ĐẤU TRANH CỦA NÔNG DÂN ĐỒNG BẰNG BẮC KỲ HƯỞNG ỨNG
PHONG TRÀO XÔ VIẾT NGHỆ TĨNH (1930-1931)
Trần Văn Hùng
Khoa KHXH&NV, Trường Đại học Hùng Vương
1. Mở đầu
Dưới tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới (1929-1933), cuộc khủng hoảng
được đánh giá là “nghiêm trọng và sâu sắc nhất trong lịch sử chủ nghĩa tư bản” [5; 295], nước
Pháp cũng bị ảnh hưởng sâu sắc. Vì vậy giới cầm quyền Pháp đã trút gánh nặng cuộc khủng
hoảng lên nhân dân lao động trong nước và nhân dân các nước thuộc địa. Tác động của cuộc
khủng hoảng và các chính sách của thực dân Pháp, nền kinh tế Việt Nam “vốn đã bị phụ thuộc
nặng nề vào kinh tế Pháp lại càng suy sụp, tiêu điều hơn” [5; 296]. Trong các lĩnh vực chịu ảnh
hưởng, nông nghiệp và nông dân là lĩnh vực và đối tượng bị ảnh hưởng nặng nề, sâu sắc nhất. Do
ảnh hưởng của khủng hoảng, giá lúa gạo bị sụt giảm nghiêm trọng, “năm 1929, giá 1 tạ gạo hơn
11 đồng, năm 1933 còn hơn 3 đồng” [5; 288]. Trong khi đó, nông dân phải chịu mức sưu thuế
nặng nề hơn so với giai đoạn trước, “một suất sưu năm 1929 bằng 50 kg gạo, thì năm 1932 là 100
kg, năm 1933 là 300 kg” [5; 299].
Sau cuộc khởi nghĩa Yên Bái, thực dân Pháp tăng cường đàn áp, thực hiện chính sách
khủng bố trắng, thực hiện kết án 1086 người, trong đó có 80 người bị xử tử hình và 594 người bị
phạt tù nặng. Cuộc khủng bố của Pháp thực hiện chủ yếu ở Bắc Kỳ, nơi diễn ra phong trào Việt
Nam Quốc dân Đảng và khởi nghĩa Yên Bái mạnh mẽ.
Giữa lúc nhân dân đang cùng cực, khởi nghĩa bị đàn áp trong bể máu, Đảng Cộng sản Việt
Nam ra đời. Với đường lối cách mạng đúng đắn, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định ngay
vai trò lãnh đạo cách mạng duy nhất ở Việt Nam và tạo ra bước ngoặt không chỉ đối với cách
mạng Việt Nam, “mà còn là bước ngoặt của phong trào đấu tranh của nông dân Việt Nam” [7;
80]. Đảng đã nhanh chóng phát động được một phong trào đấu tranh mạnh mẽ, quyết liệt của các
giai cấp, tầng lớp nhân dân, trong đó có nông dân đồng bằng Bắc Kỳ.
2. Phương pháp nghiên cứu
Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành:
phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic nhằm đánh giá đúng phong trào đấu tranh trong hoàn
cảnh lịch sử những năm 1930-1931 của đất nước nói chung và địa bàn các tỉnh ĐBBK nói riêng
dưới chính sách cai trị của thực dân Pháp.
Trường, Nghĩa Hưng (Nam Định); đấu tranh của hàng nghìn nông dân huyện Bình Lục, Duy Tiên
(Hà Nam); Quỳnh Lưu (Ninh Bình); .
Từ tháng 2-1931, thực dân Pháp và chính quyền tay sai bắt đầu thực hiện chính sách
khủng bố và chia rẽ, đấu tranh của nông dân đồng bằng Bắc Kỳ cũng như phong trào nông dân cả
nước đã bắt đầu đi xuống. Tuy nhiên ở đồng bằng Bắc Kỳ vẫn tiếp tục có một số cuộc đấu tranh ở
các tỉnh Nam Định, Ninh Bình. Tại Nam Định có cuộc đấu tranh của nông dân Lạc Nghiệp đòi lập
chợ (6-1931); đấu tranh của nông dân Xuân Cốc đòi địa chủ không được hạ giá công gặt (6-1931);
đấu tranh của nông dân Quất Lâm Hạ (9-1931) đòi gặt lúa ở những ruộng do địa chủ, cường hào
chiếm đoạt. Đấu tranh của nông dân Trung Trữ (Gia Khánh-Ninh Bình) đòi tăng công gặt và
chống thuế. “Khẩu hiệu "khất sưu" đã thu hút được sự ủng hộ của đông đảo dân chúng, nhất là
bần, cố nông” [1; 24].
Như vậy, trong hai năm 1930, 1931, tại khu vực ĐBBK có nhiều cuộc đấu tranh với các
quy mô khác nhau của nông dân, có những cuộc đấu tranh với quy mô hàng 1000 nông dân.
Phong trào này hưởng ứng mạnh mẽ với phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh và là một phần của phong
trào đấu tranh giải phóng dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
3.2. Đặc điểm của phong trào nông dân ĐBBK thời kỳ 1930-1931
Qua thực tiễn phong trào đấu tranh của nông dân ĐBBK ta có thể nhận thấy phong trào đấu
tranh ở đây mang những đặc điểm chung của phong trào nông dân cả nước trong thời kỳ này.
Thứ nhất, phong trào đấu tranh của nông dân ĐBBK có sự lãnh đạo, tổ chức chặt chẽ của
Đảng Cộng sản Việt Nam. ĐBBK là khu vực có phong trào cộng sản phát triển mạnh mẽ, nhiều
chi bộ ra đời ở các xã, thôn từ cuối năm 1929. Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu, thực tiễn
cho thấy “vào cuối những năm 20, Bắc Kì là nơi có phong trào cách mạng phát triển mạnh mẽ
hơn cả so với các vùng khác trong cả nước” [5; 281]. Tại Hải Phòng, chi bộ cộng sản đầu tiên ra
đời tháng 4-1929; Nam Định, chi bộ công sản đầu tiên ra đời tháng 6-1929; Ninh Bình, chi bộ
cộng sản thành lập vào cuối năm 1929;
Thực tế đấu tranh ở ĐBBK cho thấy, ở địa bàn nào có sự ra đời của các chi bộ cộng sản,
có tuyên truyền cách mạng của Đảng thì ở đó có sự đấu tranh mạnh mẽ của các giai cấp và tầng
lớp nhân dân, trong đó có nông dân. Thái Bình là tỉnh có phong trào đấu tranh mạnh mẽ nhất, bởi
vì trên địa bàn tỉnh, chi bộ cộng sản đầu tiên thành lập ngay từ tháng 6-1929, đồng thời Đảng bộ
tỉnh Thái Bình cũng được thành lập. Đến cuối năm 1931, theo số liệu thống kê của Xứ ủy Trung
sánh với phong trào đấu tranh của nông dân ở Trung Kỳ và Nam Kỳ.
So với đấu tranh của nông dân Trung Kỳ và Nam Kỳ trong cùng thời kỳ này, phong trào
của nông dân Bắc Kỳ còn có số lượng và quy mô nhỏ hơn. Trong khi ở Bắc Kỳ, phong trào đấu
tranh với quy mô lớn nhất chỉ có khoảng 1500 nông dân, thì ở Trung Kỳ, có cuộc đấu tranh với
quy mô “20000 nông dân” [5; 302] như cuộc đấu tranh ngày 1-9-1930 của nông dân huyện Thanh
Chương. Tại Nam Kỳ, cuộc biểu tình ngày 13-5-1930 của nông dân Cần Thơ có sự tham gia của
“4000 nông dân” [3; 71]. Đấu tranh của nông dân ĐBBK chỉ tâp trung cơ bản ở một số tỉnh thuộc
châu thổ ĐBBK như Thái Bình, Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình, các tỉnh khác đấu tranh của nông
dân còn thấp, không điển hình.
Mặc dù có sự kết hợp khẩu hiệu đấu tranh kinh tế với chính trị, nhưng đấu tranh của nông
dân ĐBBK thời kỳ này tập trung chủ yếu là đòi lợi ích kinh tế như đòi cho vay thóc, vay tiền,
chống phụ thu, lạm bổ, tăng công cấy, công gặt. Đấu tranh chưa thật kiên quyết, triệt để.
4. Kết luận
Những mặt tích cực và tồn tại trên đây trong phong trào đấu tranh của nông dân ĐBBK đã
được Trung ương Đảng và Xứ ủy Bắc Kỳ phát huy và dần điều chỉnh, khắc phục trong quá trình lãnh
đạo sau này, từ đó đưa phong trào nông dân ĐBBK ngày càng phát triển và trở thành khu vực có
phong trào đấu tranh của giai cấp nông dân mạnh mẽ nhất, quyết liệt nhất.
Với các cuộc đấu tranh như trên, phong trào nông dân ĐBBK thời kỳ này đã thể hiện sự
tiếp bước đối với truyền thống lịch sử đấu tranh của nông dân trên địa bàn, đồng thời chứng minh
sự đúng đắn trong chủ trương lãnh đạo của Đảng đối với giai cấp nông dân, là cơ sở thực tiễn
khẳng định giai cấp nông dân là lực lượng chủ đạo của cách mạng, tạo cơ sở quan trọng cho sự
chuẩn bị của Đảng ta tiến tới Cách mạng tháng Tám – 1945, mà các tỉnh ĐBBK là những tỉnh đi
đầu thắng lợi.
Tài liệu tham khảo
[1]. BCH Đảng bộ Ninh Bình (1967), Lịch sử Đảng bộ Ninh Bình, Tập 1 (1930 – 1945), Ninh
Bình xuất bản.
[2]. BCH Đảng bộ tỉnh Thái Bình (1999), Lịch sử Đảng bộ Thái Bình, Nxb CTQG, Hà Nội.
[3]. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 2 (1930), Nxb CTQG, Hà Nội.
[4]. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 3 (1931), Nxb CTQG, Hà Nội.
[5]. Đinh Xuân Lâm (Chủ biên - 2000), Đại cương lịch sử Việt Nam (Tập II), Nxb GD, Hà Nội.