LUẬN VĂN:
Nâng cao khả năng hội nhập của
nền kinh tế Việt Nam trong xu thế
toàn cầu hoá lời mở đầu
Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang trở thành một trong những
xu thế khách quan của sự phát triển kinh tế thế giới. Sự phát triển mạnh mẽ về khoa
toàn cầu hoá". Nội dung của báo cáo được trình bày trong 3 chương
Chương I: Khái quát về toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế. Những kinh nghiệm
thực tiễn về nâng cao khả năng hội nhập của một số nước trong quá
trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Chương II: Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam. Những vấn đề đặt
ra.
Chương III: Mục tiêu, phương hướng và những giải pháp cơ bản nhằm nâng cao
khả năng hội nhập kinh tế quốc tế của nền kinh tế Việt Nam.
chương i
khái quát về toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế và kinh nghiệm thực tiễn về nâng cao
khả năng hội nhập của một số nước trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
I. nhận thức về toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế.
1. Nhận thức chung về toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế .
a) Toàn cầu hoá.
Ngày nay toàn cầu hoá mà trước hết và về thực chất là toàn cầu hoá kinh tế
đang trở thành một xu thế chủ yếu của quan hệ kinh tế hiện đại. Hiện nay tuy có rất
nhiều những quan niệm không giống nhau về toàn cầu hoá kinh tế nhưng có thể thấy
nét chung nhất là thừa nhận mối quan hệ qua lại của các hoạt động kinh tế hiện nay đã
bao trùm gần như tất cả các nước, mang tính toàn cầu. Có thể hiểu toàn cầu hoá kinh
tế là quá trình phát triển kinh tế của các nước trên thế giới vượt qua khỏi biên giới quốc
gia, hướng tới phạm vi toàn cầu trên cơ sở lực lượng sản xuất cũng như trình độ khoa
học kỹ thuật mạnh mẽ và sự phân công hợp tác quốc tế ngày càng sâu rộng, tính chất
xã hội hoá của sản xuất ngày càng tăng.
Mặc dù vậy, toàn cầu hoá kinh tế vẫn ở trong giai đoạn đầu. Lĩnh vực the chốt
hợp tác toàn cầu hoá kinh tế vẫn chỉ là mậu dịch, tự do lưu thông nguồn vốn và sức lao
động còn là vấn đề trong tương lai.
giải quyết tranh chấp của các thể chế hội nhập để bảo vệ lợi ích chính đáng của mình.
- Tăng cường thông tin, tuyên truyền, giải thích để giới kinh doanh nhận thức
sâu sắc và ủng hộ hội nhập, chuẩn bị tốt mọi mặt để chủ động hội nhập từng bước,
tận dụng những lợi thế so sánh của mỗi nước để cạnh tranh chiếm lĩnh thị trường.
Nhận thức đúng về hội nhập và toàn cầu hoá kinh tế đối với các nước có ý
nghĩa quan trọng trong việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách và giải
pháp để chủ động hội nhập và tham gia giải quyết các vấn đề mang tính toàn cầu
nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội.
2. Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế, thời cơ và thách thức.
a) Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế : Những lợi ích.
Toàn cầu hoá là xu hướng tất yếu của quá trình tập trung, chuyên môn sản
xuất và phân công lao động quốc tế. Khi nền kinh tế thế giới phát triển thành một thị
trường thống nhất thì không một quốc gia nào có thể đứng ngoài tiến trình này mà có
thể tồn tại và phát triển được.
Toàn cầu hoá kinh tế thúc đẩy rất mạnh, nhanh sự phát triển và xã hội hoá lực
lượng sản xuất, đưa tốc độ tăng trưởng kinh tế cao. Toàn cầu hoá kinh tế góp phần
làm chuyển biến cơ cấu kinh tế thế giới, đặc biệt làm tăng mạnh tỷ trọng hàng chế
tác (chiếm 21,4%) và các dịch vụ (62,4%) trong cơ cấu kinh tế thế giới.
Toàn cầu hoá và khu vực hoá được thể hiện rõ trong sự hình thành và gia tăng
rất nhanh trao đổi quốc tế về hàng hoá, dịch vụ, tài chính và các yếu tố sản xuất,
được thể hiện qua sự hình thành và củng cố của các tổ chức kinh tế quốc tế và khu
vực.
Toàn cầu hoá làm tăng thêm sự phụ thuộc và tác động lẫn nhau giữa các nền
kinh tế các nước. Toàn cầu hoá kinh tế làm cho kinh tế ở mỗi nước có thể trở thành
bộ phận của các tổng thể, hình thành cục diện kinh tế thế giới mới. Toàn cầu hoá
kinh tế cũng làm giảm thiểu các chướng ngại trong việc lưu chuyển vốn, hàng hoá,
dịch vụ, nguồn nhân lực… giữa các nền kinh tế các nước, làm tăng vai trò kinh tế đối
dòng vốn chảy mạnh hơn và tất yếu rủi ro sẽ lớn hơn.
- Khi tham gia vào các tổ chức kinh tế quốc tế, các nước nhất là các nước đang
phát triển phải giảm dần thuế quan và bỏ hàng rào phi thuế quan, nghĩa là bỏ hàng rào
mậu dịch, thì các hàng hoá dịch vụ nước ngoài sẽ ồ ạt đổ vào, bóp chết hoạt động sản
xuất kinh doanh trong nước.
- Quá trình toàn cầu hoá phát triển đã làm tan vỡ các hàng rào bảo hộ của các
quốc gia. Do vậy các quốc gia không chỉ chịu tác động tích cực của quá trình này mà
còn phải chịu cả những chấn động của hệ thống kinh tế toàn cầu trong các lĩnh vực
tiền tệ, tài chính, nguyên nhiên liệu… Các nước càng yếu kém, các chính sách kinh
tế vĩ mô càng không đủ thông thoáng phù hợp với các định chế quốc tế, hệ thống
ngân hàng - tài chính càng lạc hậu… thì càng chịu tác động nặng nề hơn.
- Nguy cơ tụt hậu của một số quốc gia. Trong quá trình hội nhập một số quốc
gia tranh thủ được lợi ích của hội nhập mậu dịch quốc tế và thị trường tài chính quốc
tế, phát huy được lợi thế so sánh, nhờ đó thúc đẩy tăng trưởng mở rộng thương mại,
thu hẹp dần khoảng cách với các nước phát triển thì một số nước khác lại không có
khả năng hội nhập vào quá trình phát triển thương mại, thu hút vốn đầu tư tất yếu sẽ
bị đẩy lùi xa hơn nữa về phía sau.
- Mối đe doạ của quá trình toàn cầu hoá là xu hướng hình thành thế độc
quyền, tập trung quyền lực vào một số tập đoàn đầu sỏ quốc tế.
- Quá trình toàn cầu hoá phát triển không chỉ có các lực lượng kinh tế tiến bộ
tham gia vào quá trình này mà còn có cả các thế lực phản động, các tổ chức khủng
bố… Chính sách đúng đắn là phải ngăn chặn, chống lại mọi hoạt động phá hoại.
Nhưng không thể vì nó mà đóng cửa đất nước hay hạn chế sự hội nhập của đất nước
vào quá trình toàn cầu hoá.
Ngoài ra còn có những mặt tiêu cực khác nữa như sự chênh lệch về trình độ
giữa nước giàu và nước nghèo có thể tăng lên, sự xung đột giữa các nền văn học…
Quá trình toàn cầuhoá và hội nhập kinh tế quốc tế đem đến cho các nước
đầu vào quá trình hội nhập và đang chuyển sang kinh tế thị trường.
Trong nội bộ các nước đều có cuộc đấu tranh gay gắt về chính sách giữa xu
hướng bảo hộ với xu hướng hội nhạap, giữa lợi ích của người sản xuất và người tiêu
dùng, giữa yêu cầu tăng nguồn thu ngân sách qua thuế nhập khẩu và xu hướng tự do
hoá, thuận lợi hoá mậu dịch.
Theo kinh nghiệm các nước, cuộc đấu tranh nội bộ thường khá gay gắt vì phải
dàn xếp các vấn đề thuộc lợi ích cục bộ và sự phối hợp giữa các ngành trong nước
thường rất khó khăn. Do đó để có được sự cải cách, điều chỉnh chính sách và các vấn
đề kinh tế vĩ mô như giá cả, thuế suất, tỷ giá hối đoái cũng cần phải có quyết tâm
chính trị.
Mỗi thể chế hội nhập đều có chương trình, mục tiêu riêng đòi hỏi các thành
viên phải điều chỉnh chính sách để thực hiện chúng. AFTA đề ra mục tiêu thực hiện
thương mại tự do vào năm 2003. WTO cũng có những thời biểu riêng thực hiện giảm
thuế quan và loại bỏ các biện pháp phi thuế quan
Phải triệt để tận dụng những ưu đãi tương tự mà các thể chế hội nhập quy định
để có thể từng bước điều chỉnh chính sách và các vấn đề kinh tế vĩ mô cho phù hợp
và hiệu quả, tránh gây khó khăn hoặc làm mất ổn định nền kinh tế.
Về phương tiện vĩ mô cần phải đảm bảo sự cân bằng hài hoà về 3 mối quan
hệ: giữa quyền lợi và nghĩa vụ của một nước trong các thể chế hội nhập; giữa mục
tiêu kinh tế - xã hội trong nước với những yêu cầu và đòi hỏi của bên ngoài; giữa các
vấn đề kinh tế và thương mại với các lĩnh vực khác để quá trình hội nhập diễn ra
thuận lợi và hiệu quả.
3. Về vấn đề cải cách luật lệ, quy chế.
Cải cách về luật pháp, quy chế, quy định đều được các nước, kể cả các nước
phát triển coi là một trong những lĩnh vực khó khăn, phức tạp và cần rất nhiều thời
gian, công sức.
Đối với những nước đang chuyển từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung, khép kín
Đồng thời, cần làm cho giới doanh nghiệp nhận rõ và chuyển từ thói quen
“sản xuất những gì mình có thể sản xuất” sang “sản xuất những gì mà thị trường
cần”. Các nước đều nhận thức rõ là thị trường trong nước rất hạn chế, do đó cần
vươn ra thị trường quốc tế, sản xuất các mặt hàng có nhu cầu lớn trên thị trường và
phải tạo mọi điều kiện để chiếm lĩnh thị trường, vì điều đó sẽ quyết định sự tồn tại
của chính mình.
5. Về vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Mỗi nước đều tác động để mở cửa thị trường nước khác cho hàng hoá, dịch vụ
và đầu tư của mình, đồng thời chịu sức ép mở cửa thị trường nội địa. Điều này ảnh
hưởng trực tiếp đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Các nước thường gắn kết
chiến lược phát triển và bước đi của mình với các mục tiêu và lộ trình của các khuôn
khổ hợp tác kinh tế tay đôi, tiểu khu vực, liên châu lục và toàn cầu, sao cho các cam
kết, thoả thuận trong các khuôn khổ hợp tác đó hài hoà, không mâu thuẫn với nhau.
Xây dựng một cơ cấu kinh tế phù hợp, năng động và hiệu quả nhất có thể, với
khả năng thích ứng cao và đứng vững trong cạnh tranh toàn cầu là vấn đề cốt yếu mà
các nước phải phấn đấu trong quá trình hội nhập.
Trong những cố gắng chuyển dịch cơ cấu kinh tế, các nước đều phải cân nhắc
lựa chọn những ngành mình có thế mạnh để mở cửa tham gia cạnh tranh , đồng thời
xác định những ngành và lĩnh vực cần tập trung củng cố để có thể cạnh tranh được
trong tương lai; đồng thời cũng thực hiện những biện pháp bảo hộ hợp pháp và tạm
thời đối với những ngành hiện chưa có khả năng cạnh tranh.
Đối với các nước do khu vực kinh tế Nhà nước tương đối lớn và đang chuyển
sang cơ chế kinh tế thị trường, quá trình hội nhập sẽ tác động mạnh đến các đơn vị
kinh tế quốc doanh, đặt nó trước những thách thức to lớn. Vấn đề ở đây là làm sao
tăng cường được nội lực và sức cạnh tranh của các doanh nghiệp Nhà nước.
6. Về vấn đề đào tạo cán bộ.
Nội dung tham gia của các nước trong các thể chế hội nhập là rất phong phú,
sâu rộng và phức tạp, trong đó có những nội dung đã được các nước thương lượng
vị thế của mình trong đàm phán.
- Tranh thủ sự đào tạo cán bộ chuyên trách về hội nhập và sự hỗ trợ kỹ thuật
của ban thư ký WTO cũng như các thành viên quan trọng của tổ chức này.
8. Đối với Việt Nam, hội nhập là một việc còn mới và có nhiều khó khăn,
phức tạp. Việc tham khảo kinh nghiệm các nước cần được xem xét, tính toán kỹ
lưỡng, phải xuất phát từ trình độ phát triển và điều kiện của Việt Nam là một nước
đang phát triển có thu nhập đầu người rất thấp, đang chuyển sang cơ chế kinh tế thị
trường và bước đầu hội nhập. Cần tận dụng mọi ưu đãi mà các thể chế hội nhập dành
cho một nước có trình độ phát triển và điều kiện tương tự như ta để đảm bảo sự an
toàn và những cơ hội cho phát triển kinh tế. Đồng thời dựa vào những yêu cầu và nội
dung hoạt động của các thể chế hội nhập cũng như luật háp và thực tiễn quốc tế để
vươn mạnh lên, rút ngắn dần khoảng cách về phát triển giữa nước ta với các nước
khác.
chương ii
tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam:
những vấn đề đặt ra
I. Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam.
1. Yêu cầu hội nhập quốc tế.
Việt Nam chúng ta thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trùng với
thời điểm trên thế giới đang diễn ra những thay đổi to lớn về chính trị và kinh tế. Hoà
bình, hợp tác, phát triển ngày càng trở thành đòi hỏi bức xúc của các dân tộc và quốc
gia trên thế giới. Các nước đều ưu tiên phát triển kinh tế, cần có môi trường hoà
bình, ổn định và thực hiện chính sách mở cửa.
Không một quốc gia nào có thể phát triển trong một thế giới ngày càng được
biểu toàn quốc VII (1992) giữ vững và phát huy tinh thần độc lập, tự chủ, xây dựng
một nền kinh tế mở và đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới.
Nguyên tắc hội nhập của Đảng ta là trên cơ sở phát huy nội lực, thực hiện nhất
quán, lâu dài chính sách thu hút các nguồn lực bên ngoài, tích cực và chủ động thâm
nhập và mở rộng thị trường quốc tế, khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho xuất
khẩu. Hội nhập nhưng phải giữ độc lập,tự chủ, tự lực tự cường, bảo đảm an ninh
quốc gia, ổn định chính trị - xã hội, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc và
định hướng xã hội chủ nghĩa.