LUẬN VĂN: Sự thống nhất và đấu tranh giữa các thành phần kinh tế ở nước ta hiện nay potx - Pdf 12


LUẬN VĂN:

Sự thống nhất và đấu tranh
giữa các thành phần kinh tế ở
nước ta hiện na
Phần mở đầu
Đất nước ta trải qua một thời gian dài chiến tranh gian khổ ác liệt lại bắt tay
ngay vào công cuộc xây dựng CNXH. Trong quá trình khôi phục và phát triển nền
kinh tế đi lên từ đói nghèo lạc hậu. Do đó không tránh khỏi tư tưởng chủ quan nóng
vội và những sai lầm. Đó là thời kỳ nền kinh tế nước ta ở tình trạng kế hoạch hoá
tập trung quan liêu bao cấp.
Sớm nhận thức được những sai lầm trong đường lối chính sách của Đảng và

các chỉ tiêu mang tính pháp lệnh từ trên giao xuống các đơn vị cơ cở.
Thứ ba: Nhà nước can thiệp quá sâu vào các hoạt động của các doanh nghiệp
và hợp tác xã và các tổ chức sản xuất dẫn đến các dơnh nghiệp vừa không có quyền
tự chủ trong kinh doanh, vừa không bị ràng buộc về kết quả kinh doanh
Thứ tư: nhà nước thực hiện 1 cơ chế bao cấp tràn lan thông qua chế độ cung
cấp và cấp phát ngân sách mà không có ràng buộc về mặt vật chất
Thứ năm: Kế hoạch giá trị hầu như không được tính tới.Tiền tệ là một công cụ
năng động nhất trong quản lý kinh tế không được coi trọng đúng mức.Thậm chí
đồng tiền còn bị gán tiếng xấu là nguồn gốc của bất công trong xã hội
Với những đặc điểm ở trên cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp đã
không tránh khỏi kết quả là hoạt động kém hiệu quả. Lợi ích người lao động chưa
được quan tâm đúng mức. Kết quả là sự khủng hoảng kinh tế,chính trị …
Đứng trước tình hình đó đòi hỏi Đảng và Nhà nước ta phải có chủ trương chỉ
đạo đổi mới toàn diện mà trọng tâm là đổi mới kinh tế. 2. Tính tất yếu khách quan của việc chuyển đổi và tồn tại nền kinh tế nhiều
thành phần ở nước ta hiện nay.
2.1. Tính tất yếu khách quan của việc chuyển đổi và tồn tại nền kinh tế
nhiều thành phần ở nước ta.
Từ Đại hội VI(1986) đảng ta đã đánh giá đúng đắn những tồn tại,đồng thời
phân tích những sai lầm về chủ quan duy ý chí trong những năm thực hiện cơ chế
kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp.Từ đó Đảng ta đã khởi xướng sự nghiệp
đổi mới toàn diện mà trọng tâm là đổi mới kinh tế -"Phát triển kinh tế hàng hoá
nhiều thành phần với nhiều hình thức sở hữu, vận hành theo cơ chế thị trường, đi
đôi với tăng cường quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN". Nội dung này
tiếp tục được khẳng định tại Đại hội VII và VIII.
Quan điểm của Đảng về việc xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần
xuất phát từ:
Thứ nhất: Phát triển nền kinh tế nhiều thành phần mới phù hợp với thực trạng

Tăng trưởng 4 3,9 5,1 8,1 8,8 9,5
Lạm phát 774,7 223,1 393,8 5,2 14,4 12,7
Hiện nay đồng tiền Việt Nam, tăng giá và ổn định. Tỷ lệ đầu tư nước ngoài
vào Việt Nam tăng, cơ cấu các nghành kỹ thuật có thay đổi theo hướng tiến bộ.
Thứ ba: Cơ cấu nghành kinh tế có sự chuyển dịch theo hướng tiến bộ. Tỷ
trọng công nghiệp và xây dựng cơ bản trong GDP tăng 22,6%(1990) lên
30,3%(1995), tỷ trọng dịch vụ từ 38,6% lên 42,5%, tỷ trọng nông nghiệp giảm
40,6%(1990) xuống 36,2% (1994).
Nhìn chung bộ mặt của đất nước thay đổi hẳn, đúng như nhận xét của Giênathan H
Hotơn (Giáo sư viện phát triển quốc tế Havớt (Mỹ))"Việt Nam đã đạt được nhiều thành
tựu đáng kinh ngạc , đã thực hiện được những bước chuyển to lơn nhanh hơn cả Trung
Quốc(theo Vain,1993) có hiểu quả cao hơn cả Nga và Đông Âu vào cùng thời điểm"(
Các cách kinh tế ở Việt Nam: bức tranh tổng quát trang 33). II. Các thành phần kinh tế tồn tại trong thời kỳ quá độ ở Việt Nam
Trên cơ sở xem xét lại quá trình vận động và phát triển của các thành phần
kinh tế ở nước ta qua việc thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần
của Đảng và Nhà nước trong nhiệm kỳ Đại hội VI đến Đại hội VIII, Đảng ta xác
định các thành phần kinh tế ở nước ta hiện nay như sau:
1. Kinh tế nhà nước
2. Kinh tế hợp tác mà nòng cốt là các hợp tác xã
3. Kinh tế tư bản nhà nước
4. Kinh tế cá thể tiểu chủ
5. Kinh tế tư bản tư nhân
1. Kinh tế nhà nước:
Thành phần kinh tế này nắm giữ những mạch máu kinh tế và công nghệ then chốt.
2. Kinh tế tập thể:
Thành phần kinh tế này không ngừng được củng cố và mở rộng, bổ xung cho
kinh tế quốc doanh.

Trong quá trình phát triển của mâu thuẫn, khi cuộc đấu tranh của các mặt đối
lập trở nên quyết liệt nên có điều kiện chín muồi, tất yếu dẫn đến "sự chuyển hoá
cuối cùng" và khi đó mâu thuẫn được giải quyết, sự vật cũ mất đi sự vật mới ra đời
thay thế. Sự vật mới là thể thống nhất của các mặt đối lập mới. Do đó, có mâu thuẫn
mới, quá trình lặp đi lặp lại không ngừng làm cho con đường phát triển diễn ra liên
tục, ngày càng cao.
Quy luật mâu thuẫn còn vạch rõ: bất cứ sự thống nhất của các mặt đối lập cụ
thể nào cũng đều có tính tạm thời tương đối, đó chính là trạng thái đứng im tương
đối của sự vật. Sự đấu tranh của các mặt đối lập có tính chất tuyệt đối. 2. Tính thống nhất và đấu tranh của các thành phần kinh tế ở nước ta hiện
nay.
2.1. Tính thống nhất
Trong thực tiễn, chế độ sở hữu về tư liệu sản xuất trong thời kỳ quá độ gồm
nhiều hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất tồn tại nhiều thành phần kinh tế. Chính vì
vậy giữa các thành phần kinh tế này có một sự thống nhât, hợp tác, đan xen bổ xung
cho nhau để cùng phát triển. Các điểm thống nhất đó thể hiện:
Thứ nhất: Các thành phần kinh tế đều phải chịu sự tác động của những quy
luật chung của nền kinh tế mang bản chất XHCN, cùng hoạt động và hướng tới mục
tiêu chung của xu thế phát triển kinh tế xã hội của toàn bộ nền kinh tế quốc dân
Thứ hai: Thế giới hiện nay đang có sự mâu thuẫn giữa tăng trưởng kinh tế và
sự phát triển xã hội nói chung. Rất nhiều quốc gia tư bản khi tăng trưởng kinh tế đã
kèm theo khủng hoảng xã hội về đạo lý và đời sống tinh thần. Tăng trưởng kinh tế
không có mục đích tự thân mà nhằm phát triển xã hội, phát triển con người. Phát
triển kinh tế mà làm suy đồi đạo đức, thì làm sao kinh tté có cơ sở để phát triển liên
tục.Yêu cầu khách quan của cuộc sống hiện đại đặt ra tăng trưởng kinh tế phải đi
với tiến bộ xã hội, tiến bộ xã hội là kết quả nhưng cũng là động lực, yếu tố nội tại
của sự phát triển kinh tế.
Thứ ba: Ngày nay tăng trưởng kinh tế đòi hỏi phải đi đôi với bảo vệ môi

Mặt mâu thuẫn thứ nhất: Đó là sự mâu thuẫn dựa trên sự khác nhau về lợi ích
kinh tế. Đứng đầu mỗi thành phần kinh tế là các chủ thể kinh tế. Xuất phát từ lợi ích
khác nhau giữa các chủ thể mà thành phần kinh tế có lợi ích khác nhau, chúng mâu
thuẫn, cạnh tranh với nhau tạo thành động lực cho sự phát triển. Chúng ta đều biết
động lực bên trong thúc đẩy toàn bộ sự hoạt động của con người chính là nhu cầu.
Nhưng nhu cầu thúc đẩy con người hành động không phải trực tiếp mà thông qua
lợi ích.
Xét ở góc độ chủ thể bên cạnh lợi ích các nhân, lợi ích tập thể còn có lợi ích
của gia đình, dòng họ, giai cấp, dân tộc, quốc gia và lợi ích nhân loại. Lợi ích cá nhân không bao giờ tách khỏi lợi ích của các chủ thể kinh tế. Song những lợi ích ấy
chỉ thực hiện được vai trò động lực của mình thông qua lợi ích cá nhân.
Như trên đã phân tích, lợi ích cá nhân là động lực trực tiếp và mạnh mẽ nhất,
thôi thúc chủ thể hoạt động. Mặt khác, đứng đằng sau mỗi thành phần kinh tế là các
chủ thể. Chính vì vậy, có những lợi ích khác nhau nên các thành phần có sự mâu
thuẫn, cạnh tranh. Thực cất các nhà kinh tế đều khẳng định cạnh tranh là động lực
phát triển nền kinh tế. Do sức ép cạnh tranh, các nhà sản xuất buộc phải tìm cách sử
dụng hợp lý nhất các nguồn tài nguyên thiên nhiên để đạt được mục tiêu chiến lược
đề ra.
Mâu thuẫn thứ hai: Đó là sự đấu tranh mẫu thuẫn giữa các thành phần kinh tế
và được chia thành hai loại mâu thuẫn. Đó là mâu thuẫn giữa các thành phần kinh tế
mà mẫu thuẫn giữa các doanh nghiệp trong cùng một thành phần kinh tế. Trong bài
viết này ta xem xét cạnh tranh giữa các thành phần kinh tế.
Mâu thuẫn giữa các thành phần kinh tế là mâu thuẫn giữa một bên là kinh tế
quốc doanh, kinh tế tư bản nhà nước và kinh tế tập thể với một bên là tính tự phát tư
sản, tiểu tư sản của kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế cá thể.
Mâu thuẫn giữa các doanh nghiệp trong cùng một thành phần kinh tế bắt
nguồn từ sự mất cân đối, vi phạm hợp đồng, quan hệ thanh toán, chiếm dụng vốn
của nhau.

hội.
Bên cạnh đó còn có sự đấu tranh với nhau trong mục tiêu chiến lược. Mục tiêu
chiến lược của một công ty được biểu hiện ở ý định của công ty trong việc khai thác
ưu thế cạnh tranh của mình hoặc là trên toàn bộ hoặc phần lớn các đoạn thị trường
hoặc trên một đoạn thị trường hạn chế.
Các thành phần kinh tế ở nước ta hiện nay không chỉ mâu thuẫn về mặt lợi ích
kinh tế, lợi ích cá nhân giữa các chủ thế kinh tế mà chúng còn mâu thuẫn bởi vai trò
của mỗi thành phần kinh tế là khác nhau.
Kinh tế nhà nước: Vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế này chủ yếu là định
hướng và tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển Kinh tế hợp tác: Kinh tế hợp tác nảy sinh từ nhu cầu và lợi ích của việc phối
hợp những nỗ lực chung của những người lao động thông qua con đường liên kết tự
nguyện, phát huy sức mạnh cộng đồng.
Kinh tế cá thể tiểu chủ: Bao gồm những đơn vị, những tổ chức kinh tế dựa vào
vốn và sức lao động của chính chủ thể đó là chủ yếu. Kinh tế các thể có vị trí rất
quan trọng trong nhiều ngành nghề
Kinh tế tư bản tư nhân: Có vai trò to lớn đối với sự phát triển đã xác nhận mặc
dù mới được khuyến khích phát triển và khôi phục trong thời gian gần đây.
Kinh tế tư bản nhà nước: Sự phát triển của thành phần kinh tế này không chỉ
góp phần đẩy nhanh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất mà còn là
sự "giao thoa" giữa kinh tế Nhà nước và kinh tế thế giới.
Nói tóm lại mỗi thành phần kinh tế có một vai trò nhất định trong nền kinh tế,
tất cả đều đóng góp vào sự tăng trưởng và đi lên của nền kinh tế nhà nước, song
giữa chúng không tránh khỏi những mâu thuẫn đấu tranh nhiều khi gay gắt và phức
tạp trong nội bộ từng nghành giữa các vùng trong nền kinh tế quốc dân.
Phân công lao động có tác dụng rất to lớn nó là đòn bẩy của sự phát triển công
nghệ và năng suất lao động. Vấn đề phân công lao động xã hội có liên quan chặt chẽ
tới việc xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý. Xã hội hoá cả XHCN sản xuất cần được

đi lên CNXH, V-Lênin đã đề xuất chế độ tư bản nhà nước trong chính sách kinh tế
mới, đồng thời cũng làm xuất hiện một tác nhân kinh tế mới đó là thành phần kinh
tế tư bản nhà nước.
Như vậy trong thời kỳ quá độ đi lên CNXH, một mặt chế độ sở hữu đã được
đa dạng hoá, xuất hiện hình thức đan xen về chế độ sở hữu mặt khác cũng thấy rõ
nét năm thành phần kinh tế tồn tại: kinh tế nhà nước, kinh tế hợp tác, kinh tế cá thể,
kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế tư bản nhà nước. Điều đó giải thích vì sao sự tồn
tại nền kinh tế nhiều thành phần trong nền kinh tế nước ta hiện nay là tất yếu và
khách quan.
Xin trích ý kiến của nguyên thủ tướng Võ Văn Kiệt " chính sách kinh tế nhiều
thành phần của Đảng và Nhà nước ta sẽ trở thành một yếu tố phục vụ đắc lực cho
chiến lược đuổi bắt để rút ngắn khoảng cách tụt hậu " chúng ta khẳng định, kiên trì đường lối phát triển kinh tế nhiều thành phần và hơn nữa còn hy vọng vào nó để rút
ngắn khoảng cách giữa nước ta và các nước trên thế giới. Việt phát triển nền kinh tế
nhiều thành phần trong cơ chế thị trường giữa chúng có sự thống nhất nhưng tất yếu
không trách khỏi sự đấu tranh, mâu thuẫn. Các loại mâu thuẫn đó diễn biến không
kém phần phức tạp, tồn tại tác động lẫn nhau trong suốt cả thời kỳ quá độ.
Để giải quyết những mâu thuẫn này tất yếu đòi hỏi phải có sự quản lý của Nhà
nước XHCN. Trước hết, phải tăng tính thống nhất giữa các thành phần kinh tế thì
phải làm cho sự phân công và hợp tác lao động trong hệ thống phân công không
diễn ra tự phát mà diễn ra 1 cách tự giác, các yếu tố điều tiết của các thành phần
kinh tế khác vận động và phát triển cùng chiều, cùng hướng với yếu tố điều tiết cơ
bản. Mấu chốt là sự kết hợp hài hoà các lợi ích kinh tế, trước hết là các thành phần
trong chính sách kinh tế và pháp luật kinh tế của Nhà nước.
Mục lục


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status