LUẬN VĂN: Phương hướng, chương trình phát triển, những dự kiến về đổi mới hoạt đội của công ty Da giầy Hà Nội trong tương lai - Pdf 12



LUẬN VĂN:

Phương hướng, chương trình phát triển,
những dự kiến về đổi mới hoạt đội của
công ty Da giầy Hà Nội trong tương lai

Lời nói đầu Công ty Da Giầy Hà Nội là doanh nghiệp nhà nước được thành lập theo quyết định số 389 C
nn/ TCCLD ngày 29 tháng 4 năm 1993 của Bộ Trưởng Bộ công nghiệp.
Tiền thân của công ty Da giầy Hà Nội là nhà máy Da Thuỵ Khuê được thành lập ngày 12 tháng 6
năm 1955 do các cổ đông góp vốn. Qua quá trình phát triển được công tư hợp doanh và quốc hữu
hoá thành doanh nghiệp nhà nước.
Trong quá trình xây dựng và trưởng thành công ty đã từng bước khẳng định được vị thế của
mình trên đấu trường trong nước cũng như trên thế giới. Công ty đã tạo công ăn việc làm và đào
tạo tay nghề cho gần 1000 CB; CNV, cũng như đóng góp nghĩa vụ cho nhà nước, góp phần đẩy
nhanh công cuộc “ Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Đó là những kết luận khái quát mà em có thể nhận thấy sau một thời gian thực tập tổng hợp tại
công ty Da giầy Hà Nội. Trong báo cáo thực tập tổng hợp em xin đưa ra một số thong tin về công

-Giai đoạn từ 1954 ->1960, Công ty thuộc da Đông dương nhượng lại cho tư sản Việt Nam.
Sau đó Nhà nước quốc hữu hoá một phần chuyển thành xí nghiệp công ty hợp doanh lấy tên là “
Công ty thuộc da VN “.
-Giai đoạn từ 1960 -> 1987, Công ty thuộc da Việt Nam từ một công ty hợp doanh mang tên
mới “ Nhà máy da Thụy Khuê “ trực thuộc công ty tạp phẩm của Bộ công nghiệp nhẹ. Trong giai
đoạn này Công ty đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ cung cấp da công nghiệp phục vụ các ngành
công nghiệp trong nước. Đây là giai đoạn phát triển nhất của công ty. Số lượng công nhân lúc này
lên tới 600 người, sản lượng tăng vọt từ 5,3 tỷ năm 1986 lên tới 6,7 tỷ năm 1987, tỷ lệ tăng trung
bình 25%. Công ty luôn hoàn thành kế hoạch từ 5%- 31% /năm.
- Giai đoạn từ 1989 -> 1990, khi nhận thấy ngành da giầy có những nét đặc trưng riêng và có
triển vọng, Nhà nước đã cho phép nhà máy da Thụy Khuê được tách khỏi công ty tạp phẩm và
thành lập liên hiệp da giầy với nhiệm vụ tập trung vào công nghiệp da giầy, cung cấp đầy đủ
NVL cho các công ty giầy, sản xuất thêm các mặt hàng tiêu dùng bán ra thị trường.
- Giai đoạn từ 1990-> 1992, cùng với sự thay đổi của cơ chế quản lý Nhà nước mô hình liên
hiệp không còn thích hợp nữa, Nhà nước cho phép tất cả các doanh nghiệp thuộc liên hiệp tách ra hoạt động độc lập. Nhà máy da Thụy Khuê tách ra khỏi Liên hiệp da giầy trực thuộc Bộ công
nghiệp nhẹ và xuất nhập khẩu trực tiếp.
- Đến tháng 12 /1992 Nhà máy da Thuỵ Khuê được đổi tên thành Công ty da giầy Hà nội
theo QĐ số 1310 /CNN- TC ngày 17/12/1992 của Bộ trưởng Bộ công nghiệp nhẹ kèm theo điều
lệ của Công ty.
- Giai đoạn 1993 -> nay: theo quyết định số 338 /CNN – TC ngày 29/4 1993 Bộ trưởng Bộ
công nghiệp nhẹ ra quyết định thành lập lại Công ty lấy tên:
Tên doanh nghiệp: “ Công ty da giầy Hà Nội “.
Tên giao dịch quốc tế: HALEXIM (viết tắt của Ha Noi Leather products and foot wear
production and export import company.)
Từ tháng 6/96 Công ty trở thành thành viên của Tổng Công ty da giầy Việt Nam. Để đáp
ứng nhu cầu sản xuất cũng như tăng sản lượng năm 1994 công ty đã đưa vào một dây chuyền
thuộc da hoàn chỉnh và một số thiết bị nhập từ Italia vào lắp đặt. Lúc này sản lượng của công ty

đốc công nhân trong quá trình sản xuất.
Cơ cấu tổ chức của công ty gồm: 7 phòng ban, 3 xí nghiệp,3 xưởng,1trung tâm mẫu và liên
doanh Hà Việt - Tungshing. Mỗi phòng ban có những chức năng nhiệm vụ sau: - Ban giám đốc:
Gồm có 04 đồng chí:
+01 Đồng chí Giám đốc.
+ 01 đồng chí phó giám đốc kỹ thuật giầy.
+ 01 Đồng chí phó Giám đốc kinh doanh.
+ 01 Đồng chí phó Giám đốc thuộc da.
Giám đốc điều hành chung cả công ty đặc biệt là về mặt kinh tế. Một phó giám đốc thường
trực quản lý về mặt đời sống, đầu tư XDCB. Một phó giám đốc phụ trách kỹ thuật.
- Phòng tài chính - kế toán. Phòng tài chính kế toánđặt dưới sự quản lý trực tiếp của Giám đốc công ty, là cơ quan tham mưu
quan trọng nhất giúp Giám đốc nắm rõ thực lực tài chính của công ty trong quá khứ, ở hiện tại và
cung cấp kịp thời, đầy đủ cơ sở dữ liệu để Giám đốc ra quyết định tài chính.
Chức năng của bộ phận tài chính tập trung vào việc phân tích, dự đoán lên các kế hoạhhuy động
và sử dụng các nguồn vốn cũng như theo dõi, kiểm soát khả năng thanh toán của công ty.
Chức năng của bộ phận kế toán là cập nhật trung thực, chính xác, kịp thời đúng pháp luật tất
cả các quan hệ kinh tế phát sinh của công ty thông qua các nghiệp vụ kế toán.
- Phòng kinh doanh.
Phòng kinh doanh chịu sự quản lý trực tiếp của Giám đốc công ty, thực hiện hai chức năng sau :
+ Chức năng phục vụ cho sản xuất kinh doanh trực tiếp của công ty. Phòng thực hiện việc
xây dưng kế hoạch, tổ chức chỉ đạo thực hiện việc tìm kiếm và đảm bảo các yếu tố đầu vào theo
phân cấp của công ty kịp thời và hiệu quả cho các nhu cầu nội bộ của công ty.
+ Chức năng kinh doanh :
Phong kinh doanh thực hiện hoạt động kinh doanh theo nguyên tắc lấy thu bù chi, tập trung kinh

- Văn phòng công ty.
Trong công tác quản lý, công ty phải sử lý nhiều mối qua hệ nội bộ và qua hệ bên ngoài. Trong
những năm tới, với sự phát triển của công ty và việc phân cấp mạnh mẽ cho các xí nghiệp thành
viên, các qua hệ này ngày càng mở rộng. Việc xác định rõ chức năng, nhiệm vụ và các mối quan
hệ công tác của văn phòng công ty là yêu cầu cấp thiết.
Văn phòng là cơ qua tham mưu chịu sự chỉ đạo trực tiếp của phó Giám đốc kinh tế công ty. Văn
phòng có chức năng giúp việc Ban Giám đốc công ty trong lĩnh vực hành chính – tổng hợp và
đối ngoại, điều hoà các mối qua hệ giữa các bộ phận trong công ty, xây dựng công ty thành khối
thống nhất hướng tới mục tiêu tăng cường khả năng cạnh tranh,củng cố và phát huy vị thế của
công tỷ trên thị trường.
- Trung tâm kỹ thuật – mẫu.
Nghiên cứu cơ bản : là các nghiên cứu mang tính phát hiện, sáng tạo mới các nguyên lý,các
nguyên vật liệu, các kiểu dáng mới để tiếp tục cho các nghiên cứu ứng dụng triển khai. Hiện tại
công ty chưa đủ nguồn lực tài chính cũng như con người nên chức năng này chưc chiếm dữ vị trí
quyết định, về lâu dài, đây sẽ là nhân tố quyết định thành công.
Nghiên cứu ứng dụng, sao chép: Tức là tư các sản phẩm, các kết quả nghiên cứu cơ bản đã có,
Trung tâm kỹ thuật – Mẫu triên khai cải tiến, thay đổi nhỏ để áp dụng vào sản xuất sản phẩm phù
hợp với thị trường và năng lực của công ty. Phối hợp với các xí nghiệp : Tổ chức triển khai quá trinh chế thử mẫu,chuyển giao công nghệ
cho các xí nghiệp để sản xuất hàng loạt,tham gia kiểm soát,điều chỉnh quy trình công nghệ kỹ
thuật chế biến của các xí nghiệp đê sản xuất hàng loạt, tham gia kiểm soát điều chỉnh công nghệ
kỹ thuật chế biến của các xí nghiệp để sản xuất sản phẩm ra đúng với các chuẩn mực chế thử.
Sơ đồ bộ máy công ty da giầy Hà Nội
HANSHOES.


Đốc kinh tếPhòn
g
ISO
phòn
g
kinh
Doan
h

Phòn
g
XNK
Phòn
g
Tài
Chín
h
tổ
chức
Phòn
g
Văn
Phòn
g
Xí Nghiệp
Giầy Vải


Về chất lượng: Do Công ty có dây chuyền sản xuất giầy tiên tiến, tương đối hiện đại, đạt
tiêu chuẩn quốc tế nên sản phẩm sản xuất ra đạt chất lượng khá cao. Ngoài ra, nhiều loại nguyên
vật liệu nhập về từ nước ngoài để phục vụ cho sản xuất sản phẩm cũng góp phần nâng cao chất
lượng sản phẩm. Công ty đã sản xuất được rất nhiều loại giầy vải khác nhau. Mỗi loại giầy chia
thành nhiều loại giầy khác nhau. Giầy của Công ty có mẫu mã, hình thức khá đẹp và rất đa dạng.
Chính vì vậy, nhiều loại giầy đã chiếm lĩnh được thị trường trong và ngoài nước. Sản phẩm của
Công ty được bạn hàng tín nhiệm nên số lượng đơn đặt hàng ngày càng nhiều.
Với đặc điểm sản phẩm của Công ty như vậy nên để thực hiện tốt công tác tiêu thụ sản
phẩm thì nhất thiết cần phải tổ chức công tác tiêu thụ sản phẩm một cách khoa học, hợp lý, phải
có các biện pháp thích hợp, kịp thời đẩy mạnh công tác tiêu thụ sản phẩm nhằm đảm bảo thu hồi
vốn nhanh và thu được nhiều lợi nhuận. 3. Đặc điểm tiêu thụ sản phẩm của Công ty:
Việc tiêu thụ sản phẩm của Công ty Da giầy Hà nội có đặc điểm rất riêng biệt, khác với
nhiều Công ty trong nước. Sản phẩm sản xuất ra chủ yếu để xuất khẩu sang các nước khác theo
các đơn đặt hàng của khách hàng. Và trong một vài năm gần đây, sản phẩm của Công ty cũng đã
được tiêu thụ rộng rãi ở thị trường trong nước.
- Đối với xuất khẩu: Việc xuất khẩu sản phẩm ra nước ngoài do phòng kinh doanh xuất
nhập khẩu phụ trách. Công ty sẽ xuất giao hàng dựa trên các hợp đồng ký kết với nước ngoài.
Công ty có quan hệ hợp đồng với một số Công ty khác ở các nước như: Đài loan, hồng kông,
trung quốc. Những Công ty này đóng vai trò trung gian và Da giầy Hà nội nhận được các đơn đặt
hàng của nước ngoài chủ yếu thông qua các Công ty này. Theo như hợp đồng, Công ty sẽ xuất
hàng cho bên trung gian và bên trung gian sẽ thanh toán tiền hàng cho Công ty sau khi đã nhận
được hàng. Nguyên vật liệu để sản xuất sản phẩm do Công ty mua trong nước nhưng cũng có
trường hợp không mua được trong nước vì không có nên Công ty phải nhập nguyên liệu từ phía
các Công ty trung gian. Có khi nguyên vật liệu dùng cho sản xuất phải nhập 70% từ phía nước
ngoài. Như vậy khi thanh toán tiền hàng, khách hàng sẽ bù trừ tiền nguyên vật liệu vào tiền hàng
của Công ty theo định mức đã tính. Trong trường hợp Công ty không phải xuất hàng sang các
Công ty trung gian mà xuất thẳng sang nước có đơn đặt hàng thì sau khi đã nhận được tiền hàng

4. Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của phòng Kế Hoạch
4.1 Chức năng
Phòng kế hoạch chịu sự quản lý trực tiếp của phó giám đốc kinh tế công ty thực hiện 3 chức
năng cơ bản sau :
- Chức năng lập kế hoạch sản xuất kinh doanh tháng, quý, năm của công ty phổ biến và phối
hợp thực hiện với các bộ phận, các khâu liên quan trong Công ty.
- Chức năng quản lý tồn kho nguyên vật liệu và thành phẩm, tư khâu dự trữ tồn kho phù hợp đến
sản xuất và quá trình bán hàng.
- Tổ chức thực hiện kinh doanh bán hàng, phục vụ thị trường nội địa cho công ty và các hành
hoá nhận làm đại lý tiêu thụ khác. Với chức năng này phòng kế hoạch có quyền hạn và phương
tiện để thực hiện theo quy định. 4.2 Nhiệm vụ.
4.2.1 Lập kế hoạch sản xuất và tiêu thụ từng danh mục, chủng loại mặt hàng theo từng tháng,
quý, năm của công ty. Theo dõi tình hình thực hiện và điều chỉnh kế hoạch phù hợp với nhu cầu
thị trường và nguồn lực của công ty.
4.2.2 Là đầu mối trong việc xây dựng các kế hoạch chiến lược dài hạn của công ty, tư việc xác
định hệ thống mục tiêu, hình thành cácd dự báo để đưa ra các định hướng chiến lược, các chiến
lược bộ phận.
4.2.3 Tổ chức, phát triển mới và quản lý hệ thống đại lý tiêu thụ hàng hoá của công ty cũng như
khai thác hàng hoá để thực hiện kinh doanh tiêu thụ cho các khách hàng. Soạn thảo hợp đồng đại
lý, quy chế đại lý bán hàng nội địa.
4.2.4 Khai thác, tổ chức thực hiện các hợp đồng mua vật tư, quản lý kho vật tư ở cấp công ty,
thực hiện cấp phát cho các bộ phận, đơn vị trong toàn công ty theo đúng quy định. Thực hiện các
hoạt động kiểm kê cần thiết để thông tin đầy đủ về tình trạng tồn kho vật tư.
4.2.5 Theo dõi tình hình tiêu thụ hàng hoá của công ty theo các kênh đặc biệt theo dõi sát sao
tình hình bán hàng tại các đại lý, cựa hàng tiêu thụ theo hai nhóm : hàng của công ty và hàng khai
thác khác.
4.2.6 Lên kế hoạch và tổ chức thực hiện chức năng hoạt động hỗ trợ tiêu thụ, các hoạt động

+ 01 cán bộ theo dõi xây dựng cơ bản.
+ 01 phó phòng kế hoạch phụ trách hoạt động Marketing, tiêu thụ hàng hoá, sản phẩm nội địa.
+ 03 cán bộ phụ trách theo dõi, phát triển quản lý về tình hình tiêu thụ hàng hoá của công ty và
hàng hoá khai thác.
+ 01 kế toán sổ sách, 02thủ kho,02 nhân viên bán hàng.
4.4. Một số liên hệ công tác.
4.4.1. Quan hệ với các phòng chức năng:
có quyền yêu cầu các phòng chức năng khác nộp các báo cáo tháng để tập hợp thành bản kế
hoạch tổng hợp trình Giàm đốc.
có trách nhiệm gửi các báo cáo tổng hợp trở lại các phòng chức năng để cùng phối hợp tổ chức
thực hiện.
Phòng ké hoạch gửi kế hoạch tháng, quý của công ty và kế hoạch hoạt dộng của phòng đến các
phòng chức năng.
T. Phòng k
ế hoạch

PP Tiêu
thụ nội
đ
ịa

PP phụ
trách kế
ho

ch
Phòng kế hoạch là đầu mối để xây dựng và thực hiện kế hoạch hàng năm của công ty, các phòng

- Công ty da giầy Hà Nội được chính phủ, Bộ công nghiệp, Tổng công ty da giầy Việt Nam
quan tâm giải quyết một số khó khăn về tồn đọng tài chính của công ty do thời kỳ bao cấp để lại.
- Công ty Da giầy Hà Nội đă nhận được sự ủng hộ cao của cấp trên, đặc biệt là tổng công ty da
giầy Việt Nam trong việc đầu tư phát triển thêm dây chuyền sản xuất giầy vải ,giầy da, đế giầy …
Đồng thời công ty cũng đă nhận được sự giúp đỡ hỗ trợ của các công ty ban trong và ngoài
ngành. Đặc biệt là công ty giầy Hiệp Hưng đã tạo mọi điều kiện để giúp đỡ công ty.
- Công ty đă đầu tư hoàn thiện hai dây chuyền giầy vải và một dây chuyền giầy da xuất khẩu.
Hiện đã và đang phát huy tác dụng tốt.
- Công ty đã xây dựng một trung tâm mẫu đủ mạnh vàbước đầu đã làm chủ đượctoàn bộ quá
trình sản xuất từ khâu thiết kế, ra quy trình công nghệ, định mức vật tư, hưỡng dẫn triển khai sản
xuất.
- Tuy mới bước vào lĩnh vực sản xuất giầy dép. Nhưng công ty đă tạo dựng được mối quan hệ
với nhiều bạn hàng, tạo được thị trường tương đối ổn định, vững chắc cho cả giầy vải và giầy da
nam nữ … Giầy của công ty đã xuất khẩu đi nhiều nước trên thế giới như : Đức, Pháp, ý, Anh,
Đài Loan, Hàn Quốc…
- Công ty đă tạo việc làm cho gần 1000 cán bộ, công nhân viên và bước đầu đã cải thiện đời
sống và điều kiện làm việc cho người lao động.
-Năm 1999 tình hình tài chính của công ty đã được cải thiện lành mạnh hơn, tình hình sản xuất
kinh doanh đã có những chuyển biến tích cực và có bước tăng trưởng đáng kể so với năm 1998.
Công ty đã được chuyển vốn vay ấn độ, Vai SIĐA 3.035 tỷ đồng thành vốn ngân sách nhà nước
cấp, xoá lãi phải trả nhà nước 1.659 tỷ đồng. Công ty đã nộp ngân sách Nhà nước được 302 triệu
đồng đạt 86% so với kế hoạch năm chủ yếu nộp thuế thu nhập doanh nghiệp, số thuế thu sử dụng
vốn. Nhiều lĩnh vực mới đã được triển khai và có su hướng phát triển tốt. Bên cạnh việc sản xuất
và xuất khẩu chúng ta đã phát triển kinh doanh (năm 1999 chiếm 20% doanh số).Bên cạnh việc sản xuất và xuất khẩu Công ty đã triển khai mở rộng chiếm lĩnh thi trường nội địa. Riêng trong
năm 1999 chúng ta đã có 25 đại lý bán và giới thiệu sản phẩm từ nam ra bắc.
- Công tác hạch toán kinh tế, công tác quản lý nội bộ công ty năm 1999 cũng có những bước
tiến quan trọng, với việc thành lập các xí nghiệp thành viên như : Xí nghiệp giầy vải, Xí nghiệp

ty có sự nỗ lực cố gắng cao để giữ vững và không ngừng mở rộng thị trường tiêu thụ.
Ngoài những khó khăn nêu trên Công ty còn gặp một số trở ngại từ đội ngũ công nhân sản
xuất tay nghề không đồng bộ, chưa theo kịp với sự chuyển đổi thay thế của dây chuyền công
nghệ mới gây ra nhiều ảnh hưởng đến công tác tiêu thụ sản phẩm.
Hơn nữa, quá trình sản xuấu của công ty chủ yếu dựa trên những đơn đặt hàng của các ban
hàng với mẫu mã, chủng loại, chất lượng, được quy định trước dẫn tới khó khăn cho công ty bởi
chi phí sản xuất cao và chủ động mở rộng sản xuất kinh doanh. II. Tình hình thực hiện Kế Hoạch 2000 và dự kiến Kế Hoạch 2001 của công ty Da giầy Hà Nội
1. Đánh gia tình hình thực hiện Kế Hoạch 2000.
Bước vào năm 2000, Công ty Da giầy Hà Nội đã khắc phục được một số khó khăn tồn tại từ
những năm trước để lại, đã quyết tâm phấn đấu thực hiện tốt nhiệm vụ kế hoạch sản xuất kinh
doanh năm 2000 do Tổng công ty Da Giầy Việt Nam giao cho.
Hiên nay công ty Da Giầy Hà Nội đã củng cố và hoàn thiện xong một dây chuyền giầy da và hai
giây chuyền giầy vải, cố gắng phát huy tối đa công suất, nâng cao chất lượng sản phẩm và hiệu
quả sản xuất. Ngoài ra công ty còn tiếp tục đầu tư trang bị cho sản xuất một số máy móc thiết bị như : máy may, máy chặt, dàn ép đế… nhằm mở rộng và phát triển hơn nữa hoạt động sản xuất
kinh doanh của công ty.

130

157
200
4 Giá trị xuất khẩu 1000 USD 1.155 1175 102
5 Giá trị nhập khẩu 1000 USD 700 1150 164
6 Nộp NSNN Triêu đồng 250 850 340

Giá trị sản xuất công nghiệp ước tính thực hiện cả năm 2000 tăng 33% so với kế hoạch4.290 tỷ
đồng.
Tổng doanh thu ước tính thực hiện tăng 38% so với kế hoạch, tưong ứng tăng 7 tỷ đồng.
Về mặt hàng chủ yếu:
+ Đối với sản phẩm giầy vải dự kiến thực hiện tăng 57% so với kế hoạch, tương ứng tăng
285.000 đôi + Đối với sản phẩm giầy da dự kiến thực hiện tăng 100% so với kế hoạch, tương ứng tăng
65.000 đội.
- Tổng giá trị xuất khẩu ước tính tăng 64% so với kế hoạc, tương ứng tăng 45.000 USD.
- Về khoản nộp ngân sách nhà nước cũng rất khả quan, ước tính thực hiện tăng so với kế hoạch
240% tương ứng 600 triệu đồng.
2.Những căn cư ban đầu để xây dựng kế hoạch 2001.
2.1 Đánh giá thị trường :
Trong những năm tới chắc chắn ngày càng khó khăn hơn đối với ngành Da giầy nói chung và
công ty Da giầy Hà Nội nói riêng. Nguyên nhân là do :
+ Sự cạnh tranh quyết liệt của hàng hoá Trung Quốc,đây vốn là một thi trưòng giàu tiềm năng,
một nguồn cung cấp hàng hoá vốn có gia trị gia tăng thấp. đặc biệt là sau khi hiệp định thương
mại Trung – Mỹ đã ký kết thì phần lớn các đơn hàng nhỏ lẻ số lượng ít tăng lên, còn các đơn
hàng số lượng nhiều sẽ giảm đi.
+ Giá thành của các sản phẩm xuất khẩu năm tới có xu hướng giảm xuống so với năm trước.

tại Thành Phố Hồ Chí Minh để mở rộng thị trưòng nội địa tại các tỉnh phía nam
_ Củng cố sự phát triển thị trường xuất khẩu và thị trường nội địa tại cho mặt hàng chủ lực Giầy
da và Giầy vải. Công ty đã và đang mở rộng phát triển hoạt động kinh doanh tổng hợp nhằm nâng
cao doanh số, tăng hơn nữa tổng kim nghạch xuất khẩu.
_ Dự kiến trong năm 2001, công ty tiếp tục đầu tư vốn khoảng 10 tỷ đồng cho sản xuất để mua
các loại máy móc thiết bị phục vụ sản xuất giấy nhằm hiện đại hoá hơn nữa hệ thông máy
móc,nâng cao năng xuất lao động đem lại hiệu quả cao cho công ty.

Qua nghiên cứu tổng hợp ở Công ty da giầy Hà Nội và cùng với sự hướng dẫn của thầy
cô giáo và các quý Công ty. Em chọn đề tài “Các giải pháp đẩy mạnh sản xuất kinh doanh ở
Công ty da giầy Hà Nội giai đoạn 2001-2005” để nghiên cứu thực tập tốt nghiệp.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status