LUẬN VĂN:
Vai trò kinh tế của Nhà nước
trong nền kinh tế thị trường có sự
quản lý của Nhà nước ở Việt Nam
Phần I
Giới thiệu
Thời kỳ Pháp thuộc (1858 - 1945), Việt Nam được xếp là một trong những
quốc gia có nền kinh tế phát triển thấp kém nhất trên thế giới, đó là một nền kinh
tế què quặt, lạc hậu, sản xuất nhỏ, lẻ, và nông nghiệp là chủ yếu. Nhưng ở thời kỳ
này, với sự xuất hiện của các nhà tư bản Pháp, các Công ty của Pháp, cùng với sự
giao lưu hàng hoá giữa nước Việt Nam thuộc địa với các nước khác thì nền kinh
tế Việt Nam cũng đã được coi là một nền kinh tế hàng hoá ở dạng sơ khai.
Cách mạng Tháng 8 (8/1945) thành công, Nhà nước Việt Nam Dân chủ
sau một thời kỳ dài phát triển điều này đã làm triệt tiêu động lực của mỗi cá
nhân, tính ích kỷ của mỗi cá nhân bắt đầu trổi dậy. Hơn nữa, trong nền kinh tế kế
hoạch hoá tập trung cao độ những qui luật của kinh tế như qui luật cung cầu, qui
luật giá trị, qui luật phân phối bị biến dạng đi, nền kinh tế hàng hoá chỉ tồn tại
trên danh nghĩa, lưu thông hàng hoá bị đình trệ. Chính vì những lý do này mà sau
giai đoạn phát triển rực rỡ (những năm 60 của thế kỷ 20) thì tới những năm cuối
của thập kỷ 70 ở những nước xã hội chủ nghĩa đã có những dấu hiệu chững lại và
đồng thời những tư tưởng về cải cách bắt đầu xuất hiện. Sự xuất hiện những tư
tưởng về cải cách là tất yếu vì trong một nền kinh tế hàng hoá phát triển cao như
vậy trên thế giới nếu vẫn giữ nguyên mô hình cũ thì các nước xã hội chủ nghĩa sẽ
bị bỏ xa trên con đường phát triển và quốc gia đi tiên phong trong vấn đề cải cách
là Trung Quốc. Đảng và Nhà nước ta đã sớm nhận biết được xu hướng phát triển
này và những tư tưởng về cải cách kinh tế đã được đề cấp tới từ Đại hội Đảng
toàn quốc lần thứ V (3/1982) và được chính thức quyết định đưa vào thực tiễn tại
đại hội VI (12/1986), trong các kỳ đại hội VII, VIII tiếp theo vấn đề cải cách tiếp
tục được bổ sung và hoàn thiện. Như vậy việc chuyển đổi nền kinh tế nước ta từ
mô hình kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường là một bước đi đúng
đắn, phản ánh đúng qui luật khách quan và xu thế của thời đại.
Chúng ta khẳng định rằng chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý
của Nhà nước là một tất yếu, nhưng sự quản lý của Nhà nước đối với nền kinh tế
ở mức độ nào, thông qua những công cụ gì là một vấn đề không dễ giải quyết. Trong lịch sử nhân loại có những thời kỳ Nhà nước hầu như không can thiệp vào
nền kinh tế - thời kỳ chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh, hoặc can thiệp rất sâu vào
nền kinh tế như trong mô hình kinh tế tập trung ở các nước xã hội chủ nghĩa hay
ở các nước tư bản chủ nghĩa sau khủng hoảng 1929 - 1933 theo lý thuyết Keynes
nhưng những thành công do chúng mang lại chỉ mang tính lịch sử, nó không là
một mô hình cho sự phát triển bền vững và tới nay các nhà kinh tế thống nhất với
nhau rằng cần thiết có sự quản lý của Nhà nước đối với nền kinh tế trong một cơ
lợi ích của tầng lớp mình họ cần phải có một cái gì đó đủ sức mạnh trấn áp lại sự
chống đối của tầng lớp đối kháng và cái tất yếu phải được tạo ra đấy chính là Nhà
nước. Nhà nước được định nghĩa là: "Nhà nước là một máy cưỡng chế đặc biệt
nằm trong tay giai cấp thống trị, được giai cấp thống trị tạo ra để bảo vệ lợi ích
cho giai cấp mình".
Như vậy Nhà nước chỉ xuất hiện khi xã hội đã phân chia giai cấp mà
nguyên nhân sâu xa đó chính là từ lợi ích kinh tế của mỗi giai cấp trong xã hội.
Ngay từ khi xuất hiện thì Nhà nước, kinh tế đã gắn bó mật thiết và trong quá trình
phát triển của Nhà nước sau này hai mặt này không thể tách với nhau. 1.2. Chức năng của Nhà nước.
Từ lý luận về Nhà nước ta đã thấy Nhà nước là công cụ của giai cấp thống
trị dùng để điều tiết các quan hệ xã hội nhằm bảo vệ lợi ích của giai cấp mình.
Khi đề cập tới chức năng của Nhà nước các nhà nghiên cứu thống nhất rằng Nhà
nước có hai chức năng chính là chức năng đối nội và chức năng đối ngoại.
- Về chức năng đối nội bao gồm hai bộ phận chính là chức năng kinh tế và
chức năng giữ vững an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội, trấn áp sự chống đối
của các giai cấp khác và các âm mưu phản động. Trong hai chức năng này thì
chức năng kinh tế được đưa lên hàng đầu vì nó là cái để cho một Nhà nước có thể
tồn tại và phát triển.
- Chức năng đối ngoại của Nhà nước cũng bao gồm hai chức năng chính là
chức năng bảo vệ tổ quốc và chức năng củng cố mở rộng quan hệ hợp tác hữu
nghị với các nước khác. Trong điều kiện ngay nay chức năng đối ngoại có vị trí
đặc biệt quan trọng.
1.3. Những quan điểm và học thuyết bàn về chức năng kinh tế (vai trò
kinh tế) của Nhà nước.
ở phần lý luận về Nhà nước chúng ta đã thấy chức năng kinh tế là một trong
những chức năng quan trọng của Nhà nước. Vậy chức năng này được quan tâm ở
mức độ nào trong lịch sử. Sự thực trong thời kỳ chiếm hữu nô lệ thì những học
cho các quan lại đã dẫn tới sự hình thành các thái ấp, nhưng chỉ có rất ít ruộng
đất biến thành ruộng đất tư mà phần lớn các ruộng đất vẫn là ruộng đất công
thuộc quyền sở hữu của nhà Vua, người được phong đất chỉ có quyền chiếm giữ
và sử dụng, việc bóc lột của chủ thái ấp vẫn chịu sự không chế cảu Nhà nước
Trung ương. Bên cạnh Nhà nước trung ương đã huy động sức dân tiến hành khai
hoang, đắp đê. Như vậy ngoài đặc điểm chung với các Nhà nước phong kiến
phương Tây, Nhà nước phong kiến Việt Nam ngay từ đầu đã nhận thức rất rõ về
quyền sở hữu và quyền sử dụng ruộng đất nói riêng và của cải nói chung. Do đó,
một mặt Nhà nước trao quyền sử dụng cho quan lại, mặt khác Nhà nước áp dụng
các biện pháp để củng cố quyền sở hữu và kiểm soát được hoạt động của quan
lại. Tuy đã có ý thức kiểm soát hoạt động trong các thái ấp nhưng trên thực tế
Nhà nước trung ương không thể kiểm soát được toàn bộ hoạt động của họ. Năm 1397 Hồ Quý Ly ban hành chính sách "hạn điền" và "hạn nô" với nội
dung là hạn chế ruộng đất cấp cho quan lại và số nô tì mà các quan có thể có
nhằm tránh lãng phí, tập trung sức mạnh kinh tế cho Nhà nước.
Năm 1429, sau khi đánh thắng giặc minh, nhà Lê ban hành chế độ quân
điền và năm 1477 ban hành chế độ lộc điền. Thực chất đây là chính sách xoá bỏ
kinh tế điền trang thái ấp hình thành từ thời nhà Lý. Chế độ Lộc điền là hình thức
cấp lương cho quan lại bằng quyền sử dụng một diện tích ruộng đất nào đó tuỳ
theo cấp bậc, còn Quân điền là chế độ phân phối ruộng đất cho dân tuỳ theo cấp
bậc, còn Quân điền là chế độ phân phối ruộng đất cho dân tuỳ theo thứ bậc trong
xã hội.
Sự suy tàn của Nhà nước phong kiến ở phương Tây (thế kỷ XV) gắn liền
với sự hình thành Nhà nước tư sản, quá trình tích luỹ tư bản được bắt đầu thực
hiện - nền kinh tế thị trường cũng bắt đầu được hình thành. Trong thời kỳ này để
cho nền kinh tế phát triển nhanh giai cấp tư sản cần phải có sự trợ giúp của "bà
đỡ" tức là cần có sự giúp đỡ của Nhà nước. Chính vì vậy vai trò quản lý của Nhà
nước được xác lập và nâng cao. điều này được thể hiện trong tư tưởng kinh tế của
thành các tổ chức độc quyền làm giảm hiệu quả phát triển và một vấn đề mà các
nhà kinh tế học cổ điển không nghĩ tới đó là khủng hoảng kinh tế. Liên tiếp trong
các năm cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX khủng hoảng kinh tế liên tiếp xảy ra
theo chu kỳ và các chu kỳ ngày càng rút ngắn mà đỉnh cao là cuộc khủng hoảng
kinh tế thế giới 1929 - 1933. Thuyết "bàn tay vô hình" không còn đủ sức đảm bảo
cho nền kinh tế phát triển ổn định và cân bằng nữa, thực tiễn đòi hỏi phải có mọt
lý thuyết kinh tế mới phù hợp hơn. Và vào thời điểm này, J.M Keynes (1884 -
1946) đã đưa ra lý thuyết Nhà nước điều biết nền kinh tế thị trường với một
thuyết có tên gọi "bàn tay hữu hình". Theo lý thuyết Keynes Nhà nước can thiệp
vào nền kinh tế ở cả tầm vĩ mô và vi mô. ở tầm vĩ mô Nhà nước sử dụng các công
cụ như lãi suất, chính sách tín dụng điều tiết lưu thông tiền tệ, lạm pháp, thuế,
bảo hiểm , trợ cấp đầu tư phát triển ở tẩm vĩ mô, Nhà nước trực tiếp phát triển
các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh và dịch vụ công cộng. J.M Keynes và
những người ủng hộ lý thuyết của ông tin tưởng rằng sự can thiệp như vậy của
Nhà nước vào nền kinh tế sẽ khắc phục được tình trạng khủng hoảng, thất nghiệp,
tạo ra sự ổn định cho phát triển kinh tế xã hội. Nhưng thực tế những chấn động trong kinh tế xã hội vẫn diễn ra, thất
nghiệp, lạm pháp, khủng hoảng không được cải thiện. Điều này đã làm tăng thêm
làn sóng phản đốn Keynes và xuất hiện tư tưởng phải phối hợp "bàn tay vô hình"
với "bàn tay hữu hình"để điều chỉnh nền kinh tế. Đó cũng là quan điểm của các
nhà kinh tế học hiện đại P.Samuelson cho rằng "để phát triển kinh tế chúng ta
phải sử dụng cả "bàn tay vô hình" và "bàn tay hữu hình". Nếu chúng ta chỉ sử
dụng một "bàn tay vôn hình" hoặc "bàn tay hữu hình" thì chẳng khác nào người
ta vổ tay chỉ bằng một bàn tay. Theo quan điểm của các nhà kinh tế học hiện đại
thì Nhà nước không phải là cái gì đó đứng ngoài nền kinh tế mà nó cũng là một
trong những chủ thể của nền kinh tế, điều này được thể hiện trong sơ đồ sau:
H
ộ gia
đình Từ khi Nhà nước xuất hiện thì vấn đề Nhà nước và kinh tế là hai mặt không
thể tách rời nhau. Nhà nước tồn tại trên nền tảng lợi ích kinh tế và ngược lại Nhà
nước tác động lại nền kinh tế thông qua các chính sách, biện pháp, công cụ khác
nhau nhằm duy trì một nền kinh tế vững mạnh để thông qua đó duy trì sự tồn tại
của chính cái Nhà nước đang tồn tại trên cơ sở nền kinh tế ấy. Trong suốt lịch sử
phát triển của Nhà nước tuy rằng mức độ can thiệp của Nhà nước có mức độ
khác nhau nhưng một điều tất yếu là Nhà nước phải can thiệp vào nền kinh tế.
Cũng chính vì vậy một trong những chức năng quan trọng của Nhà nước là chức
năng kinh tế, nếu làm tốt chức năng này thì những chức năng còn lại mới có cơ
sở để hoàn thành được.
2. Đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa ở Việt Nam.
2.1. Đặc điểm của nền kinh tế nước ta trước đổi mới.
Nước nhà hoàn toàn độc lập (1975), nhân dân ta bắt tay vào xây dựng
nhiệm vụ chiến lược thứ hai mà ngay từ khi Đảng cộng sản Việt Nam được thành
lập chúng ta đã đề ra là xây dựng nước ta trở thành một nước xã hội bỏ qua giai
đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa. Đây là điều mà đã được những nhà kinh điển
chủ nghĩa Mác dự đoán và nâng nó thành lý luận, muốn làm được điều này
chúng ta phải xây dựng được một nền kinh tế quá độ với nhiệm tạo cơ sở vật chất
kỹ thuật cần thiết cho chủ nghĩa xã hội. ở thời kỳ này ta áp dụng một cách triệt để
mô hình kinh tế của các nước xã hội chủ nghĩa - mô hình tập trung, bao cấp. Ta
có thể khái quát đặc điểm của nền kinh tế nước ta thời kỳ đó là: Một nền kinh tế
kế hoạch hoá cao độ, Nhà nước can thiệp rất sâu vào mọi lĩnh vực của nền kinh
tế, của quá trình sản xuất từ khâu sản xuất tới khâu phân phối sản phẩm thông
quốc lần thứ VII đã khẳng định các thành phần kinh tế đang tồn tại khách quan
tương ứng với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, trong giai đoạn này
nền kinh tế bao gồm 5 thành phần, quốc doanh, tập thể, cá thể, tư nhân tư bản
chủ nghĩa và tư bản Nhà nước. Nền kinh tế nhiều tthành phần trong cơ chế thị
trường ở nước ta sẽ là nguồn lực tổng hợp để đưa nền kinh tế nước ta vượt ra
khỏi tình trạng thấp kém đưa nền kinh tế hàng hoá phát triển. Nền kinh tế phát triển theo hướng mở rộng quan hệ kinh tế với nước ngoài
bằng nhiều hình thức. Một nền kinh tế khép kín gắn liền với phương thức sản
xuất phong kiến, một nền kinh tế nhỏ, lẻ, tự cung tự cấp , nói chung đó là một
nền kinh tế kém phát triển, bảo thủ, trì trệ. Sự ra đời của kinh tế hàng hoá đã phá
vỡ các quan hệ kinh tế truyền thống của nền kinh tế truyền thống, làm cho thị
trường dân tộc gắn với thị trường quốc tế, các quốc gia muốn sản xuất có hiệu
quả phải dựa trên lợi thế so sánh của mình đối với các quốc gia khác. Trên thực
tế việc ra đời kinh tế hàng hoá đã làm cho các quốc gia phát triển nhanh chóng.
Do vậy, việc mở rộng quan hệ kinh tế với nước ngoài là một tất yếu đối với quá
trình phát triển ở ta. Chúng ta mở rộng quan hệ kinh tế với nước ngoài bằng
nhiều hình thức khác nhau như liên doanh liên kết để thu hút vốn đầu tư, dựa vào
sức mạnh của các nước tranh thủ nắm bắt lợi thế so sánh tương đối để làm cho
những sản phẩm này có khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới, đưa nền
kinh tế nước ta nhanh chóng hội nhập với kinh tế khu vực và kinh tế thế giới.
Nền kinh tế phát triển theo định hướng xã hội thông qua bản chất và vai trò
quản lý của Nhà nước. Thể chế đã chứng minh rằng kinh tế thị trường thuần tuý
không thể nào giải quyết được những vấn đề do chính bản thân nó đặt ra cho xã
hội như tình trạng lạm phát, thất nghiệp, khủng hoảng, ô nhiễm môi trường và
những vấn đề xã hội khác. Những vấn đề này sẽ làm cản trở sự phát triển của xã
hội, nó không thể tạo cơ sở vững chắc cho sự phát triển bền vững. Hơn nữa cái
đích mà chúng ta đang hướng tới là một xã hội trong đó những vấn đề xã hội rất
được coi trọng mà những vấn đề xã hội chỉ có thể được giải quyết nhờ vào sự can
trường không phải là thị trường tự phát mà là thị trường phục vụ các mục tiêu của
toàn xã hội. Do vậy các quan hệ thị trường hoạt động không hoàn toàn biệt lập
với kế hoạch định hướng và với các chính sách kinh tế của Nhà nước.
Mọi yếu tố sản xuất (vật tư, vật liệu, nguyên liệu, nhân lực, công nghệ, sản
phẩm ) phải dựa vào thị trường vì chỉ có dựa vào thị trường thì các ngành sản
xuất mới tích cực nghiên cứu, cải tiến, làm tăng năng suất lao động, hạ giá thành
sản phẩm giúp cho nền kinh tế vận hành một cách hiệu quả hơn.
Một nền kinh tế lấy con người làm trung tâm. Trong một nền kinh tế hiện
đại cái mà chúng ta cần là những con người với những trình độ khác nahu nhưng họ có thể phát huy năng lực, sự sáng tạo của mình trong vị trí của họ, muốn vậy
chúng ta phải đặt cá nhân vào đúng vị trí của nó. Hơn nữa đặc trưng xã hội cũng
như vai trò xã hội to lớn của Nhà nước xã hội chủ nghĩa trở thành đặc điểm nổi
bật củathế chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Cho nên mô hình
kinh tế mà chúng ta xây dựng là mô hình kinh tế lấy con người làm trung tâm.
3. Các mục tiêu và chức năng quản lý vĩ mô của Nhà nước.
ở phần trên chúng ta đã trình bày về đặc điểm của nền kinh tế thị trường có
sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa với một cơ chế kinh
tế giúp cho nền kinh tế này hoạt động. Vậy trong nền kinh tế như vậy Nhà nước
phải làm gì hay vai trò của Nhà nước như thế nào. Điều này thể hiện qua mục
tiêu và vai trò quản lý vĩ mô của Nhà nước.
3.1. Mục tiêu.
Đảm bảo cho nền kinh tế phát triển ổn định tránh những thăng trầm, những
đột biến xấu là mục tiêu đầu tiên và quan trọng mà bất cứ Chính phủ nào cũng
phải tính đến. Một nền kinh tế ổn định, là một nền kinh tế với những bước phát
triển vững chắc, khoảng chênh lệch giữa đỉnh và đáy trong chu kỳ phát triển
không lớn. Một nền kinh tế phát triển ổn định giúp cho người lao động có thể
phát huy hết năng lực lao động của mình, những nhà đầu tư có thể tính toán được
lợi tức của mình, sẽ yên tâm đầu tư từ đó sẽ thu hút được nhiều dự án đầu tư hơn.
hoạt động trong một quốc gia nào đó sẽ phải tuân thủ luật pháp của nước đó. Do
đó một hành lang pháp lý thông thoáng sẽ giúp cho các doanh nghiệp hoạt động
hiệu quả hơn và ngược lại một hệ thống pháp luật không đẩy đủ và đồng bọ sẽ
hạn chế sự hoạt động của các doanh nghiệp.
Chức năng ổn định môi trường kinh tế vĩ mô như khống chế lạm phát, thực
hiện các biện pháp chống khủng hoảng, ngăn ngừa những đột biến xuất của nền
kinh tế. Lạm phát luôn tồn tại trong các nước có nền kinh tế thị trường, nó chỉ trở
nên nguy hiểm khi lạm phát ở mức mà Chính phủ không dự tính và kiểm soát
được và điều này hay xảy ra đối với các nước đang phát triển. Nếu để lạm phát
ngoài tầm kiểm soát các doanh nghiệp sẽ không hạch toán được kết quả sản xuất kinh doanh, các nhà đầu tư không tiếp tục đầu tư, đời sống xã hội bị đảo lộn, nạn
đầu cơ hoành hành và nó dễ dẫn tới những khủng hoảng kinh tế. Vẫn biết khủng
hoảng là căn bệnh cố hữu của kinh tế thị trường nhưng chúng ta cần sớm dự báo
để có nhữn chuẩn bị cần thiết, giảm tối đa sự tác động của khủng hoảng.
Xây dựng cơ sở hạ tầng, đảm bảo điều kiện cơ bản cho hoạt động kinh tế
cơ sở hạ tầng như điện, nước, giao thông vận tải, nhà cửa, kho tàng, bến bãi là
những yếu tố cơ bản để phát triển kinh tế. Để phát triển kinh tế và thu hút đầu tư
từ nước ngoài chúng ta phải tích cực đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, cơ sở hạ
tầng phải đi trước một bước.
Kiểm soát việc sử dụng tài sản quốc gia. Một quốc gia dù có giàu tài
nguyên đến đâu thì cũng không đủ cho toàn bộ nền kinh tế kể cả về số lượng và
chủng loại. Do đó Nhà nước phải có chính sách kiểm soát việc sử dụng tài sản
quốc gia hợp lý, tính lãng phí để tạo hiệu quả cao và có nguồn tích luỹ cho thế hệ
mai sau.
Vạch ra và thực hiện chính sách xã hội: phát triển kinh tế không thể xa rời
với việc phát triển xã hội. Nhà nước phải có những chính sách xã hội phù hợp
trong từng thời kỳ, từng địa phương để tạo động lực và cơ sở cho phát triển kinh
tế.
cũng cần có chính sách quản lý về giá cả, sản phẩm và trong tương lai chúng ta
cũng phải xoá bỏ dần vị trí độc quyền bằng cách tạo ra cơ chế cạnh tranh trong
nội bộ các Công ty trong lĩnh vực độc quyền.
Đối với giá cả ngoài thị trường ngoài việc để cho qui luật cung cầu tự điều
tiết, Nhà nước cần có chính sách giá cả hợp lý như qui định giá trần, sàn đối với
một số mặt hàng để tránh cho người tiêu dùng cũng như người sản xuất tránh bị
thiệt thòi và những đột biến xấu trong xã hội. Đồng thời phải chuẩn bị những
bước đi cần thiết để hình thành đầy đủ các thị trường cần thiết cho việc thương
mại hoá nền kinh tế như thị trường vốn, thị trường lao động, thị trường chứng
khoán và sớm đưa các thị trường này voà hoạt động để tăng cường khả năng cạnh
tranh của nền kinh tế thông qua chính sách mở cửa. + Tiếp tục đa dạng hoá chế độ sở hữu theo hướng phát triển doanh nghiệp
tư nhân, đổi mới phương thức hoạt động của các doanh nghiệp Nhà nước cho phù
hợp với cơ chế thị trường.
Chế độ sở hữu là vấn đề quan trọng nhất của một chế độ kinh tế xã hội.
Trong thời kỳ quá độ Đảng ta xác định nước ta có năm hình thức sở hữu là sở
hữu Nhà nước, sở hữu tập thể sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa, sở hữu tư bản
Nhà nước và sở hữu cá thể tương ứng với nó là 5 thành phần kinh tế. Trong mỗi
thành phần kinh tế Nhà nước cần có sự quản lý và định hướng đúng đắn. Đối với
thành phần kinh tế Nhà nước chúng ta chỉ giữ lại các doanh nghiệp làm ăn thực
sự có hiệu quả để làm nên sức mạnh kinh tế của thành phần này và những doanh
nghiệp có vị trí đặc biệt quan trọng đối với kinh tế, an ninh còn lại chúng ta sẽ
tiến hành cổ phần hoá các doanh nghiệp hoặc cho giải thể nếu thấy cần thiết, để
cho kinh tế Nhà nước có thể dẫn dắt và thúc đẩy các thành phần kinh tế khác phát
triển đạt mục tiêu. Kinh tế tư bản Nhà nước cần tăng cường phát triển thông qua
các hình thức liên doanh, liên kết, xây dựng khu chế xuất, khu công nghiệp tập
trung nhằm tranh thủ sự tiến bộ về công nghệ sản xuất, về trình độ quản lý đồng
thời tạo tích luỹ cho nền kinh tế.
tiêu đó. Để làm được điều này chúng ta phải có sự thay đổi lớn mà trước hết là
phải thay đổi về tư duy, cách nghĩ của những người lập kế hoạch tránh hiện
tượng chủ quan chung ý chí đặt mục tiêu vượt quá khả năng của đất nước hay kế
hoạch quá chi tiết nhưng lại không mang hiệu quả.
+ Đối với hệ thống thông tin kinh tế- thông tin quản lý theo yêu cầu của cơ
chế thị trường.
Khi nền kinh tế nước ta chuyển sang cơ chế thị trường có sự điều tiết thì hệ
thống thông tin kinh tế - quản lý cũng phải thay đổi theo. Trước kia những thông
tin chủ yếu mang tính mệnh lệnh hành chính tức là thông tin một chiều, những
thông tin từ dưới lên hoặc là không chính xác hoặc là không có như vậy những
thông tin kinh tế - quản lý đều không xuất phát từ thị trường. Điều này dẫn đến
tình trạng những người quản lý thực sự không biết thị trường đang hoạt động như
thế nào. Khắc phục điều này chúng ta phải đổi mới hệ thống thông tin sao cho những thông tin phải được bắt nguồn từ những tín hiệu của thị trường, các kênh
thông tin xuôi và ngược được thông suốt.
+ Đối với cách thức sử dụng các chính sách kinh tế theo yêu cầu của kinh tế
thị trường, tạo ra một cơ chế phù hợp với chính sách ổn định kinh tế vĩ mô.
Nhà nước phải phân loại, hệ thống hoá các chính sách kinh tế thành các
nhóm để xử lý theo tình huống, các chính sách kinh tế nay có liên quan với nhau
theo nguyên tắc dây chuyền để khi dùng mọt chính sách có thể giúp các chính
sách khác tác động vào nền kinh tế theo hướng có lợi. Các chính sách mà Nhà
nước sử dụng ở đây là các chính sách vĩ mô- tức nó có tác động tới toàn bộ nền
kinh tế phù hợp với yêu cầu đặt ra cảu thị trường nhằm mục đích ổn định nền
kinh tế.
+ Đổi mới hoạt động pháp chế kinh tế theo hướng dẫn chủ hoá nền kinh tế.
Trong giai đoạn hiện nay chúng ta phải tạp lập một hệ thống pháp luật trong
đó cơ chế pháp lý phải phản ánh sự đa dạng của các chủ thể kinh doanh, bảo vệ
lợi ích của người kinh doanh nhưng lại phải giữ được ổn định và công bằng xã
mức lạm phát thấp (một con số).
Để duy trì một mức lạm phát có thể kiểm soát được chúng ta phải có sự
phối hợp đồng bộ giữa các ngành, lĩnh vực, các chính sách như: Điều chỉnh cơ
cấu sản xuất và cơ cấu tiêu dùng, giảm thâm hụt ngân sách sửa đổi hệ thống ngân
hàng, chấn chỉnh hệ thống tài chính, giá cả, xuất nhập khẩu, hạn chế việc in tiền,
tạo sự thông thoáng trong lưu thong hàng hoá Đồng thời chúng ta cũng phải có
những biện pháp chống thiểu phát. Vấn đề mà đã có một số dấu hiệu trong một số
ngành, mặt hàng năm 1999.
+ Đổi mới chế độ tiền lương.
Lương là khoản tiền trả cho người lao động vì sự cống hiến họ. Chế độ
lương của ta đã có những thay đổi nhưng còn có nhiều bất cập như lương cố định
thấp làm cho người lao động không thực sự gắn bó với công việc. Trong giai
đoạn tới chúng ta phải cải cách chế độ lương theo hướng lương trả theo mức độ
thực hiện công việc để cho tiền lương thực sự là đòn bẩy kích thích năng lực, sự
sáng tạo của người lao động. + Tăng cường phối hợp các công cụ quản lý vĩ mô.
Xét ở tầm quốc tế thì sản xuất trong quốc gia là một hệ thống giống như ở
một doanh nghiệp. Sức mạnh của quản lý Nhà nước chính là ở phương hướng
hoạt động đúng đắn và nghệ thuật phối hợp các hoạt động toàn xã hội do vậy các
công cụ quản lý vĩ mô cần được phối hợp với nhau chặt chẽ hơn. Phần III
Kết luận
Trang
Phần I- Giới thiệu chung 2
Phần II- Nội dung 5
1. Nhà nước và chức năng kinh tế của Nhà nước 5
1.1. Nhà nước 5
1.2. Chức năng của Nhà nước 6
1.3. Những quan điểm và học thuyết bàn về chức năng kinh tế của Nhà
nước 6
1.4. Kết luận 10
2. Đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở
Việt Nam 11
2.1. Đặc điểm của nền kinh tế nước ta bước đổi mới 11
2.2. Đặc điểm của nền kinh tế hàng hoá vận động theo cơ chế
thị trường có sự quản lý của Nhà nước 12
2.3. Những đặc trưng của cơ chế kinh tế chúng ta đang hướng tới 13
3. Các mục tiêu và chức năng quản lý vĩ mô của Nhà nước 15
3.1. Mục tiêu 15
3.2. Chức năng quản lý vĩ mô 16
4. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả vai trò quản lý
kinh tế của Nhà nước 17
Phần III- Kết luận 23