LUẬN VĂN:
Hoạt động Kiểm toán báo cáo tài
chính tại một số Công ty Kiểm toán
độc lập Việt nam
Lời mở đầu
Cùng với Nghị định 70/CP (11/07/1994) đã đánh dấu sự xuất hiện của kiểm
toán ở Việt Nam trong thời kỳ nền kinh tế chuyển đổi. Sự xuất hiện của kiểm toán là
một đòi hỏi tất yếu của công cuộc phát triển kinh tế phù hợp với xu hướng chung của
1. Kiểm toán độc lập là gì ?
Kiểm toán độc lập là một hoạt động kiểm toán được tiến hành bởi các kiểm
toán độc lập thuộc các Công ty, các văn phòng kiểm toán chuyên nghiệp. Kiểm toán
độc lập là hoạt động tư vấn được pháp luật thừa nhận và bảo hộ, được quản lý chặt
chẽ bởi các hiệp hội chuyên ngành kiểm toán. Theo định nghĩa của Liên Đoàn Kế
toán Quốc tế <IFAC> thì kiểm toán độc lập là quá trình kiểm tra các số liệu tài liệu
của doanh nghiệp do các kiểm toán viên độc lập thực hiện xác nhận tính trung thực,
hợp lý của các báo cáo tài chính và cung cấp kết quả kiểm toán cho những người trả
phí kiểm toán. Để đảm bảo tính độc lập khách quan, kiểm toán độc lập thường được
tổ chức thành các Công ty cổ phần, chi nhánh hoặc văn phòng kiểm toán và các kiểm
toán viên độc lập. Các kiểm toán độc lập là đội ngũ hành nghề chuyên nghiệp có kỹ
năng nghề nghịêp và đạo đức, phải trải qua các cuộc thi tuyển quốc gia và phải đạt
được tiêu chuẩn nhất định về bằng cấp và kinh nghiệm.
ở Việt nam, quy chế về kiểm toán độc lập trong nền kinh tế quốc dân (Ban
hành theo nghị định số 07 - CP - 29/1/1994 của chính phủ) đã ghi rõ: "Kiểm toán độc
lập là việc kiểm tra và xác nhận của kiểm toán viên chuyên nghiệp thuộc các tổ chức
kiểm toán độc lập về tình đúng đắn hợp lý của các tài liệu, số liệu kế toán và báo cáo
quyết toán của các doanh nghiệp, các cơ quan, các tổ chức đoàn thể, các tổ chức xã
hội (gọi tắt là các đơn vị kiểm toán) khi có yêu cầu của các đơn vị này".
2. Sự ra đời và phát triển của kiểm toán độc lập ở Việt nam
Kiểm toán độc lập ra đời xuất phát từ nhu cầu khách quan kiểm tra và xác
nhận độ tin cậy của báo cáo tài chính theo các chuẩn mực và nguyên tắc đã được xây
dựng. Kiểm toán độc lập ra đời và phát triển cùng với nền kiểm toán thị trường, tiền
thân của nó là dịch vụ kiểm toán độc lập có từ hơn trăm năm nay, phát triển mạnh mẽ
thâm nhập vào mọi ngành, mọi lĩnh vực kiểm toán. Trước năm 1975 thành phố Sài
Gòn đã có văn phòng kiểm toán của Công ty Price Waterhouse, công ty SGV. Sau
- arthur Andersen Việt nam (AA).
- earnst & Young Việt nam (E&Y).
Các tổ chức trong nước và ngoài nước.
- Văn phòng đại diện của các Công ty kiểm toán quốc tế: Một số Công ty chưa
được phép thành lập Công ty liên doanh hoặc Công ty 100% vốn nước ngoài hoặc
đang tìm hiểu thị trường Việt nam thì có thể xin giấy phép đặt văn phòng đại diện.
Văn phòng đại diện của Công ty kiểm toán, nếu có giấy uỷ quyền của Công ty mẹ thì
có thể phối hợp với Công ty kiểm toán ở Việt nam để cùng ký hợp đồng kinh tế.
Tổ chức hiệp hội kế toán Việt nam (VAC): Là một tổ chức quần chúng, tự
nguyện của những công dân Việt nam làm nghề kế toán và kiểm toán. Mục đích của
Hội Kế toán Việt nam là tập hợp, đoàn kết và động viên công dân Việt nam làm nghề
kế toán và kiểm toán để phổ biến kiến thức, trao đổi kinh nghiệm nghề nghiệp, nâng
cao trình độ, giúp đỡ nhau trong công tác chuyên môn
Các tổ chức kiểm toán quốc tế: Các tổ chức nước ngoài muốn hoạt động ở
Việt nam phải được Bộ Kế hoạch và Đầu tư cấp giấy phép. Nhà nước Việt nam
khuyến khích các tổ chức kiểm toán quốc tế vào hoạt động ở Việt nam, đó là điều
kiện thúc đẩy các tổ chức kinh tế phát triển và là điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu
tư vào Việt nam.
II. Thực trạng hoạt động kiểm toán độc lập ở Việt nam
1. Một vài nét tìm hiểu hoạt động của các công ty kiểm toán tại Việt nam.
Công ty Kiểm toán Việt nam được thành lập theo quyết định QĐ 165/
QQĐ/TCCB ngày 13 tháng 5 năm 1991 với tê giao dịch VACO và Công ty Dịch vụ
Tư vấn Tài chính, Kế toán, Kiểm toán theo quyết định QĐ164/QQD/TCCB với tên
giao dịch AASC. VACO và AASC không chỉ là người tiên phong trong ngành nghề
kiểm toán ở Việt nam, mà còn là người - bằng việc thực tế của mình đã truyền bá
kiến thức, chuẩn mực và các nguyên tắc kiểm toán quốc tế vào Việt nam, cũng như
qua nghiên cứu hoạt động thực tiễn đã xây dựng nền móng cho phát triển nguyên tắc
Bộ tài chính đã quyết định ban hành 10 CMKT:
CM số 200: Mục tiêu của nguyên tắc cơ bản chi phối kiểm toán báo cáo là
quy định và hướng dẫn áp dụng các mục tiêu và nguyên tắc cơ bản chi phối kiểm
toán báo cáo tài chính.
CM số 210: "Hợp đồng kiểm toán" mục tiêu của CM là quy định các nguyên
tắc và nội dung cơ bản của thoả thuận giữa Công ty kiểm toán với khách hàng về các
điều khoản và điều kiện:
+ Của hợp đồng kiểm toán.
+ Về trách nhiệm của Công ty kiểm toán và khách hàng khi thực hiện hoặc
thay đổi các điều khoản của hợp đồng kiểm toán.
CM còn hướng dẫn thể thức áp dụng các nguyên tắc và nôi dung cơ bản các
hoạt động kiểm toán về ký kết và thực hiện hợp đồng kiểm toán phải phù hợp với
quy định của pháp luật về hợp đồng kinh tế và CM kiểm toán này.
CM số 230: "Hệ số kiểm toán" quy định các nguyên tắc thủ tục cơ bản và
hướng dẫn thể thức áp dụng các nguyên tắc và thủ tục cơ bản liên quan đến việc lập,
thu thâp, phân loại, sử dụng việc lưu trữ hồ sơ kiểm toán BCTC.
CM số 700: " Báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính quy định các nguyên tắc
thủ tục cơ bản và hướng dẫn thể thức áp dụng các nguyên tắc và thủ tục cơ bản đối
với nội dung và hình thức của báo cáo kiểm toán, do KTV và Công ty kiểm toán
công bố sau khi thực hiện Công ty kiểm toán báo cáo tài chính của một đơn vị.
CM số 250: "Xem xét tính tuân thủ pháp luật và các quy định trong kiểm toán
báo cáo tài chính, quy định, các nguyên tắc thủ tục cơ bản và hướng dẫn thể thức áp
dụng các nguyên tắc, thủ tục cơ bản cho KTVvà Công ty kiểm toán khi xem xét tính
tuân thủ pháp luật và các quy định của đơn vị được kiểm toán khi kiểm toán báo cáo
tài chính.
CM số 310: "Hiểu biết về tình hình kinh doanh" quy định, các nguyên tắc thủ
nhiệm lập báo cáo tài chính đều muốn che giấu những phần yếu kém hoặc khuyếch
trương kết quả kinh doanh của mình trên các báo cáo tài chính đó.
Trái lại những người quan tâm đến kết quả kinh doanh và tình hình tài chính
của doanh nghiệp lại đòi hỏi sự trung thực, chính xác của báo cáo tài chính. Vì vậy
cần có sự kiểm tra và xác nhận của người thứ ba: kiểm toán viên độc lập - những
người hoạt động theo những nguyên tắc bắt buộc và có đủ năng lực, uy tín với chủ
doanh nghiệp và những người quan tâm đến báo cáo tài chính của doanh nghiệp.
Do đó có thể phân tích vai trò của kiểm toán nói chung và kiểm toán độc lập
nói riêng trên những mặt chủ yếu sau:
Thứ nhất: kiểm toán tạo niềm tin cho những "người quan tâm". Trong cơ chế
thị trường có nhiều người quan tâm đến tình hình tài chính và sự phát triển của nó
trong tài liệu kế toán, có thể kể đến là:
Các cơ quan nhà nước cần có thông tin trong thực tế điều tiết vĩ mô nền kinh
tế bằng hệ thống pháp luật, chính sách kinh tế của mình với mọi thành phần, mọi
hoạt động xã hội.
Chỉ có hoạt động kiểm toán phát triển trên cơ sở khoa học thực sự mới đáp
ứng được yêu cầu thông tin cho những quyết sách của nhà nước và kiểm toán mới
thực sự trở thành "cái nền" vững chắc cho cả sự can thiệp trực tiếp lẫn quản lý gián
tiếp của nhà nước.
Các nhà đầu tư cần có tài liệu tin cậy để trước hết cơ hướng đầu tư đúng đắn,
sau có điều hành, sử dụng vốn đầu tư và cuối cùng có tài liệu trung thực về ăn chia
phân phối kết quả đầu tư, chẳng hạn như:
Các cổ đông góp vốn kinh doanh hoặc mua cổ phiếu của doanh nghiệp nhưng
cũng không dễ gì có thể kiểm tra kỹ lướng bản báo cáo tài chính (do không có nghiệp
vụ hoặc không phải ai cũng có thể kiểm tra) do đó kho báo cáo tài chính đã được
kiểm toán viên xác nhậ là trung thực, hợp lý thì có thể yên tâm ăn chia lợi tức và
sự ra đời và phát triển của kiểm toán với tư cách là một hoạt động độc lập
Thứ hai: kiểm toán góp phần hướng dẫn nghiệp vụ có nền nếp hoạt động tài
chính kế toán nói riêng và hoạt động của đơn vị kiểm toán nó chung. Hoạt động tài
chính bao gồm nhiều mối quan hệ về đầu tư, về kinh doanh, về phân phối, về thanh
toán. Tính phức tạp của hoạt động này càng tăng lên bởi quan hệ chặt chẽ giữa các
quan hệ tài chính với lợi ích của con người. Trong khi đó thông tin kế toán là sự phản
ánh của hoạt động tài chính. Ngoài vật chứa đựng những phức tạp của quan hệ tài
chính, thông tin kế toán còn là sản phẩm của quá trình xử lý thông tin bằng phương
pháp kỹ thuật rất đặc biệt. Do đó nhu cầu hướng dẫn nghiệp vụ và củng cố nền nếp
trong quản lý tài chính càng đòi hỏi thường xuyên và cao hơn.
Thứ ba: là kiểm toán góp phần nâng cao hiệu quả và năng lực quản lý. Kiểm
toán không chỉ có chức năng xác minmh mà còn có chức năng tư vấn.
Trong điều kiện chuyển đổi của nền kinh tế xuất hiện nhiều quan hệ mới phức
tạp mà hệ thống pháp lý chưa hoàn chỉnh, kinh nghiệm và chuyên gia giỏi về quản
lý chưa có nhiều. Do đó duy trì ky cương và bảo đảm phát triển đúng hướng chỉ có
thể có được trên cơ sở xây dựng đồn bộ và tổ chức thực hiện tốt kiểm toán trên mọi
lĩnh vực để trên cơ sở tích luỹ kinh nghiệm từ xác minh đi đến tư vấn cho mọi lĩnh
vực hoạt động
4. Đội ngũ kiểm toán viên độc lập ở Việt nam:
Đội ngũ nhân viên hoạt động trong các công ty kiểm toán độclập ở Việt nam.
Do kiểm toán là một lĩnh vực còn mới mẻ đối với nước ta nên khi hoạt động
không tránh khỏi những bất cập và khó khăn. Tuy nhiên kiểm toán nói riêng và kiểm
toán độc lập nói chung đã có được những bước tiến đáng kể.
Để có thể tiếp nhận một cách đầy đủ và có hệ thống quy trình kiểm toán tiên
tiến của quốc tế Nhà nước đã cho phép thành lập công ty liên doanh để tận dụng tối
đa những trợ giúp của các nước có nền kiểm toán phát triển về chuyển giao công - Khi thay đổi người lãnh đạo cao nhất của doanh nghiệp.
- Khi thành lập mới xi nghiệp liên doanh với cá nhân hoặc tổ chức trong ngoài
nước.
Bên cạnh sự tự nguyện của các doanh nghiệp còn có sự bắt buộc phải kiểm
toán theo pháp luật.
ở Việt nam ngay sau khi có tổ chức kiểm toán độc lập cũng quy định " báo
cáo tài chính của các Công ty nước ngoài và Công ty liên doanh có vốn đầu tư nước
ngoài phải được kiểm toán độc lập" (Công văn số 1248 TC/CĐKT ngày 10/9/1991
của Bộ tài chính).
Luật đầu tư nước ngoài ở Việt nam và Nghị định 18/CP của Chính phủ cũng
đã quy định rằng. Báo cáo tài chính hàng năm của các xi nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài phải được một tổ chức kiểm toán độc lập hợp pháp ở Việt nam kiểm tra, xác
nhận trước khi nộp cho cơ quan thuế.
Theo yêu cầu của một tổ chức nào đó như: Hội đồng quản trị của thị trường
chứng khoán yêu cầu người tham gia phát hành cổ phiếu hoặc ngân hàng yêu cầu
người cho vay tiền phải được kiểm toán báo cáo tài chính.
Doanh nghiệp nhà nước khi thực hiện cổ phần hoá cũng phải kiểm toán báo
cáo tài chính và xác định giá trị doanh nghiệp.
Phù hợp với sự phát triển của các tổ chức kiểm toán độc lập và yêu cầu quản
lý nhà nước sẽ từng bước mở rộng diện các đối tượng phải được kiểm toán độc lập
luôn làm cơ sở cho việc điều hành của nhà nước.
III. Một số ý kiến đề xuất nhằm nâng cao chất lượng kiểm toán báo cáo tài
chính của KTNN Việt nam
Tóm lại trong một nền kinh tế đang chuyển đổi, tuy còn nhiều vấn đề là những
cản ngại cho quá trình phát triển thị trường kiểm toán nhưng đồng thời nó cũng mở
Có nhiều công ty kiểm toán độc lập Việt nam thuộc loại hình doanh nghiệp,
có cơ quan chủ quản là bộ tài chính đã khiến cho rất nhiều người băn khoăn, nghi
ngờ về tính độc lập của những công ty này.
Đến nay, theo các đạo luật về loại hình doanh nghiệp Việt nam thì hầu hết
các công ty kiểm toán độc lập ở Việt nam đều thuộc loại công ty trách nhiệm hữu
hạn. Kể cả các công ty kiểm toán độc lập ở nước ngoài đang thuộc loại công ty hợp
danh, chịu trách nhiệm vô hạn nhưng khi vào Việt nam, theo luật đầu tư nước ngoài
lại được thành lập doanh nghiệp theo loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn. Điều
này nếu cứ tiếp tục sẽ khiến cho những người sử dụng báo cáo kết quả kiểm toán
nghi ngờ về khả năng bồi thường của công ty khi có sự cố xảy ra.
Việc cho phép các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài làm ăn tại Việt
nam đã góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Tuy nhiên nói riêng trong lĩnh vực
kế toán - Kiểm toán còn có nhiều bất cập nảy sinh:
Quy định các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải thực hiện chế độ
kế toán hiện hành của Việt nam, nếu có nhu cầu thực hiện chế độ kế toán khác phải
được bộ tài chính chấp nhận bằng văn bản. Như vậy khó cho các doanh nghiệp 100%
vốn nước ngoài và các đơn vị hợp tác kinh doanh vì nếu áp dụng chế độ kế toán Việt
nam sẽ gặp bất cập so với chế độ kế toán tại nước ngoài yêu cầu. Tính đặc thù ở các
tài khoản, các báo cáo định kỳ, chứng từ gốc trong khi pháp lệnh kế toán thống kế
đang có hiệu lực, không cho phép tồn tại hai hệ thống kế toán khó đánh giá hiệu quả
kinh doanh.
Từ đó đặt ra vấn đề là mức độ áp dụng pháp lí của các báo cáo tài chính đã
được kiểm toán.
Hiện nay các tiêu chuẩn của kiểm toán đang thu hút được nhiều nhà quản lí. ở
Việt nam bên cạnh những công ty kiểm toán độc lập trong nước bộ tài chính đã cho
phép một số công ty kiểm toán nước ngoài hoạt động nhưng vì có những bất cập về
việc ghi chép, giữ sổ và lập báo cáo như trước đây. Tuy nhiên đội ngũ kiểm toán
viên độc lập cũng chưa được đào tạo để thích ứng với yêu cầu kiểm toán trong môi
trường máy vi tính.
- Vì đạo đức nghề nghiệp các tổ chức kiểm toán và kiểm toán viên không
được tự quảng cáo công khai về mình dưới bất cứ hình thức nào nhưng không phải vì
thế mà kiểm toán viên không được chủ động tiếp cận khách hàng tìm hiểu nhu cầu và
đề xuất các dịch vụ thiết thực mang lại hiệu quả cao cho khách hàng. Chính điều này
cũng đã làm cho nhiều khách hàng chưa đến với các tổ chức kiểm toán Việt nam.
c. Vì hoạt động kiểm toán ở nước ta còn mới mẻ.
Kiến thức chuyên môn còn hạn hẹp nên nhận thức của công chúng và những
người quan tâm chưa thực sự tin tưởng vào chất lượng công việc của kiểm toán cũng
như vai trò của kiểm toán. Điều đó đã làm hạn chế đến sự phát triển của kiểm toán.
Trừ những đơn vị kế toán có sự tham gia quản lý của nước ngoài, hầu hết
những người quản lý ở các đơn vị chưa hiểu hết mục đích của hoạt động kiểm toán,
chưa thấy được lợi ích thiết thực từ những tư vấn của kiểm toán viên.
Nhiều doanh nghiệp đặc biệt là những doanh nghiệp nhà nước, công ty tư
nhân, công ty cổ phần, chưa muốn tiết lộ những thông tin thực về hoạt động của
doanh nghiệp mình cho người khác, trừ khi bị bắt buộc hoặc khi doanh nghiệp có sự
cố.
Vì vậy mà khách hàng của các tổ chức kiểm toán Việt nam hiện nay chủ yếu
là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, liên doanh với nước ngoài, các tổ
chức viện trợ hoặc tiếp nhận việc trợ (là những tổ chức bị bắt buộc phải kiểm toán),
một số doanh nghiệp khác có sự cố tài chính
2. Một số giải pháp để nâng cao chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính.
Dù ở phương diện xu thế phát triển, phương diện môi trường kiểm toan, môi
trường quản lý hay là nhu cầu tự thân thì việc nâng cao chất lượng kiểm toán đã nỗi
Thứ nhất: Thống nhất quan điểm về đào tạo đối tượng kiểm toán
Có ý kiến cho răng trong các trường đại học tài chính kế toán, các trường
kinh tế có thế hình thành chuyên ngành “đào tạo kiểm toán” có ý kiến khác lại cho
rằng nghề kiểm toán không thể đào tạo cùng một lúc, song song với các chuyên
ngành khác trong nhà trường, đối tượng đào tạo kiểm toán phải là giai đoạn nâng cao
tiếp theo đối với những sinh viên đã tốt nghiệp đại học hoặc đã trải qua chuyên
ngành kế toán. Còn theo quan điểm của mình người viết nghiêng về ý kiến thứ hai sở
dĩ như vậy là vì đối với kiểm toán viên là rất cao họ không chỉ có phẩm chất đạo đức
tốt mà họ còn phải có vốn kiến thức kinh tế xã hội chuyên môn nghiệp vụ pháp luật
am hiểu các thông lệ quốc tế và đặc biệt phải có vốn thực tế từng trải mới có thể độc
lập xử lí được nhữgn tình huống phức tạp diễn ra trong hoạt động kiểm toán.
Thứ hai: Cần xây dựng mục tiêu trương trình đào tạo và bỗi dưỡng thống
nhất trong toàn quốc về bồi dưỡng và đào tạo kiểm toán viên. Để thực hiện được giải
pháp này bộ tài chính có thể chủ trì thành lập hội đồng gồm các thành viên có liên
quan.
Để biên soạn mục tiêu chương trình đào tạo và bồi dưỡng kiểm toán viên
thống nhất toàn quốc.
Thứ ba: Sau khi có chương trình thống nhất chúng ta có thể cho phép “ tự do
hoá” việc đào tạo và bồi dưỡng cán bộ kiểm toán. Xung quanh vấn đề naỳ, có ý kiến
cho rằng nhà nước nên thống chế chỉ cho một số trường đại học được phép đào tạo
cán bộ kiểm toán nhưng chúng tổ cho rằng như vậy sẽ làm giảm mức độ cạnh tranh
mà nên để nhiều trường được phép đào tạo trong lĩnh vực này để tạo ra sự ganh đua
giữa các trường cũng như giữa các sinh viên học chuyên ngành kiểm toán trong các
trường đó.
Thứ tư: Xây dựng hệ thống tài liệu phục vụ giảng dậy học tập bao gồm các
giáo trình lí thuyết các bài giảng thực tiễn các tình huống và quy trình kiểm toán các
văn bản pháp luật Đồng thời đổi mới phương pháp giảng dậy nhằm nâng cao chất
lượng và hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng, đào tạo một đội ngũ giáo viên. Hơn nữa, qua
đảm bảo tính bí mật thông tin.
Chỉ tiêu 2: Mức độ thoả mãn mong muốn về sự đóng góp của KTV cho chủ
thể sử dụng dịch vụ kiểm toán nhằm nâng cao hiệu quản quản lý kế toán tài chính
theo đúng chế độ chính sách Nhà nước.
Chỉ tiêu 3: Đảm bảo đúng thời gian đã đề ra một cách hợp lí và giá phí phù
hợp.
Giá phí và thời gian kiểm toán là một chỉ tiêu trong ba chỉ tiêu đánh giá chất
lượng kiểm toán. Nó gắn liền với 2 chỉ tiêu còn lại, thể hiện sự lựa chọn trong việc
sử dụng vốn về quản lý chi phí của doanh nghiệp thực hiện kiểm toán.
Thời gian đủ cần thiết để đảm bảo thực hiện cuộc kiểm toán làn khoảng thời
gian không quá dài, làm tăng chi phí, ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của tổ chức
kiểm toán nhưng không thể quá ngắn chỉ để thực hiện một số bước công việc cần
thiết nhằm đảm bảo cho ý kiến của mình, đồng thời phải kịp thời, phù hợp với yêu
cầu về thời gian sử dụng các thông tin được kiểm toàn. Thời gian tiến hành kiểm
toán dài hay ngắn phụ thuộc giá phí mà khách hàng có thể trả và giá phí kiểm toán là
yếu tố đầu tiên tác động đến đơn vị khách hàng lựa chọn mời công ty kiểm toán nào?
Ngày nay sự phát triển của công nghệ thông tin đã tác động mạnh mẽ và sâu
rộng đến các mặt của hoạt động kinh tế nói chung và hoạt động kế toán, kiểm toán
nói riêng. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động kiểm toán giúp kiểm
toán viên có thể mở rộng quy mô kiểm tra và quy mô mẫu chọn, giảm thiểu các thao
tác công việc tính toán lại số liệu, mặt khác còn giúp kiểm toán viên trong xử lý dữ
liệu, khảo sát tài liệu của khách hàng trên hệ thống máy tính của doanh nghiệp như
một phần cuả các khảo sát kiểm soát
Thực tế kiểm toán báo cáo tài chính trong thời gian qua cho thấy các doanh
nghiệp sử dụng máy vi tính để hoạch toán, lưu trữ chứng từ, sổ kế toán. Trước thực
tế này, đòi hỏi công tác kiểm toán báo cáo tài chính cũng phải đổi mới về phương
khách hàng. Khi thu thập thông tin về khách hàng phải bố trí những KTV giàu kinh
nghiệm và am hiểu lĩnh vực kinh doanh của khách hàng.
+ Trong việc kiểm tra tính pháp lý của khách hàng, KTV cần phải kiểm tra
chi tiết một số vấn đề sau:
Giấy phép thành lập và điều lệ công ty khách hàng. Đối với công ty liên
doanh có vốn đầu tư nước ngoài cần xem xét: Nguồn vốn đầu tư, vốn pháp định, giấy
phép đầu tư, tổng số vốn đóng góp, dạng vốn góp và các chứng từ liên quan đến vốn
góp. Trong thực tế, có nhiều công ty liên doanh đã cố tình ghi trùng, ghi khống số tài
sản góp (bên nước ngoài) vốn, có nhiều loại ngoại tệ (kỳ này ngoại tệ này, kỳ sau
ngoại tệ khác) làm cho vốn góp tăng lên nhiều lần,
Các biên bản họp, các hợp động kinh tế quan trọng, Từ các tài liệu này có
thể giúp KTV phát hiện được lý do thực hiện kiểm toán (để vay vốn ngân hàng, để
ban giám đốc được ký hợp đồng tiếp với ban quản trị, thu hút đầu tư, ) và nắm vững
được một cách tổng quát về tình hình tài chính của doanh nghiệp.
+ Trong việc lập kế hoạch kiểm toán:
Người lập kế hoạch (KTV độc lập cao cấp) phải xác định rõ mục đích kiểm
toán, đánh giá rủi ro, tính toán mẫu và những công việc phải làm, ngoài ra phải giành
quỹ thời gian để hướng dẫn, nghiệp vụ kế toán nếu giúp đỡ đơn vị sửa lại sổ sách,
báo cáo và hướng dẫn nghiệp vụ kế toán nếu cần thiết, cần lựa chọn người tham gia
cuộc kiểm toán, ưu tiên những người có sự hiểu biết về lĩnh vực kinh doanh của
doanh nghiệp và những người đã tham gia kiểm toán đơn vị (nếu là khách hàng
thường xuyên). Kế hoạch kiểm toán phải được trao đổi trong tổ kiểm toán.
Đối với các hợp đồng lớn kéo dài, khôi lượng công việc pahỉ thực hiện nhiều
cần lập kế hoạch chung cho cả đợt và kế hoạch chi tiết theo từng tháng, từng tuần và
có thể cho từng tổ.
+ Trong thực hiện kiểm toán:
khoản mục. Dựa vào các bằng chứng thu được để phân tích đánh giá, điều quan trọng
là sử dụng hệ thống các tỷ suất tài chính để phân tích, đánh giá tình hình tài chính
của doanh nghiệp. Đối với những khoản mục không có đủ bằng chứng cần phải thu
thập thêm hoặc từ chối đưa ra kết luận đối với khoản mục đó.
+ Một vấn đề hết sức quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán đó là
mối quan hệ giữa KTV và các đối tượng khác trong quá trình thực hiện kiểm toán:
Quan hệ KTV với trợ lý: Trong quá trình kiểm toán, KTV phải giám sát,
kiểm tra các phần việc của trợ lý được giao. Và tự thân thẩm định kết luận sử dụng
mà dẫn đến sai phạm trọng yếu thì KTV phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.
Quan hệ KTV với chuyên gia: Trong trường hợp đặc biệt, KTV có thể phải
xin ý kiến chuyên gia. Nếu ý kiến của chuyên gia là thiếu khách quan, KTV có thể
thay chuyên gia khác và có thể trích dẫn ý kiến của chuyên gia nếu được sự đồng ý
của chuyên gia hoặc cấp trên.
Quan hệ KTV với khách hàng: Là quan hệ xuyên suốt cuộc kiểm toán. Khách
hàng là thượng đế nhưng lại bị kiểm tra, phỏng vấn những câu hỏi mà họ không
muốn trả lời, kể cả cấp cao nhất của doanh nghiệp. Song KTV không làm hết chức
năng của mình thì sẽ phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.
Quan hệ của KTV với KTV nội bộ.
Quan hệ của KTV với các KTV khác.
Quan hệ KTV với người thứ ba: Trong nhiều trường hợp KTV phải gặp trực
tiếp hoặc xác nhận qua thư với người thứ ba để xác minh các thông tin về tài chính
của doanh nghiệp. Khi lấy ý kiến của người thứ ba, KTV phải có văn bản có chữ ký
xác nhận hoặc chứng từ gốc để khi cần thiết có thể truy cứu trách nhiệm.
Nguyên tắc cơ bản nhất đối với mọi KTV là tính độc lập, nó được thể hiện
qua tư thế, tác phong và bản lĩnh nghề nghiệp song nó không đồng nghĩa với việc
KTV chỉ thông qua chứng từ sổ sách,…để có thể đưa ra ý kiến kết luận vì bất cứ
Tài liệu tham khảo
1. Tạp chí kiểm toán số 6/1998 trang 5,6
2. Bùi Văn Mai - Tìm hiểu về kiểm toán độc lập ở Việt nam -
3. Nhà xuất bản tài chính 1995
4. Giáo trình lý thuyết kiểm toán ĐHKTQD
5. Tạp chí kiểm toán số 2/1997
6. Tạp chí kiểm toán số 6/2000 Tr54
7. Tạp chí kiểm toán số 4/2000 Tr33,Tr26
8. Tạp chí kiểm toán số 2/2000 Tr44-46
9. Tạp chí kế toán tháng 6 năm 2000
10. Tạp chí kế toán tháng 8 năm 2000
11. Tạp chí kế toán tháng 10 năm 2000
12. Tạp chí kế toán số 14/1998 Tr213
13. Tạp chí Tài chính số 4/1992 Tr27
14. Tạp chí Tài chính số 5/1992 Tr29
15. Tạp chí phát triển kinh tế số 49/1994 Tr10; Tr6
16. Tạp chí phát triển kinh tế số 77/1997 Tr21