z
LUẬN VĂN:
Giải pháp mở rộng cho vay đối với DNNVV
tại Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển
nông thôn Thành phố Vinh-Tỉnh Nghệ an
công nghệ là vấn đề rất bức xúc cần phải được giải quyết.
Trong giai đoạn hiện nay phần lớn các DNNVV phải huy động vốn qua kênh tín
dụng ngân hàng vì những đặc điểm của loại hình doanh nghiệp này chi phối. Tuy
nhiên, việc tiếp cận vốn tại các Ngân hàng Thương mại (NHTM) của các DNNVV
đang gặp rất nhiều khúc mắc bởi một phần do cơ chế cho vay một phần do quan niệm
của ngân hàng cho vay đối với loại doanh nghiệp này chứa đựng rủi ro cao hơn các
khách hàng khác. Thêm vào đó, nhà nước lại chưa có chính sách cụ thể để hỗ trợ
DNNVV vay vốn tại các NHTM. Và trên thực tế các DNNVV phải huy động vốn
không chính thức, không ổn định, lãi suất cao Để phát huy tốt vai trò là “bà đỡ”
trong nền kinh tế các NHTM hiện nay nên tìm ra giải pháp mềm dẻo để hỗ trợ và thu
hút đối tượng khách hàng này.
Nhằm góp phần hạn chế được điều này chính là lý do em chọn đề tài:
“ Giải pháp mở rộng cho vay đối với DNNVV tại Ngân hàng Nông nghiệp &
Phát triển nông thôn Thành phố Vinh-Tỉnh Nghệ an
Kết cấu của chuyên đề
Ngoài phần mở đầu và kết luận, chuyên đề bao gồm 3 chương
Chương I: Tín dụng ngân hàng đối với DNNVV.
Chương II: Thực trạng về hoạt động cho vay đối với các DNNVV tại
NHNo&PTNT Thành phố Vinh-Tỉnh Nghệ an.
Chương III: Giải pháp mở rộng cho vay đối với các DNNVV ở NHNo&PTNT
Thành phố Vinh.
Chương 1
Inđônêxia < 100 < 0,6 tỷ ru-pi < 2 tỷ
ru - pi
Nhật < 50 trong bán lẻ
< 100 trong bán buôn
< 300 trong ngành khác
< 10 triệu yên
< 30 triệu yên
< 100 triệu yên
Mêxicô < 250 < 7 triệu USD
Philippin < 200 < 100 triệu pê - sô
Xingapo < 100 < 499 triệu SD
Myanma < 100
Thái lan < 100 < 20 triệu Bạt
Mỹ < 500
Hàn quốc < 300 trong chế biến
< 200 trong xây dựng
< 20 trong dịch vụ
ở nước ta, tiêu chí phân loại DNNVV đã được quy định tạm thời tại công văn số
681/ CP - KTN ngày 20/6/1998 của Thủ tướng chính phủ. Theo quy định tại công
văn này, tiêu chí xác định DNNVV là vốn và số lao động. Cụ thể DNNVV là doanh
nghiệp có vốn điều lệ dưới 5 tỷ đồng và số lao động trung bình hàng năm dưới 200
người. Nhưng theo quy định tại Nghị định 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001 Định
nghĩa DNNVV như sau:
DNNVV là cơ sỡ sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng kí kinh doanh theo
pháp luật hiện hành, có vốn đăng kí kinh doanh không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao
số vốn đăng ký ban đầu không quá 10 tỷ đồng và chu kỳ sản xuất kinh doanh thường
là ngắn nên khả năng thu hồi vốn của DNNVV là rất nhanh.
Từ những đặc điểm trên ta thấy DNNVV có những lợi thế và bất lợi như sau:
Các DNNVV có những lợi thế sau:
+ Chúng gắn liền với các công nghệ trung gian là cầu nối giữa công nghệ truyền
thống và công nghệ hiện đại.
+ Quy mô nhỏ có tính năng động, linh hoạt tự do sáng tạo trong kinh doanh.
+ Các DNNVV dễ dàng và nhanh chóng đổi mới công nghệ, thích ứng với cuộc
cách mạng khoa học, công nghệ hiện đại
+ DNNVV chỉ cần vốn đầu tư ban đầu ít, hiệu quả cao thu hồi vốn nhanh.
+ DNNVV có tỷ suất vốn đầu tư trên lao động lớn hơn nhiều so với doanh
nghiệp lớn cho nên chúng có hiệu suất tạo việc làm cao hơn.
+ Hệ thống tổ chức sản xuất và quản lý ở các DNNVV gọn nhẹ linh hoạt, công
tác điều hành mang tính trực tiếp
+ Quan hệ giữa những người lao động và người quản lý ( quan hệ chủ - thợ )
trong các DNNVV khá chặt chẽ.
+ Sự đình trệ thua lỗ, phá sản của các DNNVV có ảnh hưởng rất ít hoặc không
gây nên khủng hoảng kinh tế - xã hội. Đồng thời ít chịu ảnh hưởng bởi các cuộc
khủng hoảng kinh tế dây chuyền.
Bên cạnh những lợi thế quan trọng DNNVV có những bất lợi sau:
+ Nguồn vốn tài chính hạn chế
+ Cơ sở vật chất kỹ thuật, trình độ thiết bị công nghệ thường yếu kém, lạc hâu.
+ Khả năng tiếp cận thông tin và tiếp cận thị của các DNNVV bị hạn chế rất
nhiều.
+ Trình độ quản lý của các DNNVV còn bị hạn chế
+ Các DNNVV có năng suất lao động và sức cạnh tranh thấp hơn nhiều so với
doanh nghiệp lớn.
Các DNNVV đóng vai trò quan trọng trong lưu thông hàng hoá và cung cấp dịch
vụ, có vai trò bổ sung cho các doanh nghiệp lớn, là xí nghiệp gia công vệ tinh cho các
doanh nghiệp lớn cùng hệ thống và là màng lưới tiêu thụ hàng hoá cho các doanh
nghiệp lớn.
Các DNNVV đáp ứng tích cực, kịp thời nhu cầu tiêu dùng ngày càng phong phú
và đa dạng mà các doanh nghiệp lớn không thể làm được.
Các DNNVV có vai trò tích cực đối với sự phát triển kinh tế địa phương, khai
thác tiềm năng thế mạnh của từng vùng sản xuất, chế biến hàng hoá xuất khẩu, tăng
kim ngạch xuất khẩu
Để thấy rõ vai trò của DNNVV trong nền kinh tế thị trường ta xem xét các mặt
sau:
Đóng góp to lớn vào quá trình tăng trưởng của nền kinh tế.
Chúng đóng góp phần quan trọng vào sự gia tăng thu nhập quốc dân của các
nước tiên tiến trên thế giới, bình quân chiếm khoảng trên dưới 50% GDP ở mỗi nước.
ở Việt nam theo đánh giá của Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương thì hiện
nay khu vực DNNVV cả nước chiếm khoảng 24% GDP.
Tạo việc làm cho người lao động
Tác động kinh tế-xã hội lớn nhất của các DNNVV là giải quyết một số lượng
lớn chỗ làm việc cho dân cư, làm tăng thu nhập cho người lao động, góp phần xoá
đói giảm nghèo. Xét theo luận điểm tạo công ăn việc làm và thu nhập cho nguời lao
động thì khu vực này vượt trội hơn hẳn các khu vực khác, góp phần giải quyết những
vấn đề xã hội bức xúc. ở hầu hết các nước DNNVV tạo việc làm cho khoảng 50 -
80% lao động trong các ngành công nghiệp và dịch vụ. Đặc biệt trong nhiều thời kỳ
các doanh nghiệp lớn sa thải công nhân thì DNNVV lại thu hút thêm nhiều lao động
hoặc có tốc độ thu hút lao động mới cao hơn khu vực doanh nghiệp lớn. ở Việt nam
cũng theo đánh giá của Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương thì số lao động
của các DNNVV trong các lĩnh vực phi nông nghiệp hiện có khoảng 7,8 triệu người
thổ cả nông thôn, thành thị, miền núi và đồng bằng giãn sức ép dân số của các thành
phố. Các DNNVV còn đóng vai trò quan trọng trong việc làm thay đổi và đa dạng
hoá cơ cấu công nghiệp tập trung thực hiện phương châm “ Ly nông bất ly hương ”.
Đảng ta chủ trương thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá mà trọng tâm là
công nghiệp hoá nông nghiệp và kinh tế nông thôn. DNNVV mạng lưới rộng khắp đã
có truyền thống gắn bó với nông nghiệp và kinh tế - xã hội nông thôn sẽ là động lực
thúc dẩy sản xuất nông nghiệp, sẽ hình thành những tụ điểm, cụm công nghiệp để tác
động chuyên môn hoá nông nghiệp theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá. Hệ
thống công nghiệp chế biến và sản xuất đồ gia dụng sẽ phát triển. Các làng nghề sẽ
được hiện đại hoá.
Các DNNVV là nơi ươm mầm các tài năng kinh doanh là nơi đào tạo rèn
luyện các nhà doanh nghiệp.
Kinh doanh quy mô nhỏ, làm quen với môi trường kinh doanh. Bắt đầu từ kinh
doanh quy mô nhỏ và thông qua điều hành quản lý kinh doanh quy mô vừa và nhỏ
một số doanh nghiệp sẽ trưởng thành lên hình thành những nhà doanh nghiệp lớn tài
ba, biết đưa doanh nghiệp của mình nhanh chóng phát triển. Các tài năng kinh doanh
sẽ được ươm mầm từ trong các DNNVV.
Như vậy không còn nghi ngờ gì nữa tiềm năng và lợi thế của DNNVV là vô tận.
Khi chúng ta đã thấy rõ vị trí chiến lược của nó cần có chính sách hỗ trợ mang tính
thực tế từ quan điểm chiến lược, chính sách đến bộ máy vận hành, kinh nghiệm thế
giới và khu vực với những bài học quí mà chúng ta có thể chọn lựa.
1.2 Tín dụng Ngân hàng đối với DNNVV
1.2.1 Tầm quan trọng của vốn vay ngân hàng đối với DNNVV
Phần lớn các DNNVV khi hoạt động kinh doanh đều thiếu vốn và phải dựa vào
ngân hàng. Vai trò của vốn ngân hàng đối với DNNVV được thể hiện trên các mặt
sau:
Tín dụng ngân hàng là đòn bẩy kinh tế hỗ trợ sự ra đời và phát triển các
xuyên, mục đích sử dụng vốn rõ ràng và có tín nhiệm. Ngân hàng căn cứ vào nhu cầu
vay vốn theo hạn mức của doanh nghiệp, trị giá tài sản càm cố, thế chấp cùng doanh
nghiệp xác định hạn mức tín dụng.sau khi kí hợp đồng tín dụng - đã có hiệu lực mỗi
lần rút tiền vay doanh nghiệp không phải kí hợp đồng tín dụng mà lập giấy nhận nợ
cùng bảng kê và bản sao các chứng từ chứng minh việc sử dụng vốn vay. Trong thời
hạn rút vốn của hợp đồng tín dụng, doanh nghiệp có thể vừa rút vốn vay vừa trả nợ
tiền vay nhưng số dư nợ tiền vay trên tài khoản không được vượt hạn mức tín dụng.
Để đảm bảo quá trình sản xuất kinh doanh được ổn định, trước khi hết thời hạn rút
vốn theo hợp đồng tín dụng doanh nghiệp có thể căn cứ vào kế hoạch kinh doanh kì
tới đưa ra mức vốn cần vay và cùng thoả thuận với ngân hàng để xác định hạn mức
tín dụng mới.
Hình thức cho vay này doanh nghiệp phải gửi các báo cáo tài chính theo định
kỳ để cán bộ tín dụng ngân hàng thực hện việc kiểm tra đảm bảo nợ vay bằng
phương pháp tính toán cân đối.
1.2.2.3 Cho vay theo dự án đầu tư:
Ngân hàng cho các doanh nghiệp vay vốn để thực hiện các dự án đầu tư phát
triển sản xuất, cơ sở hạ tầng, kinh doanh, dự án và các dự án phục vụ đời sống. Hình
thức cho vay này, ngoài các điều kiện trên doanh nghiệp cần có thêm các điều kiện
sau:
- Gửi các tài liệu liên quan đến dự án đầu tư
- Gửi các tài liệu, báo cáo định kỳ hoặc đột xuất cho ngân hàng kiểm tra giám
sát việc sử dụng vốn vay.
1.2.2.4 Cho vay trả góp:
Là loại hình thức cho vay mà việc trả nợ được phân ra làm nhiều kỳ hạn trong
thời hạn cho vay, đến mỗi kỳ trả một phần nợ gốc và lãi. Loại tín dụng này rất phù
hợp với đặc điểm sử dụng vốn của người vay là thu hồi vốn dần, lại vừa hỗ trợ cho
tiêu dùng hàng hoá vì được sử dụng và trả tiền sau.
dụng, chiết khấu, cho vay theo hạn mức thấu chi…
Trong tất cả hình thức cho vay trên thì ngân hàng thường áp dụng cho vay từng
lần vì nó đơn giản và hạn chế được rủi ro.
1.2.3 Các rủi ro và một số biện pháp phòng ngừa rủi ro khi cho vay
DNNVV ở các Ngân hàng thương mại
1.2.3.1 Các rủi ro khi cho vay vốn đối với DNNVV
Như trên đã nói DNNVV là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ mà lại tồn tại ở
nhiều loại hình. Vậy nên việc cho vay các DNNVV chắc chắn sẽ gặp rủi ro nhiều hơn
so với doanh nghiệp lớn có vốn tự có nhiều. Có thể nhận thấy một số rủi ro như:
Thứ nhất: Do đặc điểm của các DNNVV vốn ít trình độ công nghệ và năng lực
quản lý hạn chế nên các doanh nghiệp này gặp nhiều khó khăn trong sản xuất kinh
doanh. Từ đó, ảnh hưởng lớn tới khả năng trả nợ, có thể ngân hàng không thu được
hoặc khó thu hồi nợ đúng hạn.
Thứ hai: Hiện nay cơ chế tín dụng không ngăn cản việc cho vay DNNVV của
ngân hàng thương mại nhưng cũng chưa có chính sách thích hợp để khuyến khích sự
phát triển DNNVV. Mặt khác khả năng thẩm định của cán bộ tín dụng chưa quen với
việc thu thập và xử lý thông tin từ nguồn bổ sung của DNNVV. Nên nhiều khi quyết
định tín dụng cũng không chính xác dễ dẫn tới việc cho vay không có hiệu quả.
Thứ ba: Bên cạnh đó cơ sở vật chất kỹ thuật, trình độ thiết bị công nghệ của
DNNVV thường yếu kém lạc hậu nên ảnh hưởng đến tiến độ sản xuất kinh doanh,
đến năng lực của từng người lao động trong doanh nghiệp. Từ đó giảm năng suất của
doanh nghiệp và có thể chậm thời gian trả nợ cho Ngân hàng mà như thế thì Ngân
hàng khó thu hồi nợ đúng hạn. Đó cũng là rủi ro cho Ngân hàng.
Thứ tư: Ngoài ra do chưa thực sự quen với việc cho vay các DNNVV nên việc
thẩm định khách hàng, phân tích khách hàng kiểm tra điều kiện vay vốn nhiều khi
cán bộ tín dụng lại chưa chú trọng nhiều đến các yếu tố chi tiết có liên quan. Nên đôi
lúc việc kiểm tra đánh giá không chính xác dẫn đến quyết định tín dụng không đúng
đắn.
quyền địa phương, bạn hàng, quan hệ mua bán với doanh nghiệp khác trong đó đến
thăm trực tiếp nơi làm việc và sản xuất kinh doanh sau khi doanh nghiệp hoàn tất
việc đầu tư từ nguồn vốn vay tuy là công việc buồn tẻ và mất nhiều thời gian nhưng
nó giúp cho cán bộ tín dụng:
Một là: Biết được tinh thần trách nhiệm của chủ doanh nghiệp đối với nợ vay
Ngân hàng qua việc họ có lảng tránh gặp gỡ, có nhiệt tình trao đổi với cán bộ tín
dụng những vấn đề liên quan món vay, có sao nhãng việc trả nợ hay không?
Hai là: So sánh mức độ khác biệt giữa phương án xin vay với thực tế, chiều
hướng tốt hay xấu? Doanh số và quy mô hoạt động, doanh thu, lợi nhuận tăng hay
giảm? Hàng hoá có dễ tiêu thụ hay không? có phải hạ giá bán một cách không bình
thường không?
Ba là: Đánh giá khả năng thanh toán của doanh nghiệp như mức độ lưu chuyển
tiền mặt có đáp ứng cho hoạt động sản xuất kinh doanh và trả nợ đến hạn không? Nợ
phải thu nhiều hay ít, dễ hay khó thu, có quá phụ thuộc vào một con nợ hay không?
Bốn là: Đánh giá lại giá trị thực tế của tài sản đảm bảo nợ vay có đủ xử lý để thu
hồi nợ nếu trường hợp doanh nghiệp mất khả năng thanh toán không?
Năm là: Do đặc điểm hoạt động của DNNVV là phần lớn chủ doanh nghiệp
không tách bạch rõ ràng giữa ngân sách dùng cho sản xuất kinh doanh với ngân sách
chi tiêu cho gia đình. Do đó, cán bộ tín dụng cần khéo léo tìm hiểu xem chủ doanh
nghiệp có biết cách điều hành sản xuất kinh doanh và quản lý chi tiêu gia đình hợp lý
nhằm hạn chế sự phụ thuộc lẫn nhau giữa hai loại ngân sách này, tránh tình trạng
doanh nghiệp mất khả năng thanh toán.
Những thông tin trên đây phải được cán bộ tín dụng thường xuyên cập nhật
dưới dạng báo cáo hoặc biên bản làm việc kèm trong hồ sơ vay vốn. Nắm được tình
hình một cách chắc chắn với một ý thức trách nhiệm cao là chìa khoá tốt nhất giúp
cán bộ tín dụng quản lý chặt chẽ khoản vay từ đó hạn chế được rủi ro từ phía khách
hàng một cách cao nhất.
vừa đáp ứng xu hướng phát triển đi lên lẫn những biến đổi nhanh chóng của thị
trường trong điều kiện của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại, đảm bảo
tính hiệu quả chung của toàn bộ nền kinh tế.
Để công nghiệp hoá hiện đại hoá không thể không có các doanh nghiệp quy mô
lớn, vốn nhiều, kỹ thuật hiện đại làm nòng cốt trong từng ngành nhằm tạo ra sức
mạnh để có thể cạnh tranh thắng lợi trên thị trường quốc tế. Ngoài việc xây dựng các
doanh nghiệp lớn thật cần thiết, chúng ta còn phải thực hiện biện pháp tăng khả năng
tích tụ và tập trung của DNNVV, tạo điều kiện nhanh chóng vươn lên trở thành
doanh nghiệp lớn. Sự kết hợp các loại quy mô doanh nghiệp trong từng ngành cũng
như trong toàn nền kinh tế. Trong đó nhấn mạnh đến phát triển DNNVV là phù hợp
với xu thế chung và thích hợp với xuất phát điểm về kinh tế xã hội ở nước ta hiện
nay.
Tuy nhiên, hiện nay vốn để đầu tư thành lập doanh nghiệp cũng như để mở
rộng, phát triển sản xuất đang là một trong những khó khăn căn bản của các DNNVV
ở Việt Nam. Thực sự, các DNNVV ở Việt Nam đang có nhu cầu bức xúc về vốn để
thành lập và phát triển doanh nghiệp, lo lắng là làm sao vay được vốn vừa sức chi trả,
tìm được người tư vấn giúp họ có thể tìm được chỗ vay vốn thích hợp và có thể làm
để trả được vốn cả gốc lẫn lãi. Theo đánh giá của Bộ kế hoạch và đầu tư, mặc dù số
lượng DNNVV chiếm tới 91 - 97% trong tổng số doanh nghiệp của cả nước, song
tổng vốn cho sản xuất kinh doanh mới chỉ bằng 30% so với tổng vốn của các doanh
nghiệp trong cả nước. Điều này phản ánh mức độ thu hút vốn vào sản xuất kinh
doanh của các DNNVV còn thấp và hầu hết các DNNVV đều gặp khó khăn thiếu
vốn để sản xuất và mở rộng sản xuất.
Theo kết quả của các tổ chức quốc tế tại Hội nghị cấp cao lần thứ II ( tại Hà nội
ngày 21/11/2000 ): tình trạng thiếu vốn chiếm 20% - 40% tổng số DNNVV. Chủ đầu
tư ít vốn, thiếu vốn, nhưng lại rất khó vay vốn để đầu tư và phát triển kinh doanh.
Theo những số liệu gần đây của Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương thì đại
kinh tế, tăng trưởng kinh tế tạo việc làm và thu nhập cho người lao động, khai thác và
tận dụng có hiệu quả tiềm năng của vốn, tay nghề và những nguồn vốn còn tiềm ẩn
trong dân cư, góp phần phân bố công bố công nghiệp trên các địa bàn khác nhau.
Như vậy, DNNVV góp phần to lớn đến phát triển kinh tế ở nước ta mà lại cần vốn
còn các Ngân hàng thương mại lại có vốn. Vậy thì việc mở rộng tín dụng đối với các
DNNVV ở các Ngân hàng thương mại vào thời điểm này là rất cần thiết và phù hợp
với quy luật chung.
1.3.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc mở rộng cho vay đối với DNNVV ở
các Ngân hàng thương mại
Việc tìm ra các nhân tố ảnh hưởng tới việc mở rộng tín dụng đối với các
DNNVV là điều rất có ý nghĩa, để từ đó tìm ra các giải pháp nhằm tháo gỡ những
khó khăn để thực hiện mục tiêu chung của Ngân hàng thương mại là mở rộng quy mô
tín dụng an toàn và hiệu quả.
Có thể chia các nhân tố ảnh hưởng thành hai nhóm : Các nhân tố khách quan và
nhân tố chủ quan
1.3.2.1 Các nhân tố khách quan
Nhân tố kinh tế:
Như chúng ta đã biết nền kinh tế là một hệ thống bao gồm nhiều hoạt động kinh
tế có quan hệ biện chứng, ràng buộc lẫn nhau bất kỳ một sự biến động của hoạt động
kinh tế nào đó cũng sẽ gây ảnh hưởng đến việc sản xuất kinh doanh của các lĩnh vực
còn lại. Hơn nữa hoạt động của Ngân hàng thương mại chịu sự ảnh hướng rất nhiều
của biến động kinh tế. Đặc biệt là hoạt động tín dụng Ngân hàng là hoạt động nhạy
cảm nhất, do vậy sự biến động của nền kinh tế sẽ tác động mạnh mẽ tới hoạt động tín
dụng Ngân hàng đối với doanh nghiệp nói chung và DNNVV nói riêng.
Thật vậy, khi nền kinh tế ở tình trạng hưng thịnh, tốc độ tăng trưởng cao và ổn
định, môi trường kinh doanh ít biến động thì nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp tăng
lên, nhiều khi môi trường đầu tư hấp dẫn các doanh nghiệp làm ăn tốt thường có nhu
Và đó là cơ sở pháp lý để Ngân hàng giải quyết các khiếu nại, tố cáo khi có tranh
chấp xảy ra trong hoạt động tín dụng. Điều đó giúp cho hoạt động tín dụng có thể mở
rộng một cách hiệu quả.
1.3.2.2 Các nhân tố chủ quan
Việc mở rộng tín dụng đối với các DNNVV không chỉ chịu tác động bởi các
nhân tố bên ngoài mà còn chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi các nhân tố bên trong như:
Chính sách và thể lệ tín dụng, thông tin tín dụng, tình hình huy động vốn, công tác tổ
chức của ngân hàng và chính bản thân các DNNVV.
Thứ nhất về chính sách tín dụng :
Đó là các yếu tố giới hạn mức cho vay với khách hàng, kỳ hạn của khoản tín
dụng, lãi suất cho vay tất cả các yếu tố đó tác động trực tiếp tới việc mở rộng tín
dụng. Nếu như có một chính sách tín dụng linh hoạt đáp ứng được nhu cầu đa dạng
của khách hàng về vốn thì Ngân hàng đó sẽ thành công trong việc thực hiện mục tiêu
mở rộng tín dụng và đảm bảo được chất lượng tín dụng và ngược lại.
Trong cơ chế thị trường sự cạnh tranh gay gắt xảy ra giữa các Ngân hàng trong
việc thu hút khách hàng thì một chính sách tín dụng đúng đắn linh hoạt là hết sức
quan trọng.
Thứ hai về quy trình tín dụng:
Sự tôn trọng và kết hợp nhịp nhàng các bước trong quy trình sẽ tạo điều kiện
cho ngân hàng phát hiện kịp thời các khuyết điểm, nắm được diễn biến các khoản tín
dụng để có biện pháp điều chỉnh, can thiệp kịp thời, sớm ngăn ngừa hạn chế rủi ro có
thể xảy ra. Nhưng không phải nhất nhất một cách cứng nhắc theo từng công đoạn đó.
Phải linh hoạt trong từng trường hợp để bảo vệ lợi ích cho cả Ngân hàng, khách hàng
và xã hội. Điều đó sẽ gây cảm tình với khách hàng và ngày càng thu hút được nhiều
khách hàng.
Thứ ba về thông tin tín dụng:
Trong nền kinh tế thị trường, ai nắm bắt được nhiều thông tin chính xác, kịp
triển các DNNVV ngay từ giai đoạn đầu.
ở nước Đức
Khu vực DNNVV đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế nó tạo ra gần
50 % GDP, chiếm hơn hẳn doanh thu chịu thuế của doanh nghiệp, cung cấp các loại
hàng hoá và dịch vụ đáp ứng nhu cầu đa dạng của người tiêu dùng trong và ngoài
nước. Để đạt được điều đó Chính phủ Đức đã áp dụng hàng loạt chính sách và
chương trình thúc đẩy DNNVV.
Do phần lớn các DNNVV không đủ tài sản thế chấp để có thể nhận được khoản
tín dụng lớn bên cạnh các khoản tín dụng ưu đãi nên ở Đức còn phát triển khá phổ
biến các tổ chức bảo lãnh tín dụng. Những tổ chức này được thành lập bắt đầu hoạt
động từ những năm 90 với sự hợp tác chặt chẽ của các Phòng thương mại, Hiệp hội
doanh nghiệp, Ngân hàng và chính quyền liên bang. Nguyên tắc hoạt động cơ bản là
vì khách hàng. DNNVV nhận được khoản vay từ Ngân hàng với sự bảo lãnh của một
tổ chức bảo lãnh tín dụng. Với cơ chế và chính sách này các DNNVV ở Đức đã khắc
phục nhiều khó khăn trong huy động vốn đồng thời các Ngân hàng thì lại cho vay ra
được với sự đảm bảo chắc chắn.
Đối với Đài loan lại có sự khác biệt
Ngay trong giai đoạn đầu phát triển kinh tế Đài loan đã áp dụng nhiều biện pháp
chính sách khuyến khích phát triển DNNVV trong một số ngành sản xuất như: Nhựa,
dệt, kính, xi măng, gỗ. Hiện nay số lượng DNNVV ở Đài loan chiếm khoảng 96%
tổng số doanh nghiệp. Chúng tạo ra khoảng 40% sản lượng công nghiệp, hơn 50%
giá trị xuất khẩu và chiếm hơn 70% chỗ làm việc. Để đạt được thành tựu đó Đài loan
đã giành nhiều nỗ lực trong việc xây dựng và thực thi chính sách mở rộng tín dụng
cho các DNNVV. Cho đến nay, rất nhiều Ngân hàng quốc doanh và tư nhân ở Đài
loan đứng ra tài trợ cho các DNNVV.
Đồng thời nhận thức được sự khó khăn của các DNNVV việc thế chấp tài sản
vay vốn ngân hàng năm 1974, Đài loan đã thành lập Quỹ bảo lãnh tín dụng. Ngoài ra
tư thành lập toàn bộ hay một phần nhằm mở rộng cho vay đối với DNNVV.
Với những kinh nghiệm trên, mặc dù Đức, Đài loan, Malaysia, Nhật bản có sự
chênh lệc nhau về trình độ phát triển kinh tế, song Chính phủ các nước này đều dành
sự quan tâm đặc biệt trong chính sách mở rộng cho vay đối với các DNNVV. Thực tế
đã, chứng tỏ sự thành công của các chính sách này. Vì vậy, đây có thể là những bài
học kinh nghiệm hay mô hình chính sách mà Việt nam có thể tham khảo, vận dụng
để tìm ra những giải pháp thích hợp giúp các DNNVV phát triển hơn nữa, đặc biệt là
trong bối cảnh Việt nam đang tham gia thực hiện đầy đủ các cam kết của AFTA
trong vài năm tới.
1.4.2 Những bài học rút ra ở các nước đối với Việt Nam
Quy mô của nền kinh tế cũng như của các DNNVV Việt Nam còn bé nhỏ hơn
rất nhiều so với các nước trên. Hơn nữa ở Việt Nam lấy kinh tế Nhà nước làm vai trò
chủ đạo, các DNNN còn được hưởng đặc quyền so với các doanh nghiệp ngoài quốc
doanh mà chủ yếu là DNNVV. Do đó, khi thực hiện những chính sách hỗ trợ nói
chung cũng như chính sách hỗ trợ tài chính nói riêng đối với DNNVV chúng ta còn
phải thận trọng để vừa có hiệu quả, vừa tạo ra sự bình đẳng giữa các loại hình doanh
nghiệp. Có thể tổng kết một số nội dung sau:
Thứ nhất: Chính phủ cần khẩn trương xúc tiến thành lập cục phát triển DNNVV
để tạo điều kiện đưa ra các chương trình trợ giúp, điều phối, hướng dẫn và kiểm tra
tình hình trợ giúp các doanh nghiệp phát triển.
Thứ hai: Cần phải bảo đảm cho khu vực DNNVV ngoài quốc doanh thực sự
được bình đẳng với các doanh nghiệp quốc doanh khi vay vốn ngân hàng. Nhà nước
cần khuyến khích các Ngân hàng có ưu đãi nhất định cho các DNNVV vay vốn, hoặc
ít nhất cũng có sự bình đẳng về mặt thủ tục, thời gian vay, lượng vốn vay và lãi suất
vay giữa các DNNVV với các doanh nghiệp lớn, giữa các DNNN và doanh nghiệp
ngoài quốc doanh. Các Ngân hàng thương mại nên thành lập những kênh tài chính
riêng cho các DNNVV nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp này tiếp
cận với các hoạt động tín dụng của Ngân hàng.