LUẬN VĂN: Tại sao Hồ Chí Minh lại chủ trương thực hiện cơ cấu kinh tế hàng hóa nhiều thành phần trong thời kỡ quỏ độ lên Chủ Nghĩa Xó Hội ở Việt Nam potx - Pdf 12

z

LUẬN VĂN:

Tại sao Hồ Chí Minh lại chủ trương
thực hiện cơ cấu kinh tế hàng hóa nhiều
thành phần trong thời kỡ quỏ độ lên
Chủ Nghĩa Xó Hội ở Việt Nam
A: Lời nói đầu.


B: Nội dung.

1: Cơ sở hỡnh thành tư tưởng Hồ Chí Minh về cơ cấu kinh tế nhiều thành
phần.
1.1: Theo lý luận của chủ nghĩ Mac- lenin.
Hồ Chính Minh luôn coi chủ nghĩa Mỏc-Lờnin là “cẩm nang thần kỳ”, vỡ vậy học
thuyết kinh tế mỏc xớt, đặc biệt là chính sách kinh tế mới của Lênin luôn được
Người quan tâm, tiếp thu và vận dụng vào chiến lược phát triển kinh tế ở Việt
Nam.
Mụ hỡnh chớnh sỏch kinh kế mới của Lênin là sự đổi mới của Lênin cả về phương
diện lý luận và chỉ đạo thực tiễn. Điều đó có thể hiện ở nội dung, trong đó có nội
dung quan trọng về sở hữu và các thành phần kinh tế. Theo V.I.Lênin, đối với các
nước kinh tế kém phát triển đi lên chủ nghĩa xó hội mặc dù có nhứng đặc điểm
khác nhau thỡ khụng thể xoỏ bỏ ngay cỏc hỡnh thức sở hữu và cỏc thành phần
kinh tế, phải sử dụng ngay cả sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa để xây dựng chủ
nghĩa xó hội. Trong chớnh sỏch kinh tế mới của Lờnin chủ trương không nôn
núng xoỏ bỏ cỏc thành phần kinh tế, khụng trực tiếp chuyển sang nền kinh tế xó
hội chủ nghĩa ngay được mà phải có một thời kỳ quá độ tương ứng với nó là sự
tồn tại nhiều thành phần kinh tế.
Như vậy sự tồn tại của các thành phần kinh tế là một tất yếu khách quan tạo
nên một cơ cấu kinh tế thống nhất trong thời kỳ quá độ. Với quan điểm đúng đắn
đó đó soi sỏng cho Hồ Chớ Min cú được nhận thức về tính tất yếu sự tồn tại các
thành phần kinh tế trong thời kỳ quá đội đi lên chủ nghĩa xó hội ở Việt Nam. Năm
1925 trong soạn thảo nghị quyết cho Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên ở
Quảng Châu, Hồ Chí Minh đó nờu lờn đường lối kinh tế của Việt Nam độc lập
trong tương lai là “tân kinh tế chính sách” tức là theo chính sách kinh tế mới của
Lênin.
1.2: Cơ sở thực tiễn.
nhau. Mặc dự, sở hữu tập thể là hỡnh thức sở hữu cơ bản của nền kinh tế xó hội
chủ nghĩa. Hồ Chớ Minh khẳng định: Đường lối cải tạo xó hội chủ nghió của
Đảng đối với nông nghiệp là đưa nông dân làm ăn riêng lẻ đi dần từ tổ đổi công
(có mầm mống xó hội chủ nghĩa) tiến lờn hợp tỏc xó cấp thấp (nửa xó hội chủ
nghĩa) rồi tiến lờn hợp tỏc xó bậc cao (xó hội chủ nghĩa). Tuy nhiờn, Hồ Chớ
Minh cũn thừa nhận sự tồn tại khỏch quan, tất yếu của cỏc hỡnh thức sở hữu
khụng xó hội chủ nghĩa Người nhận định. Trong nước ta hiện nay có những hỡnh
thức sở hữu chớnh về tư liệu sản xuất như:
1. Sở hữu nhà nước tức là sở hữu toàn dân
2. Sở hữu của hợp tỏc xó tức là sở hữu tập thể của nhõn dõ lao động
3. Sở hữu của người lao động riêng lẻ
4. Một ít tư liệu sản xuất thuộc sở hữu của nhà tư bản
Từ việc tồn tại nhiều hỡnh thức sở hữu, Hồ Chớ Minh cho rằng việc tồn tại
nhiều thành phần kinh tế là yếu tố khỏch quan của nền kinh tế Việt Nam: Đối với
người làm nghề thủ công và lao động riêng lẻ khác, Nhà nước bảo hộ quyền sở
hữu về tư liệu sản xuất của họ, ra sức hướng dẫn và giúp đỡ họ cải tiến cách làm
ăn, khuyến khích họ tổ chức hợp tác xó sản xuất theo nguyờn tắc tự nguyện. Cũn
“đối với những nhà tư sản công thương, Nhà nước không xoá bỏ quyền sở hữu về
tư liệu sản xuất và của cải khác của họ, mà ra sức hướng dẫn họ hoạt động nhằm
làm lợi cho quốc kế dân sinh, phù hợp với kế hoạch kinh tế của Nhà nước. Đồng
thời Nhà nước khuyến khích và giúp đỡ họ cải tạo theo xó hội chủ nghĩa bằng
hỡnh thức cụng tư hợp doanh và nhưng hỡnh thức cải tạo khác”.
Sự tác động giữa các thành phần kinh tế trong một cơ cấu kinh tế quá độ
thống nhất chi phối xu hướng vận động của kinh tế cá thể và kinh tế tư bản chủ
nghĩa. Con đường tất yếu của kinh tế cá thể, tiểu thương, tiểu thủ là hỡnh thức cỏc
hợp tỏc xó sản xuất để hoà nhập vào hỡnh thức sở hữu xó hội chủ nghĩa, cũn đối
với các nhà tư bản, thông qua các hỡnh thức chủ nghĩa tư bản nhà nước, dần dần

Các công hội đổi công ở nông thôn, cũng là một loại hợp tác xó.
4. Kinh tế cá nhân của nông dân và của thủ công nghiệ, họ thường tự túc ít
có gỡ bỏn và cũng ớt khi mua gỡ. Đó là một thứ kinh tế lạc hậu.
5. Kinh tế tư nhân tư bản. Họ bóc lột công nhân, nhưng đồng thời họ cũng
góp phần vào xây dựng kinh tế.
6. Kinh tế tư bản quốc gia là Nhà nước hùn vốn với tư nhân để kinh doanh
và do Nhà nước lónh đạo. Trong loại này, tư bản của tư nhân là chủ nghĩa tư bản.
Tư bản của Nhà nước là chủ nghĩa xó hội.’’(Hồ Chí Minh toàn tập, Nhà
XBCTQG, 2000, T.7, Tr.221).
Với sáu thành phần kinh tế tồn tại trong vùng tự do của nước ta lúc bấy giờ,
Hồ Chí Minh đó phõn tớch rất rừ vai trũ của từng thành phần kinh tế này tồn tại
trong vùng tự do (khi đất nước chưa được giải phóng), khi chúng ta chuyển sang
thời kỳ xây dựng đất nước theo hướng xây dựng nền dân chủ mới thỡ thành phần
kinh tề này khụng tồn tại nữa, nú chỉ cũn là tàn dư. Tuy vậy, để thực hiện chính
sách đại đoàn kết dân tộc, Hồ Chí Minh không chủ trương xoá bỏ thành phần kinh
tế này một cách đơn giản mà vận động họ tự nguyện từ bỏ địa vị kinh tế cũ, tích
cực tham gia đóng góp cho kháng chiến. Rất tiếc, trong cải cách ruộng đất ở miền
Bắc năm 1955-1956 những tư tưởng này không được chuyển hoá thành những chủ
trương, đường lối của Đảng và Nhà nước, do đó dẫn đến sai lầm và hậu quả
nghiêm trọng.
Thành phần kinh tế quốc doanh theo Hồ Chớ Minh thỡ đây là thành phần
kinh tế cơ bản, quan trọng nhất vỡ nú “cú tớnh chất chủ nghĩa xó hội, vỡ tài sản
của cỏc xớ nghiệp ấy là của chung của nhõn dõn, của Nhà nước chứ không phải
của riêng. Trong xí nghiệp quốc doanh thỡ xưởng trưởng, công trỡnh sư và công
nhân đều có quyến tham gia quản lý, đều là chủ nhõn, việc sản xuất thỡ do sự lónh
đạo thống nhất của chính phủ nhân dân” (T.7, Tr221). Hồ Chí Minh cũn chỉ ra vị
trớ quan trọng của kinh tế quốc doanh “…cụng tư đều lợi. Kinh tế quốc doanh là

được số lợi hợp lý, khụng yờu cầu quỏ mức” (T.2, Tr.222).
“Kinh tế tư bản quốc gia là nhà nước là nhà nước hùn vốn với tư nhân để
kinh doanh và do nhà nước lónh đạo. Trong loại này, tư bản của tư nhân là chủ
nghĩa tư bản, tư bản của nhà nước là chủ nghĩa xó hội”. Đến năm 1959, trong báo
cáo về Dự thảo Hiến pháp sửa đổi tại kỳ họp thứ 11 Quốc hội khoá I, Hồ Chí
Minh viết “Đối với những nhà tư bản công thương, nhà nước không xoá bỏ quyền
sở hữu về tư liệu sản xuất và của cải khác của họ mà ra sức hướng dẫn họ hoạt
động nhằm lợi cho quốc kế dân sinh, phù hợp với kế hoạch kinh tế nhà nước.
Đồng thời, nhà nước khuyến khích và giúp đỡ họ cải tạo theo chủ nghĩa xó hội
bằng hỡnh thức cụng tư hợp doanh và những hỡnh thức cải tạo khỏc” (T.9,
Tr.589).
Trên cơ sở phân tích các thành phần kinh tế ở vùng tự do như trên, Hồ Chí
Minh cho rằng: Để đẩy mạnh sản xuất, tạo ra nhiều của cải cho xó hội, cần phải có
chính sách phù hợp đối với các thành phần kinh tế. Các chính sách của Hồ Chí
Minh về cơ cấu kinh tế nhiều thành phần đó có thể khái quát, xác định trên 4 mặt
chính:
1. Công tư đều có lợi, kinh tế quốc doanh là công. Phải ra sức ủng hộ nó
phát triển, trừng trị kẻ phá hoại, trộm cắp, trốn thuế… Tư là những nhà
tư bản dân tộc và kinh tế cá nhân của nông dân và thủ công nghệ, cần
phải phục tùng sự lónh đạo của kinh tế quốc gia, phải hợp với lợi ích
của đại đa số nhân dân.
2. Chủ thợ đều lợi. Chủ và thợ đều tự giác tự động, tăng gia sản xuất lợi cả
đôi bên.
3. Công nông giúp nhau. Công nhân ra sức sản xuất nông cụ và các thứ
cần dùng khác, để cung cấp cho nông dân. Nông dân thỡ ra sức tăng gia
sản xuất, để cung cấp lương thực và các thứ nguyên liệu cho công nhân.
Do đó mà càng thắt chặt liên minh giữa công nông.

như đánh giá xu thế phát triển chung của nền kinh tế. Đảng Cộng sản Việt Nam đó
từng bước trưởng thành về mặt tư duy, có những nhận thức mới về lý luận kinh tế.
Đặc biệt là việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế.
Bắt đầu bằng Đại hội VI (12/1986), Đảng xác định : thực chất của cơ chế
mới về quản lý kinh tế là cơ chế kế hoạch hoá theo phương thức hoạch toán kinh
doanh xó hội chủ nghĩa đúng nguyên tắc tập chung dân chủ. Đến Đại hội VII
(6/1991) việc xác nhận cơ cấu kinh tế nhiều thành phần được khẳng định rừ nột:
Mọi người được tự do kinh doanh theo pháp luật, được bảo hộ quyền sở hữu và
thu nhập hợp pháp. Các hỡnh thức có thể hỗn hợp đan kết với nhau hỡnh thành
cỏc tổ chức kinh doanh đa dạng. Các doanh nghiệp không phân biệt quan hệ sở
hữu đều tự chủ kinh doanh, hợp tác và cạnh tranh với nhau, bỡnh đẳng trước pháp
luật.
Đại hội VIII (6/1996) cho rằng: Phát triển kinh tế nhiều thành phần vận
hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xó hội
chủ nghĩa. Đại hội đồng thời xác nhận sự tồn tại của các thành phần kinh tế: kinh
tế nhà nước; kinh tế hợp tác mà nũng cốt là cỏc hợp tỏc xó; kinh tế tư bản nhà
nước; kinh tế cá thể, tiểu chủ; kinh tế tư bản tư nhân.
Đến Đại hội IX (4/2001) Đảng chủ trương: thực hiện nhất quán và lâu dài
chính sách phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế
thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xó hội chủ nghĩa. Đó là
mô hỡnh kinh tế tổng quỏt của nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xó hội.
Đảng cũng đồng thời xác định các thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ bao
gồm: Kinh tế Nhà nước; kinh tế tập thể; kinh tế cá thể, tiểu chủ; kinh tế tư bản tư
nhân; kinh tế tư bản Nhà nước; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Đây được coi là
một sự nhất quán trong việc quay trở lại vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về cơ
cấu kinh tế nhiều thành phần.
3.2: Các biện pháp giúp phát triển cơ cấu kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam.

loại hỡnh doanh nghiệp trong hợp tỏc xó và cỏc hỡnh thức liờn hợp tỏc xó.
Có cơ chế để hợp tác xó phỏt huy quyền sử dụng tư liệu sản xuất chung tại
cơ sở; tách bạch giữa quyền này với quyền sở hữu của các xó viờn. Khuyến khớch
huy động cổ phần và nguồn vốn góp của xó viờn để không ngừng tăng thêm vốn
đầu tư phát triển hợp tỏc xó. Khuyến khớch tăng tài sản và quỹ không chia của
hợp tác xó. Giải thể hoặc chuyển cỏc hợp tỏc xó chỉ cũn là hinh thức sang cỏc loại
hỡnh tổ chức sản xuất trờn cơ sở kinh doanh theo quy định của pháp luật.
Đối với thành phần kinh tế tư nhân. Có thể nói, đây là thành phần kinh tế
mang tính chất nhạy bén nhất của cơ cấu kinh tế. Nó cũng là thành phần kinh tế
chứa đựng nhiều vấn đề phức tạp và mặc dù đó được đề cập đến từ rất sớm song
không phải là đó cú cỏi nhỡn đúng đắn và đầy đủ về thành phần kinh tế này.
Về kinh tế tư bản tư nhân, Hồ Chí Minh chỉ rừ “Họ búc lột cụng nhõn
nhưng đồng thời họ cũng góp phần vào xây dựng kinh tế. Đó cũng là lực lượng
cần thiết cho xây dựng nước nhà. Vỡ vậy chớnh phủ phải bảo vệ quyền lợi của
cụng nhõn. Đồng thời vỡ vậy lợi ích lâu dài, anh chị em thợ cũng để cho chủ được
số lợi hợp lý, khụng yờu cầu quỏ mức”

C : Kết luận.

Xuất phỏt từ trỡnh độ phát triển kinh tế – xó hội của nước ta và xu thế phát triển
của thời đại. Đảng và nhân dân cả nước từng bước đưa đất nước quá độ xây dựng


Đề cương chi tiết.
A:lời mở đầu……………………………………………… 2
B: Nội dung………………………………………………………………….3
1: Cơ sở hỡnh thành tư tưởng Hồ Chí Minh về cơ cấu kinh tế nhiều thành
phần………………………………………………………………………….3
1.1: Cơ sở lý luận……………………………………………………………3
1.2: Cơ sở thực tiễn………………………………………………………….4
2: Quan điểm của Hổ Chí Minh về cơ cấu kinh tế nhiều thành phần……… 5
2.1: Tính tất yếu xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần………………… 5
2.2: Quan điểm của Hồ Chí Minh về cơ cấu kinh tế nhiều thành phần…… 6
3: Thực tế việc xây dựng cơ cấu kinh tế nhiều thành phần của Đảng ta trong giai
đoạn hiện nay………………………………………………………….11
3.1: Quỏ trỡnh nhận thức xõy dựng và phỏt triển cơ cấu kinh tế nhiều thành phần ở
Việt Nam của Đảng Cộng Sản Việt Nam………………………… 11
3.2: Các biện pháp giúp phát triển cơ cấu kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam
trong giai đoạn hiện nay…………………………………………… 13
C: Kết luận…………………………………………………………………15


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status