LUẬN VĂN:
Sự nhận thức và vận dụng của học
thuyết Mác về hình thái kinh tế xã hội
vào điều kiện cụ thể ở Việt Nam trong
thời đại mới lời giới thiệu
Từ khi bắt đầu có sự nhận thức, con người đã có xu hướng tìm hiểu chính mình
và thé giới xung quanh. Một trong những vấn đề đặt ra nhiều nhất đó là xã hội, tại
sao lại phải có xã hội ? xã hội hình thành từ đâu, có mang tính giai cấp hay không ?
Mác, do đó cần phải thay thế tiếp cận hình thái kinh tế xã hội bằng tiếp cận theo nền
văn minh.
Hơn lúc nào hết việc nhận thức, bảo vệ và vận dụng sáng tạohọc thuyết Mác về
hình bthái kinh tế – xã hội hiện nay đang trở thành một nhiệm vụ cấp bách đối với tất
cả những ai tán thành chủ nghĩa Mác – Lênin. Những người cach mạng phải đấu
tranh với các quan điểm thù địch nhằm bảo vệ sự đúng đắn của chủ nghĩa Mác – Lê
nin nói chung và học thuyết Mác về hình thái kinh tế – xã hội nói riêng.
Trong những năm cuối cùng của thế kỷ xx này, thế giới đã có những biến đổi
sâu sắc vô cùng phức tạp và phong phú. Chủ nghĩa tư bản nhờ thích nghi với thời đại
nên còn tiếp tục duy trì sự tồn tại của mình, trong khi đó chế độ xã hội chủ nghĩa lại
bị sụp đổ ở nhiều nước trên thế giới. Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ trên
phạm vi toàn cầu diễn ra mạnh mẽ Qúa trình quốc tế hoá đời sống xã hội diễn ra
nhanh chóng có xu hướng tăng lên vai trò sản xuất tinh thần trí tuệ, văn hoá đối với
sự phát triển xã hội, sự gia tăng bùng nổ các vấn đề dân tộc tôn giáo. ở nước ta, chúng ta phát triển đất nước lấy tư tưởng của chủ nghĩa Mác – Lênin
làm tư tưởng chủ đạo, coi chủ nghĩa Mác – Lênin là nền tảng tư tưởng và kim chỉ
nam cho mọi hành động vì vậy vấn đề đặt ra là chúng ta cần phải quán triệt học
thuyết Mác về hình thái kinh tế – xã hội để xác định được ranh giới của chủ nghĩa xã
hội trong hình thái kinh tế – xã hội cộng sản chủ nghĩa
Bài viết này muốn chỉ ra tính đúng đắn, khoa học của học thuyết Mác về hình
thái kinh tế xã hội và khẳng định lại “Học thuyết Mác về hình thái kinh tế xã hội là
quan niệm duy nhất khoa học và cách mạng để phân tích lịch sử và nhận thức các ván
đề xã hội”.
Trong mọi vấn đề nói chung chính trị nói riêng, việc tìm hiểu mọt cách đúng
đắn bản chất của vấn đề là bước khởi đầu quan trọngquyết định sự thành công hay
thất bại của của thực tiễn. Một trong những vấnđề được nghiên cứu nhiều nhất đó là
là thế nào để giải thích một cách khoa học sự vận động theo quy luật khách quan vấn
đề phân dòng của lịch sử xã hội Trước Mác nhiều nhà triết học và xã hội học đã tìm
to lớn và có giá trị bền vững cho đến ngày nay.
Không nắm vững bản chất khoa học lý luận về hình thái kinh tế xã hội, sẽ
không thể hiểu được chính xác những vấn đề cơ bản nhất của đời sống kinh tế xã hội.
Tư tưởng chủ yếu của triết học chủ nghĩa Mác Lê Nin về hình thái kinh tế xã hội
được thể hiện tập trung ở những vấn đề cốt yếu sau.
A. Quan điểm duy vật lịch sử và phạm trù hình thái kinh tế xã hội:
Trước Mác, các nhà xã hội học, triết học đã khôg thể giải thích một cách khoa
học sự vận động theo quy luật khách quan của lịch sử hay vấn đề phần lịch sử xã hội.
Chẳng hạn nhà xã hội học I- Ta – li – a ( 1668- 1744) đã phân cia các thời kỳlịch sử
như phân chia các giai đoạn của một vòng đời, thơ ấu, thanh niên, thành niên, và lúc
tuổi già. Nhà triết học duy tâm Đức Hê Ghen ( 1770- 1831) lại phân chia lịch sử loài
người thành ba thời kỳ chủ yếu là thời kỳ phương đông, thời kỳ cổ đại và thời kỳ
dùng Giéc – ma- ni. Nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng Pháp Pha ri ê đã chia lịch sử
thành 4 thời kỳ, thời kỳ mông muội, thời kỳ giã man, thời kỳ gia trưởng, và thời kỳ
văn minh. Nhà nhân chủng học người Mỹ Hang Ri Mooc- găng ( 1818- 1881) lại phân chia lịch sử thành 3 thời kỳ chính, tời kỳ mông muội, thời kỳ dã man và thời kỳ
văn minh.
Những cách phân kỳ như vậy, không đem lại cách nhìn khoa học về một xã hội
cụ thể. Mác đã dựa trên những nghiên cứu lí luận và tổng kết quá trình lịch sử, Mác
đã nêu ra quan điểm duy vật lịch sử về hình thành học thuyết hình thái kinh tế xã hội
với những nội dung chính sau đây
I. Quan điểm thừa nhận sản xuất vật chất là cơ sở của sự tồn tại và phát triển
xã hội.
Theo mác và Ăng – ghen sản xuất xã hội là hoạt động đặc trưng của con người
và của xã hội loài người và loài vật vì súc vật chỉ biết thu lượm trong khi đó con
người biết sản xuất. Sự sản xuất xã hội bao gồm, sản xuất vật chất, sản xuất con
người và sản xuát các quan hệ xã hội. Trong thực tế ba quá trình này của sản xuất
khôg tách biệt với nhau trong đó sản xuất giữ vai trò nền tảng là cơ sở của sự tồn tại
II- Qua điểm về mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ
sản xuất.
Mác viết: “ Những quan hệ xã hội đều gắn liền với lực lượng sản xuất “. Do có
được những lực lượng sản xuất mới, loài người thay đổi phương thức sản xuất của
mình và do thay đổi phương thức sản xuất, loài người đã thay đổi tất cả cách sống
của mình. Như vậy theo Mac lực lượng sản xuất xét đếncùng đóng vai trò quyết định
trong việc thay đổi phương thức sản xuất, dẫn đến thay đổi toàn bộ các quan hệ xã
hội.
Trong học thuyết củaMác thì phương thức sản xuất là khái niệm biểu thị cách
thức con người thực hiện quá trình sản xuất vật chất ở những giai đoạn lịch sử nhất
định của loài người. Phương thức sản xuất mà nhờ nó mà người ta có thể phân biệt
được sự khác nhau của cácthời đại. Nghĩa là với mỗi hình thái kinh tế xã hội có một
phương thức đặc trưng của nó, dựa vào phương thức sản xuất đặc trưng của mỗithời
đại người ta biết được thời đại lịch sử đó thuộc về hình thái kinh tế xã hội nào. Như
C. Mac đã viết “ Những thời đại kinh tế khác nhau không phải ở chỗ chúng sản xuất
ra cái gì mà là ở chỗ chúng sản xuất bằng cách nào, với những tư liệu lao động nào.
Với tính cách là những thời đại kinh tế khác nhau, phương thức sản xuất chính
là sự thống nhất biện chứng giữa một bên là lực lượng sản xuất, cái biểu hiện của mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, là sự thống nhát biện chứng giứa con người với
tư liệu sản xuất mà trước hết là với công cụ lao động, với một bên là quan hệ sản xuất
– cái biểu hiện của mối quan hệ giữa con người với nhau trong sản xuất xã hội.
Còn một vấn đề quan trọng nữa là con người, trong quan niệm của chủ nghĩa
Mac lê nin thì con người, người lao động có vai trò như thế nào vào trong hệ thống
các nhân tố của mỗi hình thái kinh tế – xã hội. Về điều này, tất nhiên cần thiết phải
tìm hiểu toàn bộ học thuyết không kém phần đồ sộ của mác về con người và về vai
trò của nó trong đời sống kinh tế xã hội. Tuy nhiên trong khuôn khổ về hình thái kinh
tế – xã hội thì cs thể nói rằng con người bao giờ cũng được chủ nghĩa - mác lê nin
nhấn mạnh ở tinýh xã hội ở các quan hệ xã hội trong sự sản xuất xã hội của nó với
hệ hiện thực – lịch sử của con người ở giai đoạn lịch sử xác định.
Chính điều này đã nói lên quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và
trình độ của lực lượng sản xuất. Đây cũng là quy luật của sự phát triển xã hội loài
người. Sự tác đông của nó trong lịch sử là cho xã hội chuyển từ hình thái kinh tế xã
hội thấp sang hình thái xã hội khác cao hơn được thể hiện ở sự thay thế phát triển đi
lên của lịch sử xã hội loài người từ chế độ công và nô lệ lên chế độ chiếm hữu nô lệ,
chế độ phong kiến, chế độ tư bản chủ nghĩa và xã hội cộng sản tương lai
Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuẩt với tính chất và trình độ của lực
lượng sản xuất là quy luật vận động phát triển của xã hội qua sự thay thế kế tiếp từ
thấp đến cao của phương thức sản xuất. Nhưng không phải bất cứ nước nào cũng
nhất thiết phải tuần tự trải qua tất cả các phương thức sản xuất mà loài người biết
đến. Thực tế phát trển của lịch sử nhân loại cho thấy, tuỳ theo điều kiện lịch sử cụ
thể, một số nước ccó tể bỏ qua một hoặc một số phương thức để tiến lên phương
th\cs sản xuất cao hơn. Đó chính là sự biểu hiện cuả quy luật chung trong điều kiện
cụ thể của mỗi nước. Quy luật chung chi phối xu hướng vận động phát triển của tất
cả các nước. Tư tưởng của chủ nghĩa Mac là lời chỉ dẫn chúng ta trong việc nghiên
cứu sự hình thành và phát triển của chủ nghĩa xã hội. III. Quan điểm về mối quan hệ biện chứng cơ sở hạ tầng và kiến trúcthượng
tầng:
Xã hội dưới bất kỳ hình thức nào đều là sản phẩm của quan hệ giữa người với
người. Quan hệ xã hội của con người rất đa dạng phong phú vận động vàbiến đổi
không ngừng. Công lao to lớn của Mác và Ăng Ghen là từ những quan hệ xã hội hết
sức phức tạp đã phân biệt những quan hệ vật chất của xã hội với những quan hệ tinh
thần tư tưởng của xã hội, nêu bật vật chất cơ sở hạ tầng giữ vai trò quyết định kiến
trúc thượng tầng.
Toàn bộ những quan hệ sản xuất xã hội, bao gồm những quan hệ sản xuất
thống trị, bị những quan hệ sãn xuất đã đặc ctrưng cho mỗi phương thức sản xuất
và tất cả những quan hệ sản xuất khác tồn tại hiện thực trong mỗi phương thữc sản
hệ sản xuất khác tồn tại hiện thực trong mỗi phương thức sản xuất hợp thành cơ cấu
kinh tế của xã hội. Khái niệm cơ cấu xã hội dùng để chỉ toàn bộ những quan hệ sản
xuất hợp thành cơ cấu kinh tế của một cơ cấu hình thái kinh tế nhất định. Quan hệ
sản xuất một mặt thống nhất với lực lượng sản xuất hợp thành phương thức sản xuất
mặt khác còn hợp thành cơ cấu kinh tế xã hội, tức là coi cơ sở hiện thực trên đó xây
dựng lên một kiến trúc thượng tầng pháp lý và chính trị và tương ứng với cơ sở thực
tại đó có hình thái ý thức xã hội nhất định, Các Mác viết: “ toàn bộ những quan hệ
sản xuất ấy hợp thành cơ cấu kinh tế của xã hội tứca là các cơ sở hiện thực trên đó sẽ
dựng lên một kiến trúc thượng tầng pháp lý và chính trị và những hình thái xã hôị
nhất định tương ứng với cơ sở hiện thực đó”.
Mỗi hình thái kinh tế xã hội có cơ sở hạ tầng và kiến trúc và thượng tầng của
nó. Do đó cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng mang tính lịch sự cụ thể, giữ chúng
có mối quan hệ biện chứng với nhau trong đó cơ sở hạ tầng giữ vai trò quyết định.
Vai trò quyết định của cơ sở hạ tầng đối với kiến trúc thượng tầng thể hiện trước hết
ở chỗ cơ sở hạ tầng đói với kiến trúc thượng tầng thể hiện trước hết ở chỗ cơ sở hạ
tầng nào sinh ra kiến trúc thượng tầng ấy, giai cấp nào chiếm địa vị thống trị về kinh
tế thì cũng chiếm địa vị thống trị về đời sống tinh thần, quan hệ sản xuất nào thì tạo
ra kiến trúc thượng tầng tương ứng, mâu thuẫn trong lĩnh vực kinh tế quyết định tính
chất mâu thuẫn trong lĩnh vực tư tưởng. Có thể thấy rằng C. Mác đã trình bày một cách hết sức sáng tỏ cấu trúc của hình
thái kinh tế xã hội và cơ chế vận động của nó. Tuy nhiên, vào 1888 Ăngghen lại tóm
tắt quan niệm về hình thái kinh tế xã hội của Mac trong đó ông nhấn mạnh cái cơ sở
để cách nghĩa lịch sử là phương thức sản xuất lẫn cơ cấu xã hôị. Ông viết: “ trong
mỗi thời đại lịch sử phương thức chủ yếu của sản xuất kinh tế và trao đổi, cùng với
cơ cấu xã hội, do phương thức đó quyết định, đã cấu thành cơ sở cho lịch sử chính trị
của thời đại và lịch sử của sự phát triển trí tuệ của thời đại, cái cơ sở mà chỉ có xuất
phát từ đó mới cắt nghĩa được từ đó.
B. Hình thái kinh tế xã hội
người ta mới có được một cơ sở sản xuất vững chắc để quan niệm sự phát triển của
nhuững hình thái kinh tế xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên. Và dĩ nhiên là
không có mối quan hệ như thế thì không thể có một xã hội khoa học được”. Chúng ta
đều biết quy luật của đời sống xã hội có đặc điểm là tác động thông qua con người.
Song không phải vì thế mà nó mang tính khách quan. Ngược lại, xã hội vận động
theo những quy luật không những chúng phụ thuộc mà còn quyết định cả ý chí, ý
thức và ý định của con người. Nhìn chung, cho đến nay lịch sử nhân loại đã trải qua
bốn hình thái kinh tế xã hội: cộng sản nguyên thuỷ, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư
sản chủ nghĩa đang quá độ sang xã hội chủ nghĩa. Giai đoạn đầu của hình thái kinh tế
xã hội – xã hội cộng sản chủ nghĩa, nhưng xét từng quôcá gia dân tộc thì do những
đặc điểm về lịch sử không phải quốc gia nào cũng phải trải qua tất cả các hình thức
kinh tế xã hội theo một sơ đồ chung. Các nước không qua hình thái kinh tế này hay
hình thái khác là sự thật lịch sử và là quá trình ấy là vì sự vận động của xã hội diễn ra
không đều giữa các quốc gia, giữa các vùng. Lịch sử thường xuất hiện những trung
tâm phát triển cao hơn về sản xuất vật chất, về kỹ thuật hoặc văn hoá, chính trị,
sự giao lưu, xâm nhập tác động qua lại các trung tâm đó làm xuất hiện khả năng một
số nước đi sau có thể rút ngắn tiến trình lịch sử mà không lặp lại tuần tự các quá trình
phát triển, các quốc gia trong từng thời kỳ lịch sử nhất định.
Như vậy, quá trình lịch sử – tự nhiên của phát triển xã hội chẳng những diễn
ra bằng con đường phát triển tuần tự mà còn bao hàm cả trường hợp bỏ qua một hình thái kinh tế – xã hội nhất định trong những hoàn cảnh của lịch sử nhất định. Sự phát
triển của hình thái kinh tế xã hội, sự chuyển biến từ hình thái kinh tế đó lên hình thái
kinh tế cao hơn được giải thích trước hết bằng sự tác động của quy luật bằng sự phù
hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất. Quy luật
đó là khuynh hướng tự tìm đường cho mình trong sự phát triển và thay thế các hình
thái kinh tế xã hội. Chính do tác động của các quy luật này mà hình thái kinh tế xã
hội là một quá trình lịch sử – tự nhiên.
II. ý nghĩa khoa học và cách mạng của học thuyết Mác về hình thái kinh tế xã
những tiêu chuẩn thực sự duy vật về phân tích lịch sử và cho phép đi sâu vào bản
chất của quá trình lịch sử, hiểu được logic khách quan của quá trình đó. Học thuyết
này giúp cho việc hiểu được sự vận động của xã hội theo các quy luật khách quan,
vạch ra sự thống nhất trong cái muôn màu, muôn vẻ của cá sự kiện lịch sử ở các nước
khác nhau trong các thời kỳ khác nhau. Chính vì thế mà “ nó đem lại cho khoa học-
xã hội sợi dây dẫn đường để phát hiện ra những mối liên hệ nhân quả, để giải thích
chứ không chỉ mô tả các sự kiện lịch sử. Nó là cơ sở khoa học để tiếp cận đúng đắn
khi giải quyết những vấn đề cơ bản của các ngành khoa học xã hội rất đa dạng:. Bất
kỳ một hiện tượng xã hội nào, từ hiện tượng kinh tế đến hiện tượng tinh thần đều chỉ
có thể được hiểu chúng khi gắn nó với một hình thái kinh tế xã hội nhất định.
Ngày nay thực tiễn lịch sử và và kiến thức về xã hội lịch sử của nhân loại đã
có nhiều bổ sung và phát triển mới so với khi học thuyết hình thái kinh tế - xã hội ra
đời. Tuy vậy, những cơ sở khoa học mà quan niệm duy vật về lịch sử đã đem đến cho
khoa học xã hội vẫn giữ nguyên giá trị. Bởi lẽ, nếu so với “ cách tiếp cận hình thái”
thì trên thực tế, chính “cách tiếp cận văn minh” đẽ phạm sai lầm căn bản là chỉ coi
trình độ phát triển khoa học công nghệ, lực lượng sản xuất là yếu tố quyết định duy
nhất, bỏ qua vai trò các quan hệ kinh tế giai cấp
Thực tiễn lịch sử trên toàn thế giới những năm gần đây đã chứng minh rằng
nếu người ta muốn giải quyết các vấn đề chính trị, xã hội văn hoá của mỗi xã hội
thì rõ ràng là người ta không chỉ thuần tuý dựa vào sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật.
Điểm mấu chốt là chế độ xã hội – tức là hình thái kinh tế xã hội. Chương ii: Lý luận hình thái kinh tế xã hội với sự nhận thức con đường đi lên
chủ nghĩa xã hội ở nước ta trong thời đại mới.
I- học thuyết về hình hái kinh tế xã hội – nền tảng lý luận của chủ nghĩa duy
và khẳng địnhcủa sinh hoạt xã hội. Con người cá nhân nằm trong thành phần hệ
thống xã hội như gia đình, tập thể, giai cấp, dân tộc và rộng hơn là hội loài
người.
- “ Đời sống xã hội có tính chất hực tiễn để tồn tại và phát trỉen xã hội không
ngừng hoạt động để sản xuất và tái sản xuất , bản thân con người,b, của cải vật
chất, c, các quan hệ xã hội d, năng lựctinh thần, trí tuệ. Không thể thiếu một số
yếu tố nào trong cấu trúc sản xuất xã hội, song cần nhấn mạnh rằng sản xuất của
cải vật chất là yếu tố nền tảng và chính nó tạo ra những điều kiện vật chất cho xã
hội tồn tại, là động lực của xã hội, chi phối các yếu tố khác trong cấu trúc xã hội,
là cư sở của lịch sử loài người. Sản xuát vật chất tạo ra những tư liệu sinh hoạt
đáp ứng nhu cầu sống của con người, tạo ra những tư liệu sản xuất mà những tư
liệu sản xuất này vạch ra những thời đại lịch sử của con người. C mac nhấn mạnh:
“ những thời đại kinh tế khác nhau không phải ở chỗ chúng sản xuất ra cái gì là ở
chỗ chúng được sản xuất ra bằng cách nào, với những tư lệu nào. Cũng chính
trong quá trình sản xuất vật chất ấy con người tự tạo ra và tự hoàn thiện chính bản
thân mình.
- Nền sản xuất xã hội là một thể thống nhất bao gồm nhièu mặt, nhiều mối liên hệ
trong đó nổi lên hai loại quan hệ cơ bản
+ Một là: Quan hệ kinh tế – kỹ thuật biểu hiện bằng cách thức, năng lực trình
độ con người đặt ra trong quá trình tác động vào giới tự nhiên để tạo ra những sản
phẩm ( lực lượng sản xuất)
+ Hai là: Quan hệ kinh tế – xã hội: Tức là cách thức giải quýet vấn đề lợi ích
kinh tế, là qua hệ giữa người với người trong qúa trình sản xuất, trao đổi và tiêu
dùng. Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất không phải là hai bộ phận mà là hai
loại quan hệ trong một thể thống nhất cấu thành phương thức sản xuất. Về mặt nhận
thức luận đó là hai góc độ tiếp cận để xem xét một thực thể . Tức là nếu phân tích phương thức sản xuất theo quan hệ giữa con người với con người với giới tự nhiên
thì đó là phân tích lưc lượng sản xuất,
khách quan, nhưng điều đó không có nghĩa là con người bó tay trước quy luật , khi
chưa nhận thức được quy luật thi con người hành động một cách tự phát, là nô lệ của
tính tất yếu . Khi đã nhận thức được quy luật về những điều kiện hoạt động của
chúng,tức là nhận thức được tính tất yếu , thì con người có thể điều khiển hoạt động
của mình phù hợp với yêu cầu của quy luật một cách tự giác và con người có tự do
trong hoạt động của mình.
Quan niệm duy vật về lịch sử không phủ nhận tác động của mục đích của con
người đối với tiến trình lịch sử mà còn đòi hỏi giải thích nó một cách khoa học, tức là
xem xét nhu cầu khách quan của sự xuất hiên các mục đích và những điều kiện hiện
thực để thực hiện mục đích đó.
Mặt khác, để đạt được mục đích cần phải có các điều kiện khách quan thích
hợp, hoạt động của con người là qúa trình chuyển tính chủ quan thành tính khách
quan. Quá trình lịch sử lại thống nhất giữa quy luật vận động của xã hội và hoạt động
chính sách ý thức của con người. Và cùng với tiến bộ của xã hội, vai trò của nhân tố
chủ quan ngày càng tăng , đó là xu hướng có tính quy luật.
2- Cấu trúc xã hội – phạm trù hình thái kinh tế – xã hội.
Thế giới vật chất là một thể thống nhất bao gồm nhiều cấp độ tổ chức khác
nhau. ở mỗi cấp độ tổ chức nhất định của vật chất ta có thẻ tmfthấy những yếu tố ổn
định mà những mối liện hệ và sự tác độn lẫn nhau giữa chúng tạo thành cấu trúc ,
mang lại cho nó tính chỉnh thể. Quy trình phát triển đến các cấp độ tổ chức cao làm
gia tăng tính phức tạp của hệ thống . Xã hội là hệ thống cực kỳ phức tạp , nẻn khi
phân tích xã hội đòi hỏiphải xem xét tính toán tác động của nhều tham số và hợp
phần đa dạng ,và được những bộ phận chủ yếu và mốii liện hệ giữa chúng. Điều này
rất quan trọng về mặt phương pháp luận , vf nó cho ta cái nhìn tổng quát về xã hội.
Các nhà triết học và xã hội học trước Mác khi nghiên cứu xã hội chỉ tiêp cận bộ phận
này hay bộ phận khác, nhấn mạnh một yếu tố nào đó và gán cho nó tính quy định, và
do đó, không thể đưa ra một mô hình lý luận phản ánh xã hội trong tính chỉnh thể,
trọn vẹn của nó.
Phạm trù hình thái kinh tế xã hội là mô hình lý luận về xã hội và như mọi mô
hình, nókhông bao quát tất cả tín đadạng của các hiện tượng trong đời sống xã hội. Vì
vậy hiện thực xã hội và sơ đồ lý thuyết về xã hội không đòng nhấtvới nhau. Trong
thưctế các sự kiện lịch sử mang tính không lặp lại, hết sức phong phú, các yếu tố tinh
thần và vật chất, kinh tế và chính trị thường xuyên tác động qua lại lẫn nhau .Phạm
trù hình thái kinh tế xã hội chỉ phản ánh cái bản chất, những mối liên hệ bên trong, tất
yếu lặp lại của các hiện tượng ấy, từ tính đa dạng cụ thể – lịch sử bỏ những chi tiết cá
biệt, dựng lại cấu trúc ổn định và lôgíc phát triển của quá trình lịch sử. “ Bất kỳ trong
giới tự nhiên hay trong xã hội , đều không có và không thể có hiện tượng thuần tuý -
đó chính là điều mà pháp biện chứng của mác đã dậy chúng ta, phép biện chứng đó
vạch cho chứng ta thấy rằng bản chất các khái niệm thuần tuý của con người, làm cho
người ta không thế nhận thức được đầy đủ đói tượng trong tất cả ính phức tạp của
nó”.
Phạm trù hình thái kinh tế xã hội đem lại những nguyên tắc phương pháp luận
xuất phát để nghiên cứu xã hội, loạ bỏ đi cái bề ngoài, cái ngẫu nhiên , không đi vào
các chi tiết, việt ra khỏi tri thức kinh nghiệm hoăc xã hội học mô tả, đi sâu vạc ra cái
bản chất ổn định từ phong phú của hiện tượng , vạc ra cái lôgíc bên trong của tính
nhiều vẻ của lịch sử.
Theo quan niện của chủ nghĩa duy vật,” đời sống xã hội, về thưc chất, là có tính
chất thực tiễn” và hìh thức chủ yếu trong cấu trúc của thực ttiễn là hoạt động sản xuất
vật chất của con người. Ăngghen đã viết: “ Theo quan điểm duy vật về lịch sử, nhân
tố quýet định trong lịch sử xét đến cùng là sự sản xuất và tái sản xuất ra đời sống hiện
thực. Cả Mác laanx tôi chưa bo giờ khẳng định gì hơn. Nếu như ai có xuyên tạc câu
nói đó khiến cho nó có nghiã thì chỉ có nhân tố kinh tế là nhân tố duy nhất quyết
định, thì nó đã biến câu đó thành một câu trống rỗng, trìu tượng, vô nghĩa” Các nhân
tố khác của xã hội đều có ảnh hưởng đến quá trình lịch sử. Tuỳ theo hoàn cảnh cụ thể
mà có thể xuất hiện nhan tố này hay nhân tố khác phát triển vượt trội , phá vỡ tính
cân bằng của hệ thống, thúc đẩy các yếu tó khác phát triển theo, tiết lập trạng thái cân
bằng mới , cao hơn Tiến trình lịch sử luôn làm xuất hiện những nhân tố mới đóng vai
phải là một lý tưởng mà hiện thực phải khuôn theo. Chúngta gọi chr nghĩa cộng sản
là một phong trào hiện thực, nó xoá bỏ trạng thái hiện nay. Những điều kiện của
phong trào ấy là kết quả của những tiền đề hiện đang tồn tại” dựa vào sự phân tích
trực tiếp nhữngmâu thuãn của xx hội tư sản trong giai đoạn đầu phát triển của nó, dựa vào triển vọng của phong trào công nhân, Mác và Ăngghen đã đưa ra dự đoán về sự
phát triển của xã hội loài ngưởitong tương lai, tâdst yếu phải tiến đến hình thái kinh
tế xã hội cổan chủ nghĩa, mà chủ nghĩa xã hội là giai đoạn thấp của hình thái ấy. Tất
nhiên dự đoán khoa học của các ông mới cỉ cho phép phác hoạ được những đường
nét chủ yếu về xã hội tương lai ấy. Lênin cũng chỉ rõ:” Chúng ta không hề coi lý luận
của mác nh à một cái gì dã xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm,tria lại chúng ta tn
rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng cho môn kha học mà những người xx hội chủ nghĩa
phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ không muốn trở thành lạc hậu vói cuộc
sống
Đáng tiếc là trong nhiều năm qua, đố với chúng ta, lý luạn về chủ nghĩa xã hội
không những không được bỏ sung, phát triển cho phù hợp với sự phát triển của thực
tiễn, mà lại được giải thích một cách có máy móc, giáo điều và được áp dụng một
cách dập khuôn làm cho chủ nghĩ xã hội hiện thực ở nhiều nước bị biến dạng, dẫn
đến khủng hoảng và tan rã . Hậu quả đó nhiều nguyên nhân, nhưng nghuyên nhân
chủ yếu là do chúng ta mắc phải nhứng sai lầm chủ quan duy ý chí, không tôn trọng
các quy luật khách quan. Thực tiến của đời sống đó đòi hỏi chúng ta phải nhận thức
lại đời sống kinh tế xã hội , tiến hành đổi mới một cách toàn diện, sâu sắc cả lý luận
và thực tiễn của chủ nghĩa xã hội.
Lịch sử đã chứng minh không phải nước nào cũ phải tuần tự trải qua các hình
thái kinh tế xã hội đãng có trong lịch sử . Viêc bỏ qua mộ hình tái kinh tế xã hội nào
dó do những yếu tố bên trong quyết định, song đồng thừi còn tuỳ thuộc ở sự tác động
của từng nhân tố bên ngoài. Cuộc cách mạng kha học và công nghệ đang tạo ra bước
ngoặc phát triển của loài người , đánh dấu đỉnh cáo mới của sự phát triển trí tuệ , mở
ra một nền văn minh mới tác động sâu sắc cuộc sống của các dân tộc, tạo ra cho các
xuất trong điều kiện cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đang diễn ra dồn
dập, mạnh mẽ đòi hỏi chúng ta phải chính sách quan niệm mới về công nghiệp
hóa không phải là ưu tiên xây dựng cơ sở vật chất với những nghành công nghiệp
truyền thống theo kiểu công nghiệp hoá cổ điển mà lựa chọn những nghành công
nghệ thích hợp, xây dựng kết cáu hạ tầng cơ cở vật chất kỹ thuật hệ thống thông
tin tạo tiềm năng nhan chóng ứng dụng công nghệ mới. Giải phóng và khai thác
nhanh moi khả năng của lực lượng sản xuất, phát triển nề kinh téhàng hoá nhiều thnàh phần phong phú và đa dạng tạo ra nguồn sản phẩm và nguồn tích luỹ đó là
nhiệm vụ hàng dầu hiện nay.
- Phù hợp với những phát triển của lực lượng sản xuất thiết lập từng bước quan hệ
sản xuất xã hội chủ nghĩa từ thấp đến cao vợ đa dạng về hình thức sở hữu.
- Tiến hành cuộc cách mạngxã hội chủ nghảtên lĩnh vực tư tương văn hoá phát huy
nhân tó con người, con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực để xây dựng mỗt
xã hội văn minh. Giải phóng cá nhân để giải phóng xã hội, kết hợp sức mạnh cá
nhân với sức mạnh cộng đồng là động lực quan trọng của chủ nghĩa xã hội.
- Những nghuyên tắch phương pháp luận nói trên là tổng hợp các quan điểm cơ bản
nhằem xây dựng chủ nghã xã hội ở nước ta. Trong đó cần chú trọng cả ba mặt :
lực lượng sản xuát , quan hệ sản xuất, và kiees trúc thượng tầng – những bộphận
cấu thành của hình fthái kinh tế – xã hội mới. Kết luận
Chuyển sang cách mạng xã hội chủ nghĩa đảng ta vẫn tiếp tục truyền thống tốt
đẹp đó của mình . Lúc sinh thời chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh phải xuất phát
từ đặc điểm của nước ta là xuất phát từ nền kinh tế yếu kém tiến lên chủ nghiã xã hội
thông qua tư bản chủ nghĩa - để xâydựng lí luận và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội
ở nước ta. Cố tổng bí thư Lê Duẩn đã chỉ rõ chúng ta phải nẵm chắc cái chủ yếu