhập sang các lĩnh vực
sản xuất công nghiệp không phải truyền thống, sang lĩnh vực nông, lâm, ngư
nghiệp, xây dựng cơ bản...Còn khi thực hiện đa dạng hoá kinh doanh ( hay
kinh doanh tổng hợp ) doanh nghiệp có thể phát triển sang cả lĩnh vực
thương mại, dịch vụ...
Mối quan hệ giữa đa dạng hoá sản phẩm và kế hoạch hoá sản xuất -
kinh doanh được thể hiện ở chỗ khi xác định phương án đa dạng hoá sản
phẩm đòi hỏi doanh nghiệp phải xác định rõ chủng loại sản phẩm, khối
lượng sản phẩm của mỗi loại, thị trường tiêu thụ, khả năng đảm bảo các yếu
tố đầu vào, khả năng huy động vốn đầu tư và dự kiến lợi nhuận sẽ đạt được.
Đa dạng hoá sản phẩm là một khuynh hướng phát triển ngày càng phổ
biến trong các doanh nghiệp công nghiệp. Các tổ chức kinh tế lớn như tập
đoàn kinh doanh thực hiện đa dạng hoá sản phẩm, kinh doanh đa ngành và
đa lĩnh vực hoạt động. Số lượng và chủng loại hàng hoá lưu thông trên thị
trường thực chất cũng là một chỉ tiêu đánh giá mức độ phát triển của mỗi
phong phú hơn tạo ra những thách thức và cũng đồng thời mang đến những
cơ hội kinh doanh cho doanh nghiệp. Trong môi trường kinh doanh sôi động
mà người thành công là người biết " nắm lấy các cơ hội ", doanh nghiệp phải
luôn bám sát các diễn biến của quan hệ cung cầu trên thị trường, xây dựng
10
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
cơ cấu sản phẩm tối ưu thich ứng với sự linh hoạt của thị trường. Thực tế
cho thấy hiện nay các doanh nghiệp luôn cố gắng làm mới và mở rộng danh
mục sản phẩm của mình dựa trên sự hoàn thiện không ngừng các sản phẩm
hiện có song song với việc đưa vào sản xuất những mặt hàng mới đón đầu
nhu cầu thị trường, tạo thế chủ động của doanh nghiệp trên thương trường.
Sự phong phú và biến đổi không ngừng của thị trường đã đòi hỏi các doanh
nghiệp phải năng động sáng tạo trong việc tạo ra một cơ cấu sản phẩm "
động " thông qua hoạt động đa dạng hoá sản phẩm mới có thể tồn tại và
phát triển trong sự cạnh tranh khốc liệt " thương trường là chiến trường ".
2.2.2. Do tiến bộ của khoa học công nghệ nên chu kỳ sống của sản phẩm bị
rút ngắn
Ngày nay cuộc cách mạng khoa học công nghệ đang diễn ra với tốc độ
nhanh như vũ bão. Một khối lượng đồ sộ các phát minh sáng chế ra đời đã
tạo ra ngày càng nhiều công nghệ, máy móc thiết bị, nguyên liệu mới. Điều
đặc biệt là hàm lượng tri thức hay tỷ trọng phần mềm trong các công nghệ
mới này là rất lớn chính vì vậy thời gian tồn tại của các công nghệ này rất
ngắn và điều này cũng đồng nghĩa với việc sản phẩm của doanh nghiệp bị
đào thải nhanh hơn. Chu kỳ sống của một sản phẩm được chia ra 4 pha: bắt
đầu, phát triển, bão hoà, suy thoái. Các thành tựu khoa học công nghệ được
áp dụng ngày càng rộng rãi vào sản xuất làm cho giai đoạn bão hoà và suy
thoái của một sản phẩm đến nhanh hơn. Sự lạc hậu nhanh chóng của công
nghệ và sản phẩm không cho phép doanh nghiệp tự hài lòng với những gì
coi nâng cao một cách hợp lý trình độ chuyên môn hoá là phương hướng chủ
đạo của phát triển doanh nghiệp, doanh nghiệp vẫn cần mở rộng danh mục
sản phẩm để tận dụng các nguồn lực sản xuất. Với nội dung này, đa dạng
hoá sản phẩm tạo thành " tuyến sản phẩm " hỗ trợ quan trọng cho phát triển
chuyên môn hoá.
Thứ ba, có rất nhiều phương thức thực hiện đa dạng hoá sản phẩm
nhưng đa dạng hóa sản phẩm dựa trên cơ sở nền tảng các điều kiện vật chất
kĩ thuật của chuyên môn hoá ban đầu mang lại, sẽ giảm bớt được nhu cầu
đầu tư. Đây chính là ràng buộc của chuyên môn hoá đến việc thực hiện đa
dạng hoá sản phẩm của doanh nghiệp.
12
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
Như vậy, để xây dựng cơ cấu sản phẩm động mang tính linh hoạt thì
bản thân sản phẩm chuyên môn hoá của doanh nghiệp cũng phải được đa
dạng hoá và đây được coi là xu hướng tất yếu đảm bảo cho doanh nghiệp
đứng vững trong môi trường kinh doanh thiên biến vạn hoá.
2.2.4. Phân tán rủi ro, đảm bảo an toàn trong kinh doanh :
Mục tiêu chính của các doanh nghiệp khi tiến hành sản xuất kinh doanh
là lợi nhuận nhưng trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh khốc liệt, sự
thành công của doanh nghiệp bị đe dọa bởi rất nhiều yếu tố chủ quan và
khách quan. Một cơ hội kinh doanh có khả năng thu lợi càng lớn thì mức độ
rủi ro kinh doanh xảy ra đối với doanh nghiệp càng cao. Các nguyên nhân
gây ra rủi ro có thể đến từ các yếu tố nội tại của doanh nghiệp như máy móc
thiết bị không đồng bộ, công nghệ lạc hậu, thiếu vốn...hay từ môi trường
kinh doanh như sự thay đổi đột ngột nhu cầu, chính sách kinh tế của nhà
nước, thiên tai...Rủi ro kinh doanh xảy ra có thể gây thiệt hại rất lớn cho
doanh nghiệp về nhiều mặt vì vậy khi xây dựng các phương án kinh doanh,
doanh nghiệp rất quan tâm đến việc ngăn ngừa rủi ro đảm bảo độ an toàn
đa dạng hoá sản phẩm với những hình thức khác nhau. Sau đây là một số
cách phân loại đa dạng hoá sản phẩm.
1.1. Xét theo sự biến đổi danh mục sản phẩm : có các hình thức đa dạng hoá
sau đây:
1.1.1. Biến đổi chủng loại :
Đó là quá trình hoàn thiện và cải tiến các loại sản phẩm đang sản xuất
đang sản xuất để giữ vững thị trường hiện tại và thâm nhập vào thị trường
mới, nhờ sự đa dạng về kiểu cách, cấp độ hoàn thiện của sản phẩm thoả mãn
thị hiếu, điều kiện sử dụng và khả năng thanh toán của những khách hàng
khác nhau. Sự hoàn thiện ấy có thể thuần tuý về hình thức sản phẩm ( kiểu
dáng, mẫu mã ) hoặc về nội dung sản phẩm ( chất lượng, cấp độ hoàn thiện
về kỹ thuật ) hoặc cả về hình thức và nội dung sản phẩm.
1.1.2. Đổi mới chủng loại:
Loại bỏ những sản phẩm lỗi thời, những sản phẩm khó tiêu thụ và bổ
sung những sản phẩm mới vào danh mục sản phẩm của doanh nghiệp.
Những sản phẩm được bổ sung này có thể là sản phẩm mới tuyệt đối ( đối
với doanh nghiệp và với thị trường ) hoặc sản phẩm mới tương đối ( mới với
doanh nghiệp nhưng không mới với thị trường ).
14
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
Việc thực hiện hình thức đa dạng hoá sản phẩm này gắn liền với việc
doanh nghiệp rời bỏ một số thị trường cũ và gia nhập những thị trường mới.
1.1.3. Hình thức hỗn hợp:
Kết hợp một số nội dung của hình thức thứ nhất và thứ hai vừa nêu.
Nghĩa là doanh nghiệp vừa cải tiến, hoàn thiện một số sản phẩm đang sản
xuất, vừa loại bỏ những sản phẩm không sinh lợi, vừa bổ sung những sản
phẩm mới vào danh mục sản phẩm của mình.
1.2. Xét theo tính chất của nhu cầu sản phẩm:
giá trị sử dụng khác nhau nhưng đều sử dụng cao lanh và các loại men
xương làm nguyên liệu chính.
1.3.2. Sử dụng tổng hợp các chất có ích chứa đựng trong một loại nguyên
liệu để sản xuất một số loại sản phẩm coa giá trị sử dụng khác nhau. Chẳng
hạn trong công nghiệp mía đường, người ta sử dụng không những tổng hợp
cây mía để sản xuất ra đường mà còn để sản xuất ra cồn công nghiệp, ván
ép...
1.4. Xét theo phương thức thực hiện :
1.4.1. Đa dạng hoá sản phẩm trên cơ sở các nguồn lực hiện có của doanh
nghiệp :
Bằng việc áp dụng hình thức này, doanh nghiệp có thể tiết kiệm được
đầu tư, giảm bớt thiệt hại do rủi ro khi thực hiện đa dạng hoá sản phẩm, tận
dụng được khả năng sản xuất hiện có. Tuy nhiên sự tận dụng này lại hạn chế
khả năng mở rộng danh mục sản phẩm của doanh nghiệp.
1.4.2. Đa dạng hoá sản phẩm trên cơ sở nguồn lực hiện có kết hợp với đầu tư
bổ sung :
Nghĩa là việc mở rộng danh mục sản phẩm đòi hỏi phải có đầu tư,
nhưng đầu tư này chỉ giữ vị trí bổ sung nhằm khắc phục khâu yếu hoặc khâu
sản xuất mà doanh nghiệp còn thiếu. So với hình thức trên, khả năng mở
rộng danh mục sản phẩm của doanh nghiệp được nâng cao hơn
1.4.3. Đa dạng hoá sản phẩm bằng đầu tư mới:
Hình thức này thường được áp dụng khi doanh nghiệp đang triển khai
sản xuất những sản phẩm mới, mà khả năng sản xuất hiện tại không thể đáp
ứng được. Trong trường hợp này nhu cầu đầu tư thường lớn và xác suất rủi
ro sẽ cao hơn, nhưng khả năng sản xuất được mở rộng hơn.
16
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
Tóm lại, từ các hình thức đa dạng hoá sản phẩm nêu trên ta thấy, trong
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
- Các loại sản phẩm có thể thay thế. Việc nghiên cứu phân tích này
nhằm hạn chế rủi ro trong khi phát triển đa dạng hoá sản phẩm.
- Sự vận động của sản phẩm trong chu kỳ sống của nó. Việc đa dạng
hoá nếu nhằm vào sản phẩm đang ở pha suy thoái thì sẽ làm tăng rủi ro kinh
doanh.
- Đối với các doanh nghiệp thực hiện đa dạng hoá bằng sản phẩm
không mới đích thực ( đã có trên thị trường ) thì một việc làm không thể
thiếu là phải xem xét đánh giá phần thị trường còn lại của một sản phẩm mà
doanh nghiệp có thể xâm nhập.
Nhu cầu TT = Dung lượng _ Phần TT mà các DN khác
về SP của DN thị trường có khả năng cung ứng
Tóm lại việc nghiên cứu, phân tích sự ảnh hưởng của nhân tố chủng
loại và dung lượng nhu cầu trên thị trưòng để xác định phương hướng và
mức độ đa dạng hoá sản phẩm không chỉ ở mặt lượng mà còn ở cả tính chất,
nhu cầu và quan hệ với các sản phẩm liên quan khác.
2.1.2. Bản quyền công nghiệp:
Một thực tế hiện nay là các doanh nghiệp đầu tư rất lớn cho hoạt động
nghiên cứu phát triển sản phẩm mới nhằm tạo ra lợi thế cạnh tranh so với
các đối thủ nhưng sản phẩm của họ nhiều khi không mang lại lợi nhuận như
mong muốn. Nguyên nhân chủ yếu là các đối thủ cạnh tranh thông qua các
kênh thông tin khác nhau có thể sao chép và nhái lại sản phẩm của doanh
nghiệp một cách nhanh chóng khi doanh nghiệp còn chưa thu hồi vốn đầu
tư.
Vấn đề bản quyền công nghiệp có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động đa
dạng hoá của công ty vì hầu hết các công ty đều thực hiện đa dạng hoá sản
phẩm mới với công ty nhưng không mới với thị trường. Bản quyền công
nghiệp xác nhận quyền sở hữu của một doanh nghiệp đối với nhãn hiệu, bí
quyết công nghệ..của một sản phẩm. Vì vậy khi xây dựng chiến lược đa
nhiều thách thức, song đây cũng là cơ hội lớn tạo điều kiện thuận lợi cho
doanh nghiệp công nghiệp thâm nhập vào thị trường quốc tế để tiếp thu
phương pháp quản lý, công nghệ tiên tiến... và mở rộng thị trường tiêu thụ
sản phẩm đa dạng hoá.
Đối với các doanh nghiệp Việt Nam thì quá trình gia nhập Khu vực tự
do mậu dịch Châu á AFTA có tác động tương đối lớn đến tính chất và
19
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
phương hướng của đa dạng hoá sản phẩm. Do AFTA chú trọng đến các mặt
hàng công nghiệp chế tạo nên các doanh nghiệp nhanh chóng nắm bắt được
xu hướng này. Các doanh nghiệp sẽ tập trung vào đa dạng hoá sản phẩm
bằng những mặt hàng công nghiệp chế tạo đã có ở Việt nam và tích cực
nghiên cứu sản xuất những mặt hàng mới. Mặt khác khi sự giao lưu quốc tế
và khu vực tăng lên mạnh mẽ các doanh nghiệp sẽ nắm bắt được thêm nhiều
nhu cầu sản phẩm mới, khai thác được nhiều nguyên nhiên vật liệu mới tạo
điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng danh mục sản phẩm của doanh nghiệp.
2.1.5. Chính sách kinh tế - xã hội:
Trong cơ chế thị trường mỗi doanh nghiệp công nghiệp là một chủ thể
kinh doanh độc lập vì vậy doanh nghiệp có quyền thực sự trong việc xác
định phương hướng sản xuất kinh doanh của mình thông qua việc xây dựng
một cơ cấu và danh mục sản phẩm có hiệu quả. Nhưng như vậy không có
nghĩa là doanh nghiệp có thể sản xuất bất cứ sản phẩm, tham gia kinh doanh
bất kì lĩnh vực nào miễn là mang lợi nhuận. Chính sách kinh tế của nhà nước
có thể mang lại thuận lợi cho hoạt động đa dạng hoá khi doanh nghiệp sản
xuất loại sản phẩm được nhà nước khuyến khích và ngược lại có thể mang
đến sự thất bại cho doanh nghiệp khi sản phẩm đó bị hạn chế hoặc nghiêm
cấm sản xuất.
Ngoài ra, trong quá trình thực hiện vai trò chủ thể kinh doanh của mình,
nguyên vật liệu hạn chế tác động tiêu cực của nó đến đa dạng hoá nói riêng
và quá trình kinh doanh nói chung của doanh nghiệp.
2.2.2. Yếu tố lao động:
Giống như yếu tố nguyên vật liệu, lao động là một trong ba yếu tố của
quá trình sản xuất, trực tiếp tác động tới thành quả kinh doanh của doanh
nghiệp
Khi thực hiện đa dạng hoá trên cơ sở chuyên môn hoá, doanh nghiệp đã
có một đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao nhưng điều
quan trọng hơn cả để thực hiện thành công đa dạng hoá là cơ cấu lao động
trong công ty được tổ chức như thế nào. Lực lượng lao động bảo đảm được
số lượng, chất lượng, giới tính và lứa tuổi được sử dụng đúng chỗ là một
điều kiện thuận lợi khi mở rộng sản xuất những mặt hàng mới.
Để quản lý một danh mục sản phẩm với nhiều chủng loại phức tạp thì
yêu cầu đặt ra đối với đội ngũ lãnh đạo cũng rất cao. Mặt khác chính những
21
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
nhà quản lý cũng là những người vạch ra chiến lược đa dạng hoá cho công ty
vì vậy họ phải có sự hiểu biết, kinh nghiệm và một tầm nhìn xa.
Tuy vậy một cơ cấu lao động tối ưu không đủ để mang đến thành công
cho doanh nghiệp khi nó không được đặt trong một môi trường làm việc
lành mạnh có văn hoá và khuyến khích người lao động có trách nhiệm với
công việc, không ngừng sáng tạo vươn lên vì bản thân và vì sự phát triển của
doanh nghiệp.
2.2.3. Vốn:
Một nguồn lực quan trọng để thực hiện đa dạng hoá sản phẩm là tiềm
năng vốn của doanh nghiệp vì vậy phải đánh giá đầy đủ về nguồn vốn, tính
chất và khả năng khai thác các nguồn. Thực hiện đa dạng hoá sản phẩm liệu
doanh nghiệp có phải đầu tư thêm không hay đầu tư mới ? Đầu tư vốn cố
thông tin và việc đưa doanh nghiệp tham gia các tổ chức liên kết thích ứng
có tầm quan trọng đặc biệt.
III. Một số chỉ tiêu đánh giá mức độ và hiệu quả đa dạng hoá :
1. Hệ số đa dạng hoá sản phẩm : H
D
D
0
H
D
= 1 - -------
D
S
Trong đó:
D
0
: Doanh thu từ sản phẩm đa dạng hoá trong kỳ
D
S
: Doanh thu của toàn bộ sản phẩm trong kỳ
H
D
= 0 thì không đa dạng hoá sản phẩm
0< H
D
< 1: H
D
càng thấp thì mức độ đa dạng hoá sản phẩm càng cao
Ví dụ: Doanh thu từ 9 sản phẩm mới của một doanh nghiệp dược phẩm
năm 1999 là 0,91 tỷ đồng, tổng doanh thu là 80 tỷ.
B
=1 thì doanh nghiệp không thực hiện đa dạng hoá theo hướng
cải tiến, hoàn thiện sản phẩm
H
B
càng lớn mức độ đa dạng hoá càng lớn
Ví dụ một doanh nghiệp sản xuất bánh kẹo cải tiến bao gói và hình thức
của bánh kem xốp thành 3 loại sản phẩm khác nhau.
3
H
B
= ----------- = 3
1
3. Hệ số mở rộng chủng loại sản phẩm : H
M
S
C
+ S
M
H
M
= --------------
S
S
C
: Chủng loại sản phẩm cải tiến từ sản phẩm gốc.
S
M
: Số chủng loại sản phẩm mới hoàn toàn .
= ------ - ------
Z
D
Z
0
Trong đó:
P
0
và P
D
: Lợi nhuận trước và sau khi đa dạng hoá sản phẩm
Z
0
và Z
D
: Giá thành sản phẩm trước và sau khi đa dạng hoá sản phẩm
P
D
P
0
K
P
’= ------ - ------
V
D
V
0
V
0
: Vốn đầu tư trước và sau khi đa dạng hoá sản phẩm
Z
0
và Z
D
: Giá thành sản phẩm trước và sau khi đa dạng hoá
E
đm
: Hệ số hiệu quả định mức của vốn đầu tư ( cho biết từ một đơn vị chi
phí đầu tư bỏ thêm thì thu được bao nhiêu đơn vị lợi nhuận ).
K
P
, K
P
’, K
P
’’ >0 : Đa dạng hoá có hiệu quả.
K
P
, K
P
’, K
P
’’ ≤ 0 : Đa dạng hoá không có hiệu quả.
25