Kỹ thuật phân tích cơ bản trong đầu tư chứng khoán potx - Pdf 12

SAFC – CLB chứng khoán Tp.HCM và Bạn
www.safc.com.vn
Offline: 219B Ng Đình Chiểu Q3

Nguồn: Các trang web về Ck trong và ngoài nước.
Các nguồn khác

Nhóm hệ số giá trị: Chỉ số EPS, P/E, P/B, chỉ số nợ
D/E (Debt to Equity Ratio)

Nhóm các hệ số tài chính ROE, ROA, …

Cách phân tích các hệ số từ báo cáo tài chính và các
bút toán tiểu xảo trong BCTC.

Cách tính dòng tiền và giá trị nội tại CP

Lựa chọn CP theo PP CANSLIM

Bí quyết đầu tư theo PP Benjamin Graham
SAFC – CLB chứng khoán Tp.HCM và Bạn www.safc.com.vn

EPS – Thu nhập trên một CP.

Tổng thu nhập sau thuế - tổng số cổ tức của CP ưu đãi

EPS =

Tổng số CP đang lưu hành

Nhận xét:

nếu tốc độ tăng LN (E) cao

Đây là chỉ số mà các tổ chức tài chính, quỹ đầu tư lớn như HSBC, ML đã lợi dụng tâm lý
yếu của NĐT VN khi tung ra các báo cáo xoay quanh chỉ số này nhằm đánh đổ thị trường
cho các NĐT của mình mua vào.
SAFC – CLB chứng khoán Tp.HCM và Bạn www.safc.com.vn

Chỉ số Giá/Giá trị sổ sách (Price-to-Book ratio, P/B Ratio)

Giá hiện tại của CP (stock price)

P/B(ratio) =

Tổng giá trị tài sản - giá trị tài sản vô hình và nợ

Nhận xét:

giả sử rằng Cty có giá trị tài sản ghi nhận trên bảng cân đối kế
toán là 100 tỷ, tổng nợ là 75 tỷ, như vậy giá trị ghi sổ của Cty là
25 tỷ. Nếu hiện tại Cty có 10 triệu CP đang lưu hành, mỗi CP sẽ
đại diện cho 2.5k giá trị ghi sổ của Cty. Nếu mỗi CP này có giá thị
trường là 50k, như vậy tỉ lệ P/B là 2=5/2.5.

P/B là công cụ giúp có thể tìm kiếm được các CP có giá thấp mà
phần lớn thị trường bỏ qua. Nếu một Cty đang bán cổ phần với
mức giá thấp hơn giá trị ghi sổ của nó (tức là có tỉ lệ P/B nhỏ hơn
1), khi đó có hai trường hợp sẽ xảy ra: hoặc là thị trường đang
nghĩ rằng giá trị tài sản của Cty đã bị thổi phồng quá mức hoặc là
thu nhập trên tài sản của Cty là quá thấp.
SAFC – CLB chứng khoán Tp.HCM và Bạn www.safc.com.vn


Giá trị của nợ phải trả trên báo cáo gần với giá trị thực tế hơn so với
vốn chủ sở hữu.

Tùy thuộc vào quan điểm về nợ phải trả có bao gồm thuế thu nhập
hoãn lại phải trả hay LN phải chuyển về cho Cty mẹ hay không mà
chỉ số này mang lại những kết quả khác nhau.

.
SAFC – CLB chứng khoán Tp.HCM và Bạn www.safc.com.vn

ROE : LN trên vốn CSH

LN sau thuế

ROE =

Nguồn vốn chủ sở hữu

Nhận xét:

ROE được dùng để đo lường xem Cty tận dụng vốn của NĐT tốt đến mức nào. Hay hiểu
một cách đơn giản ROE phản ánh mức độ sinh lời của một Cty, tính hiệu quả trong việc
sử dụng tài sản được NĐT trang bị.

Thông thường thì một Cty tốt thì cần phải có ROE cao hơn mức trung bình của các Cty
cùng ngành vì điều này cũng đồng nghĩa với việc Cty kiếm được nhiều tiền hơn trên
đồng vốn bỏ ra đầu tư

Trung bình toàn thị trường là 20,55%

Chỉ số LN thuần/doanh thu: Cty hoạt động có lãi nhiều không? Mức LN
của Cty phụ thuộc rất nhiều vào chiến lược phát triển thị trường, khả
năng tiết kiệm chi phí và sức mạnh cạnh tranh của cty. Nhìn chung thì
một cty tốt thường làm ăn có lãi nhiều hơn các cty cùng ngành. Tuy
nhiên, cũng có khá nhiều ngoại lệ, một số doanh nghiệp phải hy sinh LN
trong ngắn hạn để nhắm tới nguồn LN lâu dài. Trung bình toàn thị
trường 9,95%

Chỉ số nợ: Tổng Vay nợ/Vốn : Chính sách về nợ của Cty thế nào? Tỷ lệ nợ
trên tổng vốn giúp chúng ta thấy được khả năng chiếm dụng vốn của
Cty. Mỗi ngành nghề kinh doanh lại có mức độ nợ nần khác nhau, nên
chúng ta cần so sánh tỷ suất nợ với các Cty cùng ngành và với bản thân
Cty đang phân tích. Nếu tỷ xuất này có sự khác biệt lớn, hoặc thay đổi
mạnh, đó có thể là tín hiệu rất không tốt. Nếu tỷ suất này quá cao, Cty
có thể đang chìm trong lâm nguy tài chính; nếu nó quá thấp, doanh
nghiệp có thể đã để lỡ cơ hội kiếm thêm tiền cho cổ đông (bằng việc
chiếm dụng thêm vốn của người khác, như vay tín dụng, mua trả chậm
v.v.) Trung bình toàn thị trường: 1,02

Lãi cổ tức (Yield) - Tỷ lệ cổ tức của Cty ra sao? Cổ tức là khoản tiền mà cổ
đông được chia khi Cty làm ăn có lãi, cổ tức cao cũng có nghĩa là cổ
đông bỏ túi đều đặn nhiều tiền. Tuy nhiên bạn phải hết sức thận trọng
với chính sách cổ tức của các Cty, nhiều Cty đang cần vốn để phat triển
sản xuất, thậm chí phải vay ngân hàng, nhưng sợ giá CP sẽ xuống thấp
nếu trả cổ tức thấp nên vẫn cố “rút ruột” mình ra, thậm chí lấy “tạm”
tiền vay nợ để trả cho cổ đông. Trong trường hợp này cổ đông giống chủ
nợ của Cty hơn là chủ sở hữu
SAFC – CLB chứng khoán Tp.HCM và Bạn www.safc.com.vn

Beta (mức biến động giá) - Giá CP của Cty biến động thế nào so

Mục đích của công thức này là so sánh cách thức tạo lợi nhuận của một Cty, và cách thức Cty
sử dụng tài sản để tạo doanh thu. Nếu tài sản được sử dụng có hiệu quả, thì thu nhập (và
ROI) sẽ cao, và nếu ngược lại, thu nhập và ROI sẽ thấp.
SAFC – CLB chứng khoán Tp.HCM và Bạn www.safc.com.vn

Hệ số Tổng lợi nhuận - Hệ số tổng lợi nhuận cho biết mức độ hiệu quả khi sử
dụng nguyên liệu và lao động trong quy trình sản xuất của ban quản lý một Cty

Cách tính

Doanh số bán - Trị giá hàng bán tính theo giá mua

Tổng lợi nhuận =
Doanh số bán

Khi chi phí lao động và chi phí nguyên vật liệu tăng nhanh, hệ số tổng lợi nhuận chắc chắn sẽ
giảm xuống, trừ khi Cty có thể chuyển các chi phí này cho khách hàng của mình dưới hình
thức nâng giá bán sản phẩm. Một cách để tìm xem các chi phí này có quá cao không là so
sánh hệ số tổng lợi nhuận của một Cty với hệ số của các Cty tương đồng. Nếu hệ số tổng lợi
nhuận của các Cty đối thủ cạnh tranh cao hơn, thì Cty cần phải thực hiện một biện pháp nào
đó để có được sự kiểm soát tốt hơn đối với chi phí lao động và nguyên liệu.
SAFC – CLB chứng khoán Tp.HCM và Bạn www.safc.com.vn

Hệ số lợi nhuận hoạt động cho biết Ban quản lý của một Cty đã thành công đến
mức nào trong việc tạo ra lợi nhuận từ hoạt động của Cty

Cách tính

EBIT


mức lợi nhuận liên tục tăng. Ngoài ra, một Cty càng giảm chi phí của mình một cách hiệu quả-
ở bất kỳ doanh số nào thì mức lợi nhuận ròng của nó càng cao.
SAFC – CLB chứng khoán Tp.HCM và Bạn www.safc.com.vn

Hệ số thu hồi nợ trung bình cho bạn biết Cty đó phải mất bao lâu để chuyển các
khoản phải thu thành tiền mặt. Lưu ý rằng doanh số bán thu tiền ngay được loại
khỏi tổng doanh thu.

Cách tính

các khoản phải thu

Hệ số thu hồi nợ trung bình =
Doanh số bán chịu hàng năm /360 ngày

Ví dụ: Nếu bảng cân đối kế toán của một Cty cho biết số liệu của các khoản phải thu là 700tr
và báo cáo thu nhập của nó cho biết doanh số bán chịu là 5tỷ5 thì

700.000 .000

Kỳ thu hồi nợ trung bình = = 45.8 ngày.

5.500.000.000/ 360 ngày
Cũng như các hệ số khác, kỳ thu hồi nợ trung bình phải được xem xét trong mối liên hệ với các
thông tin khác
SAFC – CLB chứng khoán Tp.HCM và Bạn www.safc.com.vn

Hệ số thu hồi nợ trung bình Nếu chính sách của Cty là bán chịu cho khách hàng
trong vòng 38 ngày thì thời hạn 45.8 ngày cho thấy là Cty gặp khó khăn trong việc
thu hồi nợ đúng hạn và cần xem xét lại chính sách bán chịu của mình. Ngược lại,

có được số liệu này, phải dự tính tỷ lệ giá trị hàng hoá được mua chịu

Ví dụ: Giả định rằng số liệu các khoản phải trả của Cty là 275.000 USD. Nếu giá mua hàng là
3.000.000 USD và dự tính là 80% hàng hoá này được mua chịu thì thời hạn thanh toán trung
bình là bao nhiêu? Số tiền mua chịu hàng năm sẽ là 2.400.000 USD (3.000.000 x 0.80). Bây
giờ, thời hạn thanh toán trung bình đối với các khoản phải trả có thể được tính như sau:

275.000 USD

Thời hạn thanh toán trung bình = = 41.3 ngày

0.8 * 3.000.000 / 360 ngày
SAFC – CLB chứng khoán Tp.HCM và Bạn www.safc.com.vn

Hệ số thanh toán trung bình: qua ví dụ trên Thời hạn thanh toán trung bình (đối với
các khoản phải trả) của Cty là 41.3 ngày. Bất kỳ thời hạn nào ngắn hơn có nghĩa là người bán
dành cho Cty một khoản chiết khấu hoặc người bán cho rằng Cty đang trong tình trạng rủi ro
cao nên đã đưa ra các điều khoản chặt chẽ hơn về thời hạn thanh toán nợ. Bất kỳ thời hạn
nào dài hơn cũng có nghĩa là Cty đã nhận được các điều khoản tín dụng ưu đãi, hay Cty là
một “người trả chậm”, tức là Cty đang sử dụng những người cung cấp nguyên liệu như một
nguồn tài trợ.

Người bán, nói chung bao giờ cũng muốn nhận được tiền càng sớm càng tốt, thường tính
toán hệ số này nhằm biết được bao lâu thì họ có thể thu hồi tiền của mình từ Cty. Do việc
thanh toán chậm thường có lợi cho Cty, nên nhà quản lý - người kiểm soát việc thanh toán có
nhiệm vụ phải làm cân bằng hai thái cực lợi ích giữa nhà cung cấp và Cty. Nếu thời hạn thanh
toán trung bình của ngành vượt quá hệ số của Cty, thì nhà quản lý có thể tìm ra lý do tại sao
việc mua chịu của Cty lại bị hạn chế và phải làm gì để có được thời hạn mua chịu dài hơn từ
những nhà cung cấp.
SAFC – CLB chứng khoán Tp.HCM và Bạn www.safc.com.vn

Hệ số thu nhập trả lãi định kỳ =
Chi phí trả lãi hàng năm

Ví dụ: Nếu EBIT là 8.000 USD và chi phí tiền nợ lãi hàng năm là 3.000USD thì hệ số trả lãi
định kỳ hàng năm là 2,67 hay nói cách khác, thu nhập cao gấp 2,7 lần chi phí trả lãi

Tỷ lệ trả lãi thấp cho thấy một tình trạng nguy hiểm, suy giảm trong hoạt động kinh tế có thể
làm giảm EBIT xuống dưới mức nợ lãi mà Cty này được hạn chế bởi thực tế EBIT không phải
là nguồn duy nhất để thanh toán lãi. Các Cty cũng có thể tạo ra nguồn tiền mặt từ khấu hao và
có thể sử dụng nguồn vốn đó để trả nợ lãi. Những gì mà một Cty cần phải đạt tới là tạo ra một
độ an toàn hợp lý, bảo đảm khả năng thanh toán cho các chủ nợ của mình. Chỉ riêng hệ số
thu nhập trả lãi định kỳ thì chưa đủ để đánh giá một Cty vì hệ số này chưa đề cập đến các
khoản thanh toán cố định khác như tiền nợ gốc, chi phí tiền thuê và chi phí cổ tức ưu đãi
SAFC – CLB chứng khoán Tp.HCM và Bạn www.safc.com.vn

Tình trạng nợ nần của Cty: Hệ số trang trải chung. Do Hệ số thu nhập trả lãi định
kỳ chưa đủ để đánh giá.

Các nguồn thu tiền mặt

Hệ số trang trải chung =
+ + + + +

Tất cả chi phí trong mẫu số của hệ số này là cố định và đều phải được cân nhắc. rõ ràng, một
Cty và các nhà đầu tư của Cty muốn có hệ số trang trải chung cao nhất, nhưng điều này phụ
thuộc một phần vào khả năng sinh lãi của Cty.

Khi các hệ số nợ lớn quá mức, Cty có thể nhận thấy chi phí vốn của mình tăng lên. Giá trị các
cổ phiếu của Cty cũng có thể giảm xuống tương ứng với mức độ rủi ro của Cty tăng lên. Do
đó, các nhà quản lý tài chính phải thận trọng để tránh tình trạng nợ trầm trọng trong cơ cấu

có thể không có lợi cho Cty về lâu dài.

1. Tăng doanh thu (DT) thông qua các chính sách giá và tín dụng
Một biện pháp các doanh nghiệp thường sủ dụng để tăng LN khi thấy có nguy cơ không đạt kế hoạch đặt ra là
giảm giá bán hoặc nới lỏng các điều kiện tín dụng nhằm tăng lượng hàng bán ra trong những tháng cuối năm
tài chính. Biện pháp thứ hai là công bố kế hoạch tăng giá bán đầu năm sau. Ví dụ, để tăng LN Quí IV/2007,
một Cty sản xuất ôtô có thể công bố kế hoạch tăng giá bán từ Quí I/2008, lập tức DT Quí IV/2007 sẽ tưng vọt.
Hai biện pháp này cho phép Cty tăng LN trong năm hiện tại, nhưng sẽ bị giảm vào các năm sau, vì thực chất
Cty đã chuyển LN của năm sau sang năm hiện tại. Mặt khác, tăng giá bán năm sau còn làm giảm khả năng
cạnh tranh của Cty trên thị trường.
2. Cắt giảm chi phí hữu ích
Cắt giảm chi phí hữu ích như chi phí nghiên cứu và phát triển (R&D), chi phí quảng cáo, chi phí duy tu, bảo
dưỡng thiết bị cũng là cũng là một cách có thể làm tăng LN. Tuy nhiên, vì các chi phí này có vai trò cực kỳ
quan trọng đối với sự phát triển của Cty về lâu dài, nên sử dụng giải pháp này cũng đồng nghĩa với việc hy
sinh các khoản LN tiềm năng trong tương lai.
SAFC – CLB chứng khoán Tp.HCM và Bạn www.safc.com.vn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status