BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TẮT
TTCK: Thị trường chứng khoán
UBCKNN: Uỷ ban chứng khoán Nhà nước
SGD: Sở giao dịch
TTGDCK: Trung tâm giao dịch chứng khoán
CTCK: Công ty chứng khoán
ĐTCK: Đầu tư chứng khoán
PTCB: Phân tích cơ bản
NĐT: Nhà đầu tư
DN: Doanh nghiệp
MỞ ĐẦU
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
TTCK Việt Nam với lịch sử ra đời và phát triển 8 năm có thể nói là một thị
trường còn khá non trẻ. Tuy nhiên, với tuổi đời non trẻ như vậy nhưng TTCK Việt
Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ với tốc độ cao (đặc biệt là trong giai
đoạn 2006 – 2007), và ĐTCK đã thực sự trở thành một trong những kênh đầu tư
quan trọng và hấp dẫn đối với các nhà đầu tư. Ngày nay, thuật ngữ chứng khoán
và TTCK đã trở nên gần gũi đối với nhiều người dân Việt Nam, từ nhân viên văn
phòng cho đến những người buôn bán nhỏ. Điều này là một thành quả rất đáng tự
hào, là một điểm nhấn tốt đẹp đóng góp vào quá trình phát triển kinh tế chung của
đất nước.
Tuy nhiên, bên cạnh đó hoạt động ĐTCK ở Việt Nam tồn tại rất nhiều hạn
chế cần phải khắc phục, tiềm ẩn nguy cơ rủi ro cao, và bị chi phối bởi yếu tố tâm
lý đám đông, hay nói một cách khác việc vận dụng những kết luận từ hoạt động
phân tích chứng khoán nói chung, PTCB nói riêng trong ĐTCK ở Việt Nam chưa
được coi trọng, chính vì vậy công tác PTCB chứng khoán ở Việt Nam còn nhiều
hạn chế, và do vậy nó có tác động ngược trở lại làm cho những kết luận mà PTCB
đưa ra chưa thực sự khách quan và khoa học, do vậy chưa hỗ trợ cho hoạt động
ĐTCK hiệu quả hơn.
- Chương 1: Lý luận chung về PTCB trong ĐTCK
- Chương 2: Thực trạng hoạt động PTCB trong ĐTCK ở Việt Nam.
- Chương 3: Hoàn thiện phương pháp PTCB trong ĐTCK ở Việt Nam
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCHCƠ BẢN TRONG ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN
CƠ BẢN TRONG ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN
1.1. Tổng quan về chứng khoán và TTCK
1.1.1. Chứng khoán
Chứng khoán là hàng hoá của TTCK. Đó là những tài sản tài chính vì nó
mang lại thu nhập và khi cần người sở hữu nó có thể bán nó để thu tiền về. Theo
sự phát triển của thị trường, hàng hoá ngày càng phong phú và đa dạng, nhưng tựu
chung lại, người ta thường phân chia chứng khoán thành cổ phiếu, trái phiếu,
chứng chỉ quỹ đầu tư, các công cụ chuyển đổi và các công cụ phái sinh.
1.1.1.1. Cổ phiếu
Cổ phiếu là một loại chứng khoán được phát hành dưới dạng chứng chỉ
hoặc bút toán ghi sổ, xác nhận quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp của người sở hữu
cổ phiếu đối với tài sản hoặc vốn của một công ty cổ phần. Cổ phiếu là công cụ
không có thời hạn. Theo tính chất của các quyền lợi mà cổ phiếu mang lại cho cổ
đông, có hai loại cổ phiếu cơ bản là cổ phiếu phổ thông và cổ phiếu ưu đãi.
1.1.1.2. Trái phiếu
Trái phiếu là một loại chứng khoán quy định nghĩa vụ của người phát hành
(người vay tiền) phải trả cho người nắm giữ chứng khoán (người cho vay) một
khoản tiền xác định, thường là trong những khoảng thời gian cụ thể, và phải hoàn
trả khoản cho vay ban đầu khi nó đáo hạn.
1.1.1.3. Chứng chỉ quỹ đầu tư
Quỹ ĐTCK là quỹ hình thành từ vốn góp của người đầu tư để đầu tư vào
các chứng khoán. Chứng chỉ quỹ đầu tư là loại chứng khoán xác nhận quyền sở
hàng hoá cơ sở này có thể là cổ phiếu, chỉ số cổ phiếu, trái phiếu, chỉ số trái phiếu,
thương phẩm, đồng tiền hay hợp đồng tương lai.
1.1.2. Những vấn đề chung của TTCK
1.1.2.1. Sơ lược về lịch sử hình thành và phát triển TTCK
Hình thức sơ khai của TTCK đã xuất hiện vào khoảng thế kỷ XV, ở các
thành phố trung tâm thương mại của các nước phương Tây, trong các chợ phiên
hay hội chợ, các thương gia thường tụ tập tại các quán cà phê để thương lượng
mua bán, trao đổi hàng hoá. Đặc điểm của hoạt động này là các thương gia chỉ
trao đổi bằng lời nói với nhau về các hợp đồng mua bán mà không có sự xuất hiện
của bất cứ hàng hoá, giấy tờ nào. Đến cuối thế kỷ XV, khu chợ riêng đã trở thành
thị trường hoạt động thường xuyên với những quy ước xác định cho các cuộc
thương lượng. Những quy ước này dần trở thành các quy tắc có tính chất bắt buộc
đối với các thành viên tham gia.
Buổi họp đầu tiên diễn ra năm 1453 tại một lữ quán của gia đình Vanber tại
thành phố Bruges (Bỉ). Trước lữ quán có một bảng hiệu vẽ hình ba túi da và chữ
Bourse. Ba túi da tượng trưng cho ba nội dung của thị trường: Thị trường hàng
hoá; Thị trường ngoại tệ và TTCK động sản; còn chữ Bourse có nghĩa là “mậu
dịch thị trường” hay còn gọi là “nơi buôn bán chứng khoán”. Đến năm 1547, thị
trường ở thành phố Bruges bị sụp đổ do cửa biển Evin – nơi dẫn các tàu thuyền
vào buôn bán tại thành phố, bị cát biển lấp mất.
Đến năm 1531, thị trường này đã được dời tới thành phố cảng Anvers (Bỉ),
từ đó, thị trường này phát triển nhanh chóng. Đến thế kỷ XVIII, một thị trường
như vậy cũng được thành lập ở London (Anh) và sau đó là một loạt thị trường tại
Pháp, Đức, Ý, một số nước Bắc Âu và Mỹ cũng được thành lập. Tuy nhiên, sau
một thời gian hoạt động, thị trường đã chứng tỏ khả năng không đáp ứng được yêu
cầu của cả ba giao dịch khác nhau. Vì thế, thị trường hàng hoá được tách ra thành
các khu thương mại, thị trường ngoại tệ được tách ra và phát triển thành thị trường
hối đoái. TTCK động sản trở thành TTCK. Như vậy, TTCK được hình thành cùng
với thị trường hàng hoá và thị trường hối đoái.
Quá trình phát triển của TTCK đã trải qua nhiều bước thăng trầm. Lịch sử
Các chủ thể tham gia trên TTCK gồm có: chủ thể phát hành (bao gồm
Chính phủ, các DN, và một số tổ chức khác như: các Quỹ đầu tư, tổ chức tài chính
trung gian…); NĐT (là những người có tiền, thực hiện việc mua và bán chứng
khoán trên TTCK để tìm kiếm lợi nhuận, bao gồm NĐT cá nhân và NĐT có tổ
chức) các tổ chức có liên quan đến TTCK (như cơ quan quản lý và giám sát hoạt
động TTCK, SGD chứng khoán, hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán, tổ
chức lưu ký và thanh toán bù trừ chứng khoán, các tổ chức hỗ trợ, các công ty
đánh giá hệ số tín nhiệm).
TTCK hoạt động dựa trên một số các nguyên tắc cơ bản đó là nguyên tắc
công khai (nguyên tắc này phải thoả mãn yêu cầu về thông tin chính xác, kịp thời,
dễ tiếp cận), nguyên tắc trung gian (trên TTCK các giao dịch được thực hiện thông
qua các tổ chức trung gian là các CTCK), nguyên tắc đấu giá (mọi việc mua bán
chứng khoán trên TTCK đều hoạt động trên nguyên tắc đấu giá, và do mối cung
cầu trên thị trường quyết định).
1.1.2.3. Vị trí của TTCK trong thị trường tài chính
TTCK là một bộ phận của thị trường tài chính. Vị trí của TTCK trong tổng
thể thị trường tài chính thể hiện:
Một là: TTCK là hình ảnh đặc trưng của thị trường vốn
Thời gian đáo hạn 1 năm t
Như vậy, trên TTCK giao dịch 2 loại công cụ tài chính: công cụ tài chính
trên thị trường vốn và công cụ tài chính trên thị trường tiền tệ.
Hai là, TTCK là hạt nhân trung tâm của thị trường tài chính, nơi diễn ra quá
trình phát hành, mua bán các công cụ Nợ và công cụ Vốn (các công cụ sở hữu)
Thị trường tiền tệ …Thị trường vốn……..
……………………………
……………………………
……………
……………………………
……………………………
……………
việc NĐT mua các chứng khoán mới phát hành.
Thị trường thứ cấp: là nơi giao dịch các chứng khoán đã phát hành trên thị
trường sơ cấp. Thị trường thứ cấp đảm bảo tính thanh khoản cho các chứng khoán
đã phát hành.
- Theo hình thức tổ chức của thị trường, TTCK được phân thành: thị trường
tập trung (SGD chứng khoán) và thị trường phi tập trung (thị trường OTC).
Tại SGD chứng khoán, người mua và người bán (hoặc đại lý, môi giới của
họ) gặp nhau tại một địa điểm nhất định để tiến hành giao dịch mua bán, trao đổi
chứng khoán. SGD chứng khoán được quản lý chặt chẽ bởi Uỷ ban chứng khoán
quốc gia, các giao dịch chịu sự điều chỉnh của Luật chứng khoán và TTCK.
Thị trường giao dịch qua quầy hay thị trường giao dịch phi tập trung (OTC)
là thị trường của các nhà buôn, những người tạo thị trường. Các nhà buôn có một
danh mục chứng khoán và họ sẵn sàng mua và bán với các nhà buôn khác cũng
như các NĐT khi những người này chấp nhận giá cả của họ. Ở thị trường này
không có địa điểm giao dịch chính thức mà có thể diễn ra ở tất cả các quầy, sàn
giao dịch của các thành viên thông qua điện thoại hay mạng máy tính diện rộng.
Ngoài hai loại thị trường nêu trên, người ta còn nói đến thị trường thứ ba,
thị trường tự do dành cho các chứng khoán không đủ tiêu chuẩn để giao dịch trên
thị trường tập trung và thị trường OTC. Ngoải ra, người ta còn phân loại TTCK
thành thị trường đàm phán và thị trường mở, thị trường giao ngay và thị trường kỳ
hạn.
1.2. Đầu tư chứng khoán
1.2.1. Khái quát chung về đầu tư
Đầu tư nói chung là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các
hoạt động nào đó nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các
nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó. Như vậy, mục tiêu của mọi công
cuộc đầu tư là đạt được các kết quả lớn hơn so với những hy sinh về nguồn lực mà
người đầu tư phải gánh chịu khi tiến hành đầu tư. Nguồn lực phải hy sinh có thể là
tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động và trí tuệ. Những kết quả sẽ đạt
được có thể là sự tăng thêm các tài sản tài chính (tiền vốn), tài sản vật chất (nhà
mục đầu tư rất đa dạng, bao gồm cả các công cụ trên thị trường tiền tệ và các công
cụ trên thị trường vốn.
Mục đích của ĐTCK trước hết là nhằm thu được lợi nhuận từ số tiền đầu tư
đã bỏ ra. Tiếp đến mục đích của ĐTCK là để phân tán rủi ro có thể gặp trong
tương lai nhờ đa dạng hoá các hình thức đầu tư, và để thực hiện quyền kiểm soát
hoặc tham gia quản trị DN với tư cách người nắm cổ phần, vốn góp chi phối. Các
mục đích có thể khác nhau tuỳ theo ý định của từng NĐT, song cũng có thể là
tổng hợp các mục tiêu trên trong những tình huống cụ thể.
1.2.3. Phân loại ĐTCK
Tuỳ theo mục đích quản lý, hoạt động ĐTCK có thể được phân loại theo
nhiều cách khác nhau.
Căn cứ vào loại công cụ đầu tư, có thể phân loại ĐTCK thành đầu tư trái
phiếu Chính phủ, đầu tư trái phiếu DN và đầu tư cổ phiếu. Việc phân loại này có
thể giúp các nhà quản lý xây dựng danh mục đầu tư với mức độ rủi ro phù hợp,
trên cơ sở đó, dễ dàng thay đổi kết cấu danh mục đầu tư.
Nếu phân loại theo mục đích đầu tư, có thể phân loại ĐTCK thành đầu tư
nhằm hưởng lợi tức và đầu tư nhằm nắm quyền quản lý, kiểm soát tổ chức phát
hành. Trong hoạt động đầu tư nhằm hưởng lợi tức, NĐT có thể mua trái phiếu
Chính phủ, trái phiếu và cổ phiếu do DN phát hành. Khi ĐTCK với mục đích nắm
quyền sở hữu, NĐT có thể vừa đa dạng hoá tài sản, vừa phát triển lĩnh vực kinh
doanh mới thông qua thâu tóm và sáp nhập. Việc phân loại này giúp nhà quản lý
có thể kiểm soát được hoạt động đầu tư theo các mục đích đã được xác định.
Căn cứ theo phương thức đầu tư, ĐTCK được phân thành đầu tư trực tiếp
và đầu tư gián tiếp. Đầu tư trực tiếp là hình thức NĐT trực tiếp mua chứng khoán
cho mình thông qua các nhà môi giới chứng khoán trên thị trường. Đầu tư gián
tiếp là hình thức các NĐT chứng khoán thông qua các định chế, tổ chức đầu tư
chuyên nghiệp như Quỹ ĐTCK, Quỹ tín thác đầu tư…để thực hiện hoạt động đầu
tư cho mình.
1.2.4. Mức sinh lời và rủi ro trong ĐTCK
Giống như các hình thức đầu tư khác, ĐTCK cũng gắn liền với rủi ro. Lý
Rủi ro thị trường: là rủi ro do sự biến động của giá cả chứng khoán trên thị
trường. Đó là kết quả của những hiệu ứng về tương quan giữa cung và cầu của các
loại chứng khoán trên thị trường. Nguyên nhân của những biến động giá cả chứng
khoán thường rất phức tạp, có thể cả những sự kiện hữu hình hoặc vô hình, cả
những yếu tố bên trong hoặc ngoài DN. Sự đánh giá khác nhau của các NĐT về
mức sinh lời của một loại chứng khoán nào đó được giao dịch trên thị trường cũng
có thể gây nên hiệu ứng dây chuyền (hiệu ứng Đôminô) đối với giá cả của các loại
chứng khoán khác, làm cho giá chứng khoán trên thị trường nói chung bị sụt giảm.
Rủi ro sức mua (rủi ro lạm phát): là loại rủi ro do giảm sút sức mua của
đồng tiền. NĐT nắm giữ chứng khoán mặc dù có khả năng thu được lợi nhuận
trong tương lai nhưng họ lại mất đi cơ hội mua sắm các loại hàng hoá, dịch vụ
trong thời hạn nắm giữ chứng khoán. Nếu trong khoảng thời gian đó giá cả hàng
hoá dịch vụ tăng lên do yếu tố lạm phát, họ sẽ mất đi một phần sức mua từ số thu
nhập có được trong tương lai. Giá trị phần sức mua bị giảm sút do lạm phát phản
ánh mức rủi ro sức mua của NĐT chứng khoán.
Rủi ro tỷ giá: là rủi ro do tác động của tỷ giá đối với khoản đầu tư. Khi NĐT
cho rằng đồng nội tệ có thể bị giảm giá trong tương lai thì NĐT đó sẽ quyết định
không đầu tư vào chứng khoán hoặc sẽ tìm cách thay thế chứng khoán bằng tài
sản ngoại tệ vì khi đó giá trị chứng khoán sẽ bị sụt giảm.
- Rủi ro không hệ thống: là những rủi ro có nguyên nhân từ nội tại của một
công ty hoặc một ngành kinh doanh cụ thể mà không gắn liền với toàn bộ thị
trường. Ảnh hưởng của các rủi ro không hệ thống vì thế chỉ tác động trong phạm
vi một công ty, một ngành hay một số loại chứng khoán nhất định. Rủi ro không
hệ thống thường bao gồm các loại như: rủi ro kinh doanh, rủi ro tài chính, rủi ro
quản lý…trong hoạt động của một công ty hoặc một ngành kinh doanh nhất định.
Rủi ro kinh doanh: là rủi ro do sự thay đổi bất lợi về tình hình cung cầu
hàng hoá hay dịch vụ của DN hay là sự thay đổi bất lợi môi trường kinh doanh của
DN.
Rủi ro tài chính: là rủi ro về khả năng thanh toán trái tức, cổ tức và hoàn
vốn cho người sở hữu chứng khoán. Rủi ro tài chính liên quan đến sự mất cân đối
xét đến khi lựa chọn quyết định ĐTCK. Quyền hạn và lợi ích của NĐT chứng
khoán thường được tăng thêm theo mức độ nắm giữ cổ phần của DN. Vì vậy, khi
ĐTCK họ cũng cần cân nhắc quy mô đầu tư sao cho có thể đạt được mục đích
kiểm soát, chi phối hoạt động của DN, hỗ trợ cho việc thực hiện mục tiêu tối đa
hoá lợi nhuận.
1.2.6. Quy trình ĐTCK
Quy trình ĐTCK sẽ có những sự khác biệt nhất định nếu NĐT chứng khoán
lựa chọn các phương thức ĐTCK khác nhau, về cơ bản bao gồm các bước sau:
- Phân tích và lựa chọn danh mục ĐTCK: Việc ĐTCK thường bắt đầu bằng
việc phân tích và lựa chọn danh mục ĐTCK tối ưu sao cho vừa có thể đem lại tỷ
suất sinh lời cao, đồng thời hạn chế tối đa các rủi ro đầu tư có thể gặp phải. Nội
dung phân tích sẽ xem xét, đánh giá mức độ sinh lời và khả năng rủi ro có thể gặp
phải trong ĐTCK sẽ lựa chọn. Do các chứng khoán có mức sinh lời cao thường
gắn với độ rủi ro cao, vì thế đa dạng hoá danh mục ĐTCK là cách mà các NĐT
hay lựa chọn để phân tán rủi ro và tối đa hoá thu nhập ĐTCK. Hình thức đa dạng
hoá ĐTCK có thể là đầu tư vào chứng khoán của nhiều DN trong các ngành nghề,
lĩnh vực kinh doanh khác nhau, kết hợp giữa đầu tư cổ phiếu và đầu tư trái phiếu
với những kỳ hạn thanh toán đa dạng để tăng khả năng thanh khoản của chứng
khoán. Việc lựa chọn một danh mục ĐTCK cụ thể sẽ tuỳ thuộc vào chiến lược
ĐTCK của từng NĐT riêng biệt.
- Quản lý danh mục ĐTCK: Hoạt động ĐTCK không chỉ dừng lại ở chỗ lựa
chọn được danh mục ĐTCK mà còn ở chỗ quản lý, điều chỉnh danh mục đầu tư
trong suốt thời gian nắm giữ chứng khoán phù hợp với những diễn biến cụ thể của
thị trường. Người ta thường phân biệt thành hai phương pháp quản lý chủ yếu là
quản lý thu động và quản lý chủ động.
Đặc trưng cơ bản của phương pháp quản lý thụ động là việc NĐT chọn mua
và nắm giữ các chứng khoán cho đến khi đáo hạn mà không quá chú trọng đến
việc phân tích, dự báo những ảnh hưởng của sự biến động của lãi suất thị trường.
Theo đó, danh mục ĐTCK tốt nhất sẽ là danh mục đầu tư có thể đem lại mức thu
nhập ngang bằng với mức doanh lợi đầu tư trung bình trên thị trường. Phương
trường kinh doanh bên ngoài là tình hình hoạt động của ngành hoặc nền kinh tế.
Trong hoạt động ĐTCK có hai phương pháp phân tích chủ yếu được sử
dụng là phương pháp PTCB (phân tích tài chính) và phân tích kỹ thuật. PTCB
giúp cho NĐT có thể lựa chọn kết cấu danh mục đầu tư phù hợp. Phân tích kỹ
thuật giúp cho các nhà quản lý có thể lựa chọn được thời điểm và chiến lược mua
bán chứng khoán tuỳ theo diễn biến của thị trường.
1.3.1.Khái niệm và mục tiêu của PTCB
PTCB là phương pháp nghiên cứu các thông tin về tình hình kinh tế xã hội,
tình hình kinh doanh của ngành, các thông tin tài chính công ty như cổ tức, lợi
nhuận, báo cáo thu nhập, bảng cân đối kế toán...nhằm xác định một giá trị hợp lý
của một loại chứng khoán hoặc các chứng khoán trên thị trường.
Khi người đầu tư mua một loại chứng khoán trên thị trường sơ cấp hay thị
trường thứ cấp với ý định nắm giữ lâu dài đều muốn biết rằng giá chứng khoán mà
người ta chào bán cho mình có hợp lý hay không, tức là có phù hợp với giá trị của
công ty phát hành ra chứng khoán đó hay không. Muốn vậy, phải tiến hành PTCB
để tìm ra giá trị nội tại của chứng khoán.
1.3.2. Nội dung phương pháp PTCB
1.3.2.1. Phân tích kinh tế vĩ mô
Môi trường kinh tế vĩ mô có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của TTCK
và hiệu quả hoạt động của DN, vì thế trước phân tích các yếu tố thuộc bản thân
DN, cần đánh giá đúng các ảnh hưởng của các nhân tố bên ngoài đến hiệu quả
hoạt động của TTCK và giá cả chứng khoán của DN như thế nào. Việc phân tích
kinh tế vĩ mô nhằm mục đích đánh giá đúng thực trạng phát triển kinh tế - xã hội
của đất nước và tác động của nó đến sự phát triển của TTCK, từ đó có các giải
pháp phù hợp thúc đẩy sự phát triển của thị trường.
- Phân tích tình hình kinh tế - chính trị - xã hội quốc tế:
Ngày nay hợp tác, mở cửa, và hội nhập kinh tế đã trở thành một xu thế tất
yếu trong phát triển kinh tế của mỗi nước, do đó nền kinh tế quốc tế có ảnh hưởng
mạnh mẽ đến tình hình sản xuất kinh doanh của DN và của quốc gia, có những tác
động trực tiếp đến hoạt động của TTCK, vì vậy yếu tố quốc tế cần được xem xét
pháp lý cần được xem xét trên các mặt như: tính hệ thống, đồng bộ, ổn định, minh
bạch, khả thi và hiệu quả của hệ thống pháp luật cũng như tính quốc tế của hệ
thống pháp luật.
- Phân tích và dự đoán về xu hướng thị trường:
Môi trường kinh tế vĩ mô có vai trò quan trọng, quyết định xu thế chung của
TTCK. Thông thường, khi nền kinh tế đang ở giai đoạn tăng trưởng và thịnh
vượng thì TTCK phát triển và ngược lại khi nền kinh tế ở giai đoạn suy giảm, suy
thoái và khủng hoảng thì thị trường sẽ đi xuống. Như vậy, nếu dự đoán được xu
hướng phát triển của nền kinh tế thì ta có thể dự báo được xu thế phát triển chung
của TTCK. Tuy nhiên, trong một số hoàn cảnh đặc biệt, diễn biến chung của
TTCK với tình hình kinh tế không phải lúc nào cũng diễn ra cùng chiều.
Biến động giá cổ phiếu đôi khi xảy ra trước biến động của nền kinh tế. Vì
vậy, các NĐT luôn cố gắng dự đoán tình hình kinh tế để tìm ra những đỉnh điểm
của chu kỳ kinh tế và chọn thời cơ tham gia hoặc rút lui khỏi TTCK.
- Phân tích ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế vĩ mô:
Các điều kiện kinh tế vĩ mô của nền kinh tế có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt
động của DN và TTCK do có liên quan trực tiếp đến mức rủi ro hệ thống trên thị
trường. Các yếu tố vĩ mô cần quan tâm trong phân tích chứng khoán là: tổng sản
phẩm quốc nội; tỷ lệ thất nghiệp; tỷ lệ lạm phát; lãi suất; cân đối thu chi ngân sách
Nhà nước. Tuy nhiên, ba nhân tố vĩ mô cơ bản tác động trực tiếp đến hoạt động
đầu tư trên thị trường chứng khoàn đó là: tỷ giá hối đoái, lãi suất và tỷ lệ lạm phát.
1.3.2.2. Phân tích ngành
Mục đích của phân tích ngành là nhằm giúp cho NĐT thấy rõ những lợi ích
hoặc rủi ro có thể gặp khi quyết định đầu tư vào chứng khoán của một DN hoạt
động trong một ngành kinh doanh cụ thể. Những nội dung cần thực hiện trong
phân tích ngành bao gồm: phân tích chu kỳ kinh doanh của ngành, đánh giá mức
độ rủi ro của ngành.
- Phân tích chu kỳ kinh doanh của ngành:
Mỗi ngành kinh doanh cũng có những chu kỳ phát triển nhất định. Giữa chu
kỳ phát triển của nền kinh tế và của ngành có mối quan hệ mật thiết, tác động qua