PHẦN I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC XUẤT KHẨU THỦY SẢN Ở CÁC TỈNH VEN BIỂN NAM BỘ - Pdf 63

PHẦN I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC XUẤT KHẨU THỦY
SẢN Ở CÁC TỈNH VEN BIỂN NAM BỘ
1. Các khái niệm chung
1.1. Khái niệm thương mại
1..1.1. Khái niệm thương mại theo nghĩa rộng
Thương mại là toàn bộ các hoạt động kinh doanh trên thị trường. Thương
mại đồng nghĩa với kinh doanh được hiểu như là các hoạt động kinh tế nhằm
mục tiêu sinh lợi của các chủ thể kinh doanh trên thị trường.
Theo pháp lệnh trọng tài ngày 25 tháng 5 năm 2003, có 15 hành vi
thương mại đó là: Mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ; phân phối; đại diện, đại
lý thương mại; ký gửi; thuê, cho thuê; thuê mua; xây dựng; tư vấn; kỹ thuật; li
xăng; đầu tư tài chính, ngân hàng; bảo hiểm; thăm dò khai thác; vận chuyển
hàng hóa, hành khách bằng đường hàng không, đường biển, đường sắt, đường
bộ và các hành vi thương mại khác theo quy định của pháp luật
1.1.2. Khái niệm thương mại theo nghĩa hẹp
Thương mại là quá trình mua bán hàng hóa, dịch vụ trên thị trường, là
lĩnh vực phân phối và lưu thông hàng hóa.
Theo Luật Thương mại 1998 – 2005 thì các hành vi thương mại bao gồm:
mua bán hàng hóa; đại diện cho thương nhân; môi giới thương mại; ủy thác mua
bán hàng hóa; đại lý mua bán hàng hóa; gia công thương mại; đấu giá hàng hóa;
đấu thầu hàng hóa; dịch vụ giám định hàng hóa; khuyến mại; quảng cáo thương
mại; trưng bày giới thiệu hàng hóa và hội chợ triển lãm thương mại.
1.2. Khái niệm thương mại quốc tế
Nếu hoạt động trao đổi hàng hóa (kinh doanh hàng hóa )vượt ra khỏi
biên giới quốc gia thì người ta gọi đó là ngoại thương (kinh doanh quốc tế hay
thương mại quốc tế).
Thương mại quốc tế phản ánh mối quan hệ kinh tế xã hội, đồng thời phản
ánh sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia và giữa những người sản xuất cá
biệt của các quốc gia khác nhau.
Xét trên tư cách là một quá trình kinh tế, thương mại quốc tế là quá trình
bắt đầu từ khâu nghiên cứu điều tra nhu cầu thị trường thế giới; tổ chức thu mua

Chính vì vậy có rất nhiều quan điểm về thị trường được đưa ra
Thị trường là tổng thể các quan hệ về lưu thông hàng hóa và lưu thông
tiền tệ.
Thị trường là quá trình người mua và người bán tác động qua lại lẫn
nhau để xác định giá cả và khối lượng hàng hóa mua bán.
Thị trường là một tập hợp các khách hàng có nhu cầu, có khả năng thanh
toán nhưng chưa được thỏa mãn và đang hướng tới sự thỏa mãn của doanh
nghiệp.
Thị trường là một môi trường mà ở đó xảy ra cạnh tranh giữa các sản
phẩm “có thể thay thế cho nhau vì cùng mục đích sử dụng của người tiêu dùng”.
1.4.2. Khái niệm thị trường xuất khẩu
Việc xuất khẩu hàng hóa là hoạt động thương mại giữa hai quốc gia và
vùng lãnh thổ, hoặc giữa hai chủ thể kinh tế, khác nhau về quốc tịch. Xuất khẩu
mang lại nguồn thu ngoại tệ cho quốc gia. Để thúc đẩy xuất khẩu, việc cần thiết
là phải nghiên cứu kỹ thị trường xuất khẩu. Thị trường xuất khẩu được hiểu là
cung – cầu về loại hàng hóa của nước nhập khẩu đối với loại hàng hóa đó ở
nước có tư cách là nước xuất khẩu.
Trên thị trường này, cạnh tranh xảy ra quyết liệt hơn do không những
phải cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại ở nước sở tại mà còn phải cạnh
tranh với hàng hóa từ các quốc gia xuất khẩu khác trên thế giới
2. Đặc điểm của xuất khẩu hàng hóa và xuất khẩu thủy sản
2.1. Đặc điểm của xuất khẩu hàng hóa
- Thị trường rất rộng lớn, nhưng lại tách biệt, thông qua thông lệ quốc tế
và các quy tắc chung của các Tổ chức Thương mại trên thế giới. Chính vì vậy
công tác nghiên cứu thị trường cần phải được đầu tư và quan tâm hơn nữa.
- Xuất khẩu hàng hóa cho phép các quốc gia trên thế giới khai thác triệt
để lợi thế so sánh của mình để thu được nhiều lợi nhuận hơn, tạo điều kiện
chuyên môn hóa sản xuất, nâng cao năng suất lao động tạo ra nhiều sản phẩm
hơn cho xã hội.
- Hoạt động xuất khẩu hàng hóa diễn ra giữa hai chủ thể kinh tế ở hai

gian nên lợi nhuận của họ sẽ giảm. Hơn nữa nhà xuất khẩu bị chậm thông tin so
cới thị trường, điều này có thể gây thiệt hại lớn, làm cho nhà xuất khẩu không
đáp ứng được yêu cầu của người tiêu dùng.
2.2.3. Hình thức gia công quốc tế
Gia công quốc tế là hoạt động bên đặt gia công giao hoặc bán toàn bộ
nguyên kiệu hoặc bán thành phẩm cho bên nhận gia công. Sau một thời gian
thỏa thuận, bên nhận gia công nộp hoặc bán lại thành phẩm cho bên gia công.
Bên đặt gia công phải trả cho bên nhận gia công một khoản gọi là phí gia công.
Ưu điểm: Các nhà gia công không phải lo đầu vào và đầu ra, tạo thêm
việc làm, tận dụng được số lao động dư thừa.
Hạn chế: Nhà gia công sẽ không chủ động trong quá trình sản xuất và sẽ
không nắm bắt được thông tin về thị trường, không tạo lập và quảng bá được
thương hiệu.
2.2.4. Hình thức tái xuất khẩu
Là xuất khẩu trở lại nước ngoài những hàng hóa trước đây đã nhập khẩu
nhưng không gia công chế biến. Hình thức này nhằm hưởng lợi nhuận chênh
lệch từ giá mua đi bán lại.
Ưu điểm: Không cần một lượng vốn lớn do không phải đầu tư vào sản
xuất. Chính vì thế nhà xuất khẩu có thể thay đổi sản phẩm xuất khẩu linh hoạt
theo nhu cầu của thị trường.
Hạn chế: Chi phí vận chuyển khá lớn. Rủi ro cũng tương đối lớn do mua
đi bán lại.
2.2.5. Xuất khẩu tại chỗ
Là hành vi bán hàng hóa cho người nước ngoài trên lãnh địa của nước
mình.
Ưu điểm: Ít gặp rủi ro hơn về pháp luật, chính trị, vận chuyển so với các
hình thức khác và vì thế lợi nhuận có thể lớn.
Hạn chế: Số lượng hàng hóa bán được thường không cao.
Như vậy, mỗi hình thức xuất khẩu đều có những ưu và nhược điểm. Do đó tùy
vào từng loại hàng hóa, khả năng của nhà xuất khẩu mà chọn loại hình thức xuất

2.3.2. Đặc điểm của xuất khẩu thủy sản
- Hàng thủy sản Việt Nam hiện có mặt ở trên rất nhiều khu vực thị
trường, trong đó có các thị trường lớn như: Nhật Bản, EU, Hoa Kỳ. Thị trường
tiêu thụ của hàng thủy sản xuất khẩu Việt Nam là rất rộng lớn. Đây là một thành
công đáng kể của ngành thủy sản và của các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản
nước ta.
- Từ cuối năm 2006 khi Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới
WTO, hoạt động xuất khẩu thủy sản không những phải tuân thủ những quy định
ngặt nghèo trước đây mà còn phải tuân thủ thêm những “luật chơi” mới. Nhưng
đồng thời cũng có những thuận lợi đáng kể về mặt pháp lý như sự công bằng
trong xuất khẩu giữa các nước, sự thuận lợi trong tranh chấp thương mại…
- Hoạt động chế biến xuất khẩu phụ thuộc không những vào nhu cầu thì
trường mà việc tăng giảm lợi nhuận, kim ngạch xuất khẩu phụ thuộc rất nhiều
vào năng lực chế biến trong nước, tức là phụ thuộc vào sản lượng khai thác,
nuôi trồng thủy hải sản.
- Hàng thủy sản là mặt hàng thực phẩm, nên khi xuất khẩu mặt hàng này
luôn gặp phải rào cản về VSATTP và đặc biệt chất lượng của mặt hàng xuất
khẩu cần phải được đảm bảo ngay từ khâu nuôi trồng đến chế biến…
- Xuất khẩu thủy sản sẽ tạo ra một lượng lớn việc làm, thúc đẩy kinh tế
địa phương phát triển, nhất là đối với các tỉnh ven biển. Đồng thời nâng cao
năng suất lao động ngành thủy sản và tạo điều kiện chuyên môn hóa sản xuất.
3. Xuất khẩu thủy sản đối với các tỉnh ven biển Nam Bộ
3.1. Vai trò của xuất khẩu hàng hóa
Xuất khẩu có vai trò quan trọng trong việc thực hiện các mục tiêu chiến
lược phát triển xuất khẩu của Việt Nam, chủ động mở rộng, đa dạng thị trường
xuất khẩu và tăng cường quan hệ thương mại với các quốc gia trên thế giới.
3.1.1. Xuất khẩu tạo điều kiện cho các quốc gia tận dụng được lợi thế so sánh của mình
Mỗi quốc gia có những lợi thế khác nhau. Và theo lý thuyết thương mại
(lý thuyết lợi thế tuyệt đối, tương đối) thì các quốc gia nên tập trung chuyên
môn hóa sản xuất những sản phẩm mình có lợi thế so sánh, sau đó trao đổi với


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status